Thứ Hai, 9 tháng 5, 2011

MADRID OPEN 2011: BẤT NGỜ Ở GIẢI NỮ

Ở giải nam, trận chung kết Madrid Open 2011 sẽ là trận đấu giữa hai tay vợt đứng đầu thế giới: Na-đan và Dô-cô-víc-nghĩa là không có bất ngờ lớn xảy ra. Còn ở giải nữ, Madrid Open 2011 là giải đấu có nhiều cú sốc nhất từ đầu năm đến nay, trong số 16 cây vợt được chọn làm hạt giống chỉ có 3 người lọt đến vòng tứ kết là Vích-to-ri-a A-da-ren-ca (Bê-la-rút)-hạt giống số 4, Li Na (Trung Quốc)-hạt giống số 6 và Pê-tra Vi-tô-va (Séc)-hạt giống số 16. Cuối cùng, trận chung kết giải năm nay cũng đã xướng danh hai tay vợt xuất sắc nhất là A-da-ren-ca và Vi-tô-va. A-da-ren-ca không phải là cái tên quá bất ngờ, song cái tên Vi-tô-va là một điều ngạc nhiên trong bối cảnh các tay vợt nữ mạnh nhất thế giới đều tham gia Madrid Open nhằm chuẩn bị cho giải Roland Garros. Với quá nhiều bất ngờ như giải đấu năm nay thì thứ tự hạt giống không còn nhiều ý nghĩa, dẫu vậy A-da-ren-ka vẫn được cho là nhiều khả năng giành chức vô địch Madrid Open 2011.

Trở lại với những cú sốc tại giải nữ, ngay từ vòng 1, 4/16 cây vợt nữ đẫ không qua khỏi vòng “gửi xe đạp”, bại binh đáng chú ý nhất là tay vợt Séc-bi A-na I-va-nô-vích và tay vợt Nga Cu-nét-sô-va. Vòng 2, tiếp tục có 4 cây vợt trở về nhà, nổi bật nhất là tay vợt Séc-bi Giê-lê-na Gian-cô-vích sau khi thất thủ 4-6, 6-4, 5-7 trước tay vợt vô danh người Séc L. Sa-pha-rô-va.

Vòng 3 mới thật sự tạo ra nhiều bất ngờ nhất với việc 5 tay vợt hạt giống bị loại, đáng nói ở điểm 3 hạt giống cao nhất là: Ca-rô-lai Vô-ni-ắc-ki, Vê-ra Vô-ra-nê-va, Phan-xét-ca Chi-a-vô-nê đã nói lời tạm biệt Madrid Open. “Địa chấn” được mở màn ngay ở trận đầu tiên vòng 3 khi tay vợt nữ số 3 thế giới Vô-ra-nê-va gác vợt trước đối thủ dưới cơ Pê-tra Vi-tô-va với tỷ số 0-2 (1-6, 4-6). Trong làng quần vợt Nga hiện tại, Vô-ra-nê-va là tay vợt nữ số một. Vô-ra-nê-va đã có những bước thăng tiến đáng ngạc nhiên trong vòng 1 năm qua khi hai lần lọt vào đến chung kết Grand Slam (Wimbledon và Mỹ mở rộng 2010). Ở Australia mở rộng diễn ra hồi đầu năm, cô cũng lọt vào tới bán kết, và chỉ chịu thua Kim Crai-xtơ, người sau đó bước lên ngôi vô địch. Ở giải Qatar Ladies Open hồi cuối tháng hai, Vô-ra-nê-va thậm chí còn quật ngã tay vợt số một thế giới Vô-ni-ắc-ki để bước lên ngôi vô địch. Thất bại này khiến Vô-ra-nê-va bỏ lỡ cơ hội trở lại ngôi thứ hai thế giới.

Song, bất ngờ lớn nhất diễn ra ở vòng ba giải Madrid Master 2011 khi tay vợt đang lên người Đức Giu-li-a Góc-gít đã đánh bại hạt giống số 1 và cũng là tay vợt số 1 thế giới, Vô-ni-ắc-ki. Trên sân đất nện tại Madrid, Góc-gít đã thắng Vô-ni-ắc-ki với tỷ số 6-4, 1-6, 6-3. Và đây là lần thứ hai trong vòng 11 ngày, Góc-gít đánh bại được Vô-ni-ắc-ki. Ngay lập tức, Góc-gít được đặt cho biệt danh mới “khắc tinh của Vô-ni-ắc-ki”. Còn nhớ trong trận chung kết giải Stuttgart Grand Prix cũng trên mặt sân đất nện cách đây một tuần, Góc-gít đã bất ngờ đánh bại Vô-ni-ắc-ki để đoạt chức vô địch. Với hai chiến thắng liên tiếp đầy thuyết phục trước tay vợt số 1 thế giới, tay vợt 22 tuổi người Đức Góc-gít đã có bước nhảy vọt trên bảng xếp hạng.

Đến vòng tứ kết, dường như mọi thứ lại quay trở về sự ổn định, cuộc phiêu lưu của Góc-gít đã dừng lại khi cô thất bại trước A-da-ren-ca 4-6 và 2-6. Pê-tra Vi-tô-va vẫn tiếp tục thăng hoa khi đánh bại Li Na nhanh chóng với tỷ số 6-3 và 6-1.

Diễn biến trận chung kết tới đây có hấp dẫn, giằng co hay kết thúc chóng vánh theo một chiều thì khó có thể đoán đạnh trước? Song, với tất cả những bất ngờ diễn ra hơn một tuần lễ qua, Madrid Open ngày càng có vị trí quan trọng, chứ không đơn thuần chỉ là giải đấu tập cho Roland Garros.

HÀM ĐAN

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

BÔNG HỒNG CÀI ÁO (FOR MOTHER'S DAY)

Hôm mồng 5-5, nhận được cuốn sách của bác Chuối gửi, đó là bản in lần đầu cuốn "Bông hồng cài áo" của thiền sư Thích Nhất Hạnh. Thiền sư viết đoản văn này sau khi biết phong tục cài hoa trong Ngày của mẹ (Mother's day). Nhiều nhần chứng sống ở miền Nam trước năm 1975 cho biết: Trước khi xuất bản thì đoản văn đã được nhiều sinh viên miền Nam chép tay trước khi được NXB Lá Bối in và trở thành cuốn sách cho Vu Lan mùa báo hiếu. Sau đó, một vài ý văn trong cuốn Bông hồng cài áo đã được nhạc sỹ Phạm Thế Mỹ phổ nhạc thành ca khúc bất hủ cùng tên.

Vốn có niềm đam mê sưu tầm sách bản in đầu, hay tin bác Chuối rao bán liền mua ngay để kỷ niệm, chứ không phải sắp đến Ngày của mẹ nên tìm mua vì đơn giản không hề biết ngày của mẹ là ngày nào. Lướt mạng mới biết Ngày của mẹ là ngày Chủ nhật của tuần thứ hai trong tháng năm, nghĩa là hôm nay ngày 8-5-2011. Trước tiên hãy xem cuốn sách tìm được như một hạnh ngộ khi gần đến Ngày của mẹ.

Ở bìa lót cuốn sách có dòng chữ: "Dâng hiến đời ta cho hiếu hạnh" ký C.T. Chắc đây là câu của chủ cũ cuốn sách, phải chăng là chữ của thầy Chơn Thiện?



Bìa lót cuối sách ghi thông tin xuất bản cuốn sách:



Đề từ cuốn sách:



Bức ảnh cuối muồn trình là đoạn văn được nhạc sỹ Phạm Thế Mỹ sử dụng trong bài hát:



Nhân Ngày của mẹ, đăng lại toàn văn đoản văn này để cùng nghĩ về tình mẹ:

BÔNG HỒNG CÀI ÁO

Nhất Hạnh

Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không "lớn" lên được. Cằn cỗi , héo mòn. Ngày mẹ tôi mất, tôi viết trong nhật ký: Tai nạn lớn nhất đã xẩy ra cho tôi rồi! Lớn đến mấy mà mất mẹ thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng không hơn gì trẻ mồ côi. Những bài hát, bài thơ ca tụng tình mẹ bài nào cũng dễ, cũng hay. Người viết dù không có tài ba, cũng có rung cảm chân thành; người hát ca, trừ là kẻ không có mẹ ngay từ thuở chưa có ý niệm, ai cũng cảm động khi nghe nói đến tình mẹ. Những bài hát ca ngợi tình mẹ đâu cũng có, thời nào cũng có. Bài thơ mất mẹ mà tôi thích nhất, từ hồi nhỏ, là một bài thơ rất giản dị. Mẹ đang còn sống, nhưng mỗi khi đọc bài thơ ấy thì sợ sệt, lo âu.... sợ sệt lo âu một cái gì còn xa, chưa đến, nhưng chưa chắc chắn phải đến:

Năm xưa tôi còn nhỏ 
Mẹ tôi đã qua đời! Lần đầu tiên tôi hiểu
Thân phận trẻ mồ côi. 
Quanh tôi ai cũng khóc
Im lặng tôi sầu thôi
Để dòng nước mắt chảy
Là bớt khổ đi rồi... 
Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi 
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời.

Một bầu trời thương yêu dịu ngọt, lâu quá mình đã bơi lội trong đó, sung sướng mà không hay, để hôm nay bừng tỉnh thì thấy đã mất rồi. Người nhà quê Việt nam không ưa cách nói cao kỳ. Nói rằng bà mẹ già là kho tàng của yêu thương, của hạnh phúc thì cũng đã là cao kỳ rồi. Nói mẹ già là một thứ chuối, một thứ xôi, một thứ đường ngọt dịu, người dân quê đã diễn tả được tình mẹ một cách vừa giản dị vừa đúng mức: 

Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp mt, như đường mía lau.

Ngon biết bao ! Những lúc miệng vừa đắng vừa nhạt sau một cơn sốt, những lúc như thế thì không có món ăn gì có thể gợi được khẩu vị của ta. Chỉ khi nào mẹ đến, kéo chăn đắp lên ngực cho ta, đặt bàn tay (Bàn tay ? hay là tơ trời đâu la miên ?) trên trán nóng ta và than thở "khổ chưa, con tôi ", ta mới cảm thấy đầy đủ, ấm áp, thấm nhuần chất ngọt của tình mẹ, ngọt thơm như chuối ba hương, dịu như xôi nếp mt, và đậm đà lịm cả cổ họng như đường mía lau. Tình mẹ thì trường cửu, bất tuyệt; như chuối ba hương, đường mía lau, xôi nếp một ấy không bao giờ cùng tận. 

Công cha như núi Thái sơn, 
nghĩa mẹ như nước trong nguồn chy ra

Nước trong nguồn chảy ra thì bất tuyệt. Tình mẹ là gốc của mọi tình cảm yêu thương. Mẹ là giáo sư dạy về yêu thương, một phân khoa quan trọng nhất trong trường đại học cuộc đời. Không có mẹ, tôi sẽ không biết thương yêu. Nhờ mẹ mà tôi được biết tình nhân loại, tình chúng sinh ; nhờ mẹ mà tôi biết được thế nào là tình nhân loại, tình chúng sinh ; nhờ mẹ mà tôi có được chút ý niệm về đức từ bi. Vì mẹ là gốc của tình thương, nên ý niệm mẹ lấn trùm ý thương yêu của tôn giáo vốn dạy về tình thương. 
Đạo Phật có đức Quan Thế Âm, tôn sùng dưới hình thức mẹ. Em bé vừa mở miệng khóc thì mẹ đã chạy tới bên nôi. Mẹ hiện ra như một thiên thần dịu hiền làm tiêu tan khổ đau lo âu. Đạo Chúa có đức Mẹ, thánh nữ đồng trinh Maria. Trong tín ngưỡng bình dân Việt có thánh mẫu Liễu Hạnh, cũng dưới hình thức mẹ. Bởi vì chỉ cần nghe đến danh từ Mẹ, ta đã thấy lòng tràn ngập yêu thương rồi. Mà từ yêu thương tín ngưỡng và hành động thì không xa chi mấy bước. 

Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ (Mother's Day) ngày chúa nhật thứ nhì của tháng năm. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với Thầy Thiên Ân tới nhà sách ở khu Ginza ở Đông Kinh, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ Thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy ở trong xắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì, nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. 

Tôi nhìn lại bông hoa trắng trên áo mà bỗng thấy tủi thân. Tôi cũng mồ côi như bất cứ một đứa trẻ vô phúc khốn nạn nào; chúng tôi không có được cái tự hào được cài trên áo một bông hoa màu hồng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa. Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan. 
Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món qùa lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Đừng có đợi đến khi mẹ chết rồi mới nói: "trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào nhìn kỹ được mặt mẹ!". Lúc nào cũng chỉ nhìn thoáng qua. Trao đổi vài câu ngắn ngủi. Xin tiền ăn quà. Đòi hỏi mọi chuyện. Ôm mẹ mà ngủ cho ấm. Giận dỗi. Hờn lẫy. Gây bao nhiêu chuyện rắc rối cho mẹ phải lo lắng, ốm mòn, thức khuya dậy sớm vì con. Chết sớm cũng vì con. Để mẹ phải suốt đời bếp núc, vá may, giặt rửa, dọn dẹp. Và để mình bận rộn suốt đời lên xuống ra vào lợi danh. Mẹ không có thì giờ nhìn kỹ con. Và con không có thì giờ nhìn kỹ mẹ. Để khi mẹ mất mình có cảm nghĩ: "Thật như là mình chưa bao giờ có ý thức rằng mình có mẹ!

Chiều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Em sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi em sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang còn sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Em hỏi: " Mẹ ơi, mẹ có biết không ?" Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ hỏi em, vừa hỏi vừa cười "Biết gì?" Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, em sẽ nói: "Mẹ có biết là con thương mẹ không ?" Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù người lớn ba bốn mươi tuổi ngừơi cũng có thể hỏi một câu như thế, bởi vì người là con của mẹ. Mẹ và em sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Mẹ và em sẽ đều trở thành bất diệt và ngày mai, mẹ mất, em sẽ không hối hận, đau lòng. 
Ngày Vu Lan ta nghe giảng và đọc sách nói về ngài Mục Kiền Liên và về sự hiếu đễ. Công cha, nghĩa mẹ. Bổn phận làm con. Ta lạy Phật cầu cho mẹ sống lâu. Hoặc lạy mười phương Tăng chú nguyện cho mẹ được tiêu diêu nơi cực lạc, nếu mẹ đã mất. Con mà không có hiếu là con bỏ đi. Nhưng hiếu thì cũng do tình thương mà có; không có tình thương hiếu chỉ là giả tạo, khô khan, vụng về, cố gắng mệt nhọc. Mà có tình thương là có đủ rồi. Cần chi nói đến bổn phận. Thương mẹ, như vậy là đủ. Mà thương mẹ không phải là một bổn phận. 

Thương mẹ là một cái gì rất tự nhiên. Như khát thì uống nước. Con thì phải có mẹ, phải thương mẹ. Chữ phải đây không phải là luân lý, là bổn phận. Phải đây là lý đương nhiên. Con thì đương nhiên thương mẹ, cũng như khát thì đương nhiên tìm nước uống. Mẹ thương con, nên con thương mẹ. con cần mẹ, mẹ cần con. Nếu mẹ không cần con, con không cần mẹ, thì đó không phải là mẹ là con. Đó là lạm dụng danh từ mẹ con. Ngày xưa thầy giáo hỏi rằng: "Con mà thương mẹ thì phải làm thế nào?" Tôi trả lời: "Vâng lời, cố gắng, giúp đỡ, phụng dưỡng lúc mẹ về già và thờ phụng khi mẹ khuất núi". Bây giờ thì tôi biết rằng: Con thương mẹ thì không phải "làm thế nào" gì hết. Cứ thương mẹ, thế là đủ lắm rồi, đủ hết rồi, cần chi phải hỏi " làm thế nào " nữa! 

Thương mẹ không phải là một vấn đề luân lý đạo đức. Anh mà nghĩ rằng tôi viết bài này để khuyên anh về luân lý đạo đức là anh lầm. Thương mẹ là một vấn đề hưởng thụ. Mẹ như suối ngọt, như đường mía lau, như xôi nếp một. Anh không hưởng thụ thì uổng cho anh. Chị không hưởng thụ thì thiệt hại cho chị. Tôi chỉ cảnh cáo cho anh chị biết mà thôi. Để mai này anh chị đừng có than thở rằng: Đời ta không còn gì cả. Một món quà như mẹ mà còn không vừa ý thì họa chăng có làm Ngọc hoàng Thượng đế mới vừa ý, mới bằng lòng, mới sung sướng. Nhưng tôi biết Ngọc hoàng không sung sướng đâu, bởi Ngọc hoàng là đấng tự sinh, không bao giờ có diễm phúc có được một bà mẹ. 

Tôi kể chuyện này, anh đừng nói tôi khờ dại. Đáng nhẽ chị tôi không đi lấy chồng, và tôi, tôi không nên đi tu mới phải. Chúng tôi bỏ mẹ mà đi, người thì theo cuộc đời mới bên cạnh người con trai thương yêu, người thì đi theo lý tưởng đạo đức mình say mê và tôn thờ. Ngày chị tôi đi lấy chồng, mẹ tôi lo lắng lăng xăng, không tỏ vẻ buồn bã chi. 

Nhưng đến khi chúng tôi ăn cơm trong phòng, ăn qua loa để đợi giờ rước dâu, thì mẹ tôi không nuốt được miếng nào. Mẹ nói: "Mười tám năm trời nó ngồi ăn cơm với mình, bây giờ nó ăn bữa cuối cùng rồi thì nó sẽ đi ăn ở một nhà khác". Chị tôi gục đầu xuống mâm khóc. Chị nói: "Thôi con không lấy chồng nữa". Nhưng rốt cuộc thì chị cũng đi lấy chồng. Còn tôi thì bỏ mẹ mà đi tu. "Cắt ái từ thân" là lời khen ngợi người có chí xuất gia. Tôi không tự hào chi về lời khen đó cả. Tôi thương mẹ, nhưng tôi có lý tưởng, vì vậy phải xa mẹ. Thiệt thòi cho tôi, có thế thôi. Ở trên đời, có nhiều khi ta phải chọn lựa. Mà không có sự chọn lựa nào mà không khổ đau. Anh không thể bắt cá hai tay. Chỉ khổ là vì muốn làm người nên anh phải khổ đau. Tôi không hối hận vì bỏ mẹ đi tu nhưng tôi tiếc và thương cho tôi vô phúc thiệt thòi nên không được hưởng thụ tất cả kho tàng qúi báu đó. Mỗi buổi chiều lạy Phật, tôi cầu nguyện cho mẹ. Nhưng tôi không được ăn chuối ba hương, xôi nếp một và đường mía lau. 

Anh cũng đừng tưởng tôi khuyên anh: "Không nên đuổi theo sự nghiệp mà chỉ nên ở nhà với mẹ!". Tôi đã nói là tôi không khuyên răn gì hết -- tôi không giảng luân lý đạo đức -- rồi mà! Tôi chỉ nhắc anh: "Mẹ là chuối, là xôi, là đường, là mật, là ngọt ngào, là tình thương". Để chị đừng quên, để em đừng quên. Quên là một lỗi lớn : Cũng không phải là lỗi nữa, mà là một sự thiệt thòi. Mà tôi không muốn anh chị thiệt thòi, khờ dại mà bị thiệt thòi. Tôi xin cài vào túi áo anh một bông hoa hồng: để anh sung sướng, thế thôi. 
Nếu có khuyên, thì tôi sẽ khuyên anh, như thế này. Chiều nay, khi đi học hoặc đi làm về, anh hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và bền. Anh sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ, để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ, anh sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Anh hỏi: "Mẹ ơi, mẹ có biết không?" Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ nhìn anh, vừa cười vừa hỏi: "Biết gì?" Vẫn nhìn vào mắt mẹ, giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ hỏi tiếp: "Mẹ có biết là con thương mẹ không?" Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù anh lớn ba bốn mươi tuổi, chị lớn ba bốn mươi tuổi, thì anh cũng hỏi một câu ấy. Bởi vì anh, bởi vì chị, bởi vì em là con của mẹ. Mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Và ngày mai mất mẹ, Anh sẽ không hối hận, đau lòng , tiếc rằng anh không có mẹ. 

Đó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca cho cuộc đời đừng chìm trong vô tâm, quên lãng. Đóa hoa mầu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi.

     

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2011

CÂU CHUYỆN THỂ THAO: NIỀM VUI NHO NHỎ

Câu chuyện bóng nữ ít nhận được những quan tâm về tinh thần lẫn vật chất so với bóng đá nam đã là câu chuyện rất cũ: “Biết rồi, khổ lắm. Nói mãi!”. Có người chép miệng: Ở đâu trên thế giới này, bóng đá nữ vẫn cứ lép vế, đâu chỉ có nữ cầu thủ Việt Nam mới thiệt thòi; đến ngay như nước Anh, Giải bóng đá nữ vô địch quốc gia (VĐQG) mới tổ chức trở lại với chỉ tám đội tranh tài.

Ngẫm lại, thời gian gần đây, bóng đá nữ dẫu còn lắm khó khăn nhưng đã được chăm lo toàn diện khiến người trong cuộc ấm lòng hơn. Chẳng hạn, bao nhiêu mùa giải VĐQG, chẳng đơn vị nào chịu tài trợ khiến giải đấu vẫn phải bám vào “bầu sữa” VFF. Năm nay, các cô gái đá bóng rốt cuộc cũng có được niềm vui khi Tập đoàn Dệt may Việt Nam quyết định tài trợ 1 tỉ đồng cho giải nữ VĐQG 2011. Số tiền này chỉ bằng 1/30 số tiền mà Ngân hàng Eximbank đang tài trợ cho sân chơi của các đồng nghiệp nam ở V-League, nhưng nó lại là nguồn động viên tinh thần vô giá cho sân chơi bóng đá nữ vốn kiếm tài trợ cực kỳ khó khăn.

Vấn đề nan giải kinh niên “đầu tiên” đã kết thúc có hậu, thì những câu chuyện khác liên quan đến lượt đi giải đấu năm nay đều chứa đựng những điều tốt lành, mang đến tất cả những người quan tâm đến bóng đá nữ những niềm vui nho nhỏ. Kết thúc lượt đi, đội bóng Phong Phú Hà Nam xếp thứ hai do thua về hiệu số bàn thắng bại với đội đứng đầu Hà Nội Tràng An 1. Thành công của đội bóng Phong Phú Hà Nam, có sự đóng góp lớn của huấn luyện viên trưởng kiêm cầu thủ Văn Thị Thanh. Đầu năm 2010, ở tuổi 25, quyết định giải nghệ của Thanh là một cú sốc lớn. Nguyên do là cô bận hoàn tất việc học tại khoa HLV bóng đá ở Đại học TDTT Từ Sơn để “lo cho tương lai”-như lời tâm sự Thanh. Sau khi tốt nghiệp vào tháng 7-2010, Thanh lập tức theo học lớp tập huấn HLV Olympic do FIFA tổ chức trong vòng 10 ngày tại Hà Nội nhằm bổ sung kiến thức từ những chuyên gia nước ngoài. Trở về sau lớp tập huấn, Thanh được giao làm HLV trưởng đội U-19 nữ Hà Nam và giành chức vô địch U19 toàn quốc. Thanh được lãnh đạo tín nhiệm trao ghế HLV trưởng tham dự Giải bóng đá nữ VĐQG 2011 với chỉ tiêu lọt vào tốp ba.

Nếu như Văn Thị Thanh có bằng cấp, danh chính ngôn thuận ngồi trên ghế chỉ đạo; người ta thấy nhiều cầu thủ nữ đã giải nghệ như Kim Chi, Ngọc Mai đi cùng đoàn bóng đá nữ TP Hồ Chí Minh ra Hà Nam tranh tài. Hỏi ra mới biết, họ có chân trong ban huấn luyện dìu dắt các tài năng trẻ. Việc những người quản lý địa phương nhanh chóng bố trí công việc huấn luyện cho các cựu binh rõ ràng là hợp tình hợp lý; vừa tri ân đóng góp của các cầu thủ nữ, vừa tận dụng kinh nghiệm để truyền lại cho các đàn em tránh sự “đứt gãy” thế hệ. Vậy là hình ảnh năm nào của một cầu thủ nữ sau những giờ phút vinh quang trên sân cỏ phải đi bán bánh mì để kiếm sống chỉ là câu chuyện buồn quá vãng.

Nhưng có lẽ niềm vui nhất cho bóng đá nữ Việt Nam qua lượt đi Giải bóng đá nữ VĐQG 2011 là sự trưởng thành vượt bậc của các cầu thủ trẻ. Sau thế hệ vàng thống trị khu vực Đông Nam Á, một thế hệ cầu thủ nữ mới ra đời tiếp tục duy trì vị thế của bóng đá nữ Việt Nam. Những cái tên như: Bùi Thị Như, Nguyễn Thị Xuyến, Hồng Lĩnh, Bảo Châu, Hải Hòa, Nguyễn Thị Hòa... đã chứng tỏ sự thay thế xứng đáng cho các đàn chị đi trước. Tre đã già liền có măng mọc ngay, tín hiệu này mới đáng mừng nhất. Âu cũng là “quả ngọt” cho sự đầu tư “nhìn xa trông rộng” của những người quản lý bóng đá nước nhà.

MỘC LAN

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2011

THỜI ĐÀM (IX): CHẦM CHẬM TỚI MÌNH

Quãng những năm cuối thập niên 1980, văn đàn Việt Nam xuất hiện một lứa nhà văn tuổi nghề trẻ nhưng có những tác phẩm đầu tay xuất sắc. Những tác phẩm “nhung tuyết” đầu đời ấy đến giờ dù đã tái bản nhiều lần mà vẫn còn được bạn đọc ngợi khen. Ấy vậy mà gần đây, không rõ nguyên nhân từ đâu, có một vài nhà văn và cả các nhà phê bình cho rằng thành tựu đổi mới văn chương của thế hệ nhà văn trẻ cách đây hơn hai mươi năm chẳng qua là do “cập thời vũ” (mưa đúng lúc)-ám chỉ sự ăn may.

Đem lời nhận xét ấy làm ví dụ cho mô hình khái quát về động lực chung cho mọi sự sinh thành nghệ thuật của nhà phê bình người Pháp Hippolyte Taine (1828-1893) bao gồm: Chủng tộc, môi trường và thời điểm, xem ra khá thích hợp. Rõ ràng, không khí những ngày đầu Đổi Mới đất nước mà các nhà văn trẻ hồi ấy đã mạnh dạn đổi mới đề tài phản ánh, đồng thời ra sức thể nghiệm các kỹ thuật viết văn tân kì qua đó tạo ra hàng loạt tác phẩm giá trị. Song, bối cảnh văn hóa không phải là nguyên nhân quyết định sự thành công của một thế hệ nhà văn như nhiều người lầm tưởng. Bằng chứng rõ nhất là sự xuất hiện đông đảo của lớp nhà văn 7X, 8X đương đại được sống và viết trong bối cảnh tự do, bản thân những người viết văn này có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với thế giới hơn các tiền bối nhưng lại chưa có những tác phẩm đẳng cấp.

Nếu đi tìm nguyên nhân thất bại của các nhà văn trẻ, hẳn sẽ phải cần cả một cuốn sách để diễn đạt tường minh. Song, chỉ cần nêu ra một nguyên nhân căn bản nhất cũng đã chứng minh được phần nào, đó là ý thức về bản thể công việc viết văn chưa được đổi mới, nếu không muốn nói là thụt lùi. Bản chất của viết văn thực ra là một “trò chơi”. Theo định nghĩa ngắn của Johan Huizinga trong tác phẩm Homo Ludens: “Chơi là một hoạt động tự do, tách ra một cách tương đối khỏi cuộc đời “thường nhật” như là một sự “không nghiêm trọng” song đồng thời lại có khả năng cuốn hút người chơi mãnh liệt và tuyệt đối. Nó là một hoạt động không gắn với một quan tâm vật chất nào và vụ lợi nào”. Không ít nhà văn trẻ ngày nay chỉ chăm chăm biến tác phẩm trở thành best-seller, hay dùng mọi cách thức để PR bản thân để nhanh chóng có “thương hiệu”. Hai biểu hiện dễ nhận biết trên chứng tỏ những nhà văn trẻ đã bị biến văn chương thành công cụ phi nghệ thuật, đó là điều đi ngược lại với bản chất văn chương.

Sự thành công của một thế hệ nhà văn đơn giản chỉ là phép cộng của những tài năng cá nhân. Dẫu trình độ lịch sử văn hóa và truyền thống có thuận lợi đến mấy mà bản thân nhà văn không tích lũy nền tảng văn hóa, đào sâu tư duy tìm kiếm trong bản thể cá nhân thì còn lâu mới có tác phẩm giá trị. Thế hệ nhà văn Đổi Mới thua kém nhà văn trước 1945 về học vấn liên thông thế giới và nếu so với đời sống vật chất cũng kém các nhà văn đương đại. Song, họ viết văn hay là nhờ biết đọc sâu và nghiền ngẫm kĩ những sách vở có trong tay và khát khao sáng tạo mãnh liệt giúp họ vượt qua những khó khăn khách quan và nhất là ý thức viết văn vô tư không cầu lợi ích theo tâm niệm: “Chầm chậm tới mình” (ý thơ Trúc Thông).

Bài học thành công của thế hệ nhà văn Việt những năm 1980 khá tương đồng với cuộc đời của những nhà văn vĩ đại có xuất phát điểm vô cùng khó khăn, chẳng hạn nhà thơ đoạt giải Nobel 1992 Derek Walcott sinh tại vùng lãnh thổ Saint Lucia nhỏ bé đến nỗi phải dùng kính lúp mới nhìn rõ trên bản đồ, dân số trên đảo chỉ bằng 1/2 số dân quận Đống Đa (Hà Nội); hay nhà văn Bồ Đào Nha Jose Saramago (Nobel 1998) phải đi làm thợ sửa xe vào ban ngày để mưu sinh còn ban đêm thì tự học ở thư viện. Dẫn ra hai ví dụ như vậy, để nói rằng, dù nước ta mới chỉ là nước có thu nhập trung bình nhưng động lực hỗ trợ cho nhà văn trẻ rất đầy đủ, chẳng qua họ thiếu khát vọng sáng tạo lớn lao, ít có những suy tư mang tầm tư tưởng để thể hiện trong tác phẩm nên tác phẩm lớn vẫn chưa xuất hiện.

Thế nên, đổ lỗi sự thất bại trong viết văn cho hoàn cảnh hay bác bỏ tài năng tự đào tạo của những nhà văn có tài là nhờ ăn may hoàn cảnh chỉ là những ngụy biện lỗi thời đáng chê trách!

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

REPORT SCHALKE 04-M.U: ĐÁNG LẼ PHẢI 5-0!

Đó là cảm tưởng chung của những người theo dõi trận bán kết lượt đi Champions League 2010-2011 giữa Schalke 04 và M.U. Khác với lối chơi “ru ngủ” thường thấy, ở trận này, M.U đã tấn công phủ đầu ngay từ khi tiếng còi khai cuộc và duy trì sức ép liên tục lên thủ môn Ma-nu-en Noi-ơ gần như trong 90 phút.

Qua trận đấu với M.U, giờ mới hiểu vì sao nhiều đại gia châu Âu sẵn sàng bỏ ra gần 20 triệu euro để sở hữu thủ môn Schalke 04-người vừa tuyên bố sẽ ra đi vào mùa hè này; bởi lẽ, chính Noi-ơ đã cản bóng thành công ở 6 lần giáp mặt với các cầu thủ M.U. Nhưng, một cánh én không làm nổi mùa xuân! Với một hàng tiền vệ không có khả năng tranh chấp bóng để phòng ngự từ xa, hàng thủ thiếu tập trung không kèm người ở những tình huống các cầu thủ M.U chạy chỗ thì dù Noi-ơ tài ba cũng phải vào lưới nhặt bóng hai lần.

Nếu có cái nhìn rộng lượng, khó trách các cầu thủ Schalke vì thực lực của họ đi đến bán kết đã là thành công ngoài mong đợi. Sau khi đánh bại đương kim vô địch Inter Milan ở tứ kết, yếu tố bất ngờ đã không còn, M.U đã vào trận với sự cảnh giác cao độ. Ngoài hai cầu thủ xuất sắc lập công là R. Gít (phút 67) và Ru-ni (phút 70), những cầu thủ khác đều thi đấu đúng như mong đợi. Điển hình như tiền vệ M. Ca-rích đang sa sút phong độ ở giải quốc nội lại bất ngờ tỏa sáng ở trận đấu then chốt tại đấu trường cúp châu Âu, anh càn quét khu trung tuyến khiến Giu-ra-đô, Bâu-giô-han không thể "bơm" bóng cho “Chúa nhẫn” Ra-un ở hàng công. Cặp trung vệ R. Phéc-đi-năng và Vi-đích như thường lệ, vững vàng che chắn cho khung thành E. Van Đờ Xa trước sự vùng lên của Schalke 04 ở cuối trận.

Với hai bàn thắng sân khách làm “vốn”, M.U hoàn toàn thảnh thơi ở trận lượt về tại “nhà hát của giấc mơ”. Việc còn lại của “quỷ đỏ” có lẽ là lên phương án đối phó với đối thủ ở trận chung kết: Real Madrid hoặc Barcelona tại “sân nhà” Wembley.

HÀM ĐAN

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2011

BÁN KẾT LƯỢT ĐI CHAMPIONS LEAGUE 2010-2011, REAL MADRID – BARCELONA: TRẬN CẦU CỦA TRÍ TUỆ

Ở trận cầu đẳng cấp cao với sự chênh lệch trình độ không đáng kể của hai đội như trận bán kết lượt đi giữa Real Madrid và Barcelona vào 1 giờ 45 phút (giờ Việt Nam) ngày 28-4, thì sự thành bại phụ thuộc khá nhiều vào cuộc đấu trí của những ông thầy ngồi trên băng ghế chỉ đạo.

J. Mô-ri-nhô và J. Goóc-đi-ô-la đều là những huấn luyên viên tuổi trẻ, tài cao hàng đầu thế giới. Sau hai trận siêu kinh điển mới đây, J. Mô-ri-nhô đã khiến mọi người phải ngả mũ trước thứ bóng đá đầy tính nghệ thuật... phòng ngự do ông sáng chế. Trước trận đấu, J. Mô-ri-nhô tuyên bố đã tìm ra phương cách đánh bại Barcelona. Đây không phải là một lời nói với mục đích làm vũ khí tâm lý chiến, mà lịch sử đã chứng minh J. Mô-ri-nhô là huấn luyện viên khiến Barcelona vỡ mộng nhiều nhất tại đấu trường Champions League từ khi “người đặc biệt” còn dẫn dắt Chelsea và Inter Milan.

Trước một Real Madrid đang có phong độ lẫn tinh thần tốt, cộng với lợi thế trên sân nhà thì chắc chắn chuyến hành quân đến Bernabeu của Barcelona được dự báo là cực kì khó khăn. J. Goóc-đi-ô-la vẫn chưa tìm ra lời giải hiệu nghiệm để chọc thủng phương án phòng ngự với gần 9 cầu thủ có mặt thường trực ở quanh khu cấm địa của Real và đồng thời khắc chế lối chơi phản công sắc sảo với “mũi tên” C. Rô-nan-đô. Vì vậy, ở trận đấu này, mọi sự chú ý sẽ tập trung vào tài điều binh khiển tướng của J. Goóc-đi-ô-la.

Nhưng, dù chơi với chiến thuật gì đi nữa, chắc chắn, trong trận đấu tới, Barcelona sẽ không chơi cầm chừng để chờ đợi cơ hội vì đơn giản tấn công là bản sắc của Barcelona cho dù “gã khồng lồ xứ Catalan” có ở hoàn cảnh bi đát nhất đi chăng nữa. Nhưng sẽ lại có một điều chắc chắn khác là các phương án tấn công của Barcelona sẽ phải điều chỉnh để gây ra sự bất ngờ cho một huấn luyện viên có sở thích dự liệu mọi tình huống như “người đặc biệt”. Một nhiệm vụ mà nhiều người tin là bất khả thi với J. Goóc-đi-ô-la nhưng thiểu số fan Barcelona lại tin vào tài trí của huấn luyện viên vừa mới bước sang tuổi 40. Niềm tin đó cũng tương tự như niềm tin vào số ít cổ động viên Real dành cho J. Mô-ri-nhô sẽ khiến Barcelona phải quy hàng trong thời điểm Barcelona đang bách chiến bách thắng ở mọi mặt trận.

Trận đấu tới mới chỉ là trận lượt đi, mọi sai lầm của hai ông thầy lẫn những sai lầm cá nhân của các cầu thủ-những người cụ thể hóa các chiến thuật đều có thể làm lại ở trận lượt về-trận siêu kinh điển thứ 4-có ý nghĩa còn hơn một trận chung kết.

Nhưng trước mắt, trận lượt đi cũng hứa hẹn chứa đựng hấp dẫn và sự kịch tính đến phút chót với nhiều khả năng Real thắng với tỉ số thắng 1-0.


HÀM ĐAN

CÂU CHUYỆN THỂ THAO: "PHÉP MÀU" CỦA NGƯỜI ĐỨC

Chỉ mất ba năm (1939-1942), phát xít Đức đã thôn tính gần như toàn bộ châu Âu khiến các quan sát viên thời đó bối rối không hiểu nước Đức đã làm như thế nào mà lại sở hữu tiềm lực hùng mạnh dù hai thập kỷ trước đã kiệt quệ do bại trận ở thế chiến thứ nhất. Mãi sau này, người ta mới dần khám phá ra “phép màu” của nước Đức. Hóa ra, chẳng có “phép màu” nào cả mà do óc duy lý người Đức đã vạch ra chiến lược dài hạn, phương pháp khoa học, tinh thần lao động cần cù đã giúp nước Đức cường thịnh.

Truyền thống duy lý của người Đức phát huy cho đến ngày nay giúp họ dẫn đầu nhiều lĩnh vực, trong đó có bóng đá. Mới đây, Liên doàn bóng đá châu Âu (UEFA) công bố hệ số điểm của bóng đá Đức ở các trận đấu ở các cúp châu Âu, theo đó, Bundesliga giành 69 điểm vươn lên thứ ba sau La Liga (81 điểm) và Premier League (85 điểm) và hơn Serie A 9 điểm. Với kết quả này, mùa bóng 2012-2013, Bundesliga sẽ thay thế Serie A khi có ba đội đứng đầu bảng xếp hạng sẽ vào thẳng vòng bảng Champions League, đội thứ tư đá vòng loại.

Vị trí mà Bundesliga có được là nhờ thành tích ở đấu trường Europa League, giải đấu mà người I-ta-li-a xem là “hạng hai”. Nhưng điểm cốt lõi, để Bundesliga vươn lên là nhờ cách làm bóng đá bài bản đến mức khó tìm thấy điểm chưa chuẩn.

Các câu lạc bộ (CLB) ở Bundesliga không sống bằng tiền bản quyền truyền hình tăng không đáng kể mà nhờ bán vé và kinh doanh.

Các sân vận động ở Đức luôn đầy chật các fan cuồng nhiệt. Khán giả ở Đức đến sân để cổ vũ các đội bóng, mặt khác, do các sân vận động được đầu tư nâng cấp sau World Cup 2006 trở thành địa điểm khiến người ta cảm thấy dễ chịu. Con số trung bình 41.802 người/trận bóng ở Đức là tỉ lệ cao hàng đầu thế giới. Có tới 15 CLB có tỉ lệ trên 90% khán đài được lấp kín, ngay một trận đấu ở hạng 2 là trận derby thủ đô Berlin giữa Hertha và Union cũng đạt 74.244 người, tương đương với số khán giả đến sân trận derby Milan-trận đấu lớn nhất ở I-ta-li-a.

Đội bóng Đức cũng giàu nhanh nhờ các dịch vụ ăn theo hàng ngàn khán giả, với tất cả các mặt hàng có thể nghĩ ra để bán. Trung bình mỗi trận ở sân Veltins của Schalke 04 là 30.000 lít bia. Allianz Arena của Bayern Munich mỗi trận bán được 5.000 ổ bánh mì kẹp và 20.000 xúc xích Đức.

Rủng rỉnh tiền bạc nhưng các CLB Đức không đổ tiền vô tội vạ vào các ngôi sao như ở I-ta-li-a mà chi mạnh vào đào tạo trẻ. Liên đoàn bóng đá Đức (DFB) đã thiết lập 266 trại đào tạo trẻ, 29 trung tâm đào tạo các nhà cầm quân. Tổng đầu tư cho chương trình lên đến nửa tỷ euro. Tổng số tiền mà tất cả CLB chơi ở Bundesliaga chi cho 42 trung tâm đào tạo cầu thủ là gần 100 triệu euro. Thành công của chiến lược đào tạo cầu thủ trẻ đã thành công mĩ mãn. Trong số 524 cầu thủ trong biên chế của các CLB ở Bundesliga có đến hơn một nửa xuất thân từ những lò luyện quân. Ở các giải đấu trẻ châu Âu, năm 2009, Đức đã vô địch ở các lứa tuổi U17, U19 và U21. Ở cấp đội tuyển quốc gia, những Schwensteiger, Podolski, Muller mới chỉ trên 20 tuổi đã đã đưa Đức lọt vào chung kết Euro 2008 và bán kết World Cup 2010. Những cầu thủ trẻ người khác như Mesut Oezil hay Khedira thì đang có suất trong đội hình chính ở “dải ngân hà” Real Madrid.

Tất cả những ưu điểm mà bóng đá Đức đã làm được lại chính là những nhược điểm của bóng đá I-ta-li-a. Người I-ta-li-a xem bóng đá qua ti-vi là chủ yếu vì các sân vận động đã quá xuống cấp, không có dịch vụ tiện ích và nhất là kém an toàn. Các cầu thủ trẻ vẫn được đào tạo nhưng không có đất diễn phải “bán mình” ra nước ngoài như trường hợp của Rossi, Balotelli... Những tifosi có quyền hoài niệm cho thời vàng son của bóng đá I-ta-li-a cách đây hơn 10 năm nhưng không nên nuối tiếc vì chính người I-ta-li-a đã tự hại mình. Và qua đó, có thể thấy “phép màu” mà bóng đá Đức làm được trong chưa đến 10 năm không phải là một điều bất khả đối với những nền bóng đá non trẻ như Việt Nam. Chỉ có điều là những người làm bóng đá nước ta có thực sự hành động hay không? Và, quan trọng là có đi đến cùng hay không?

MỘC LAN

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2011

LƯỢT ĐI BÁN KẾT CHAMPIONS LEAGUE 2010-2011, SCHALKE 04-M.U: TRẬN CẦU RÌNH RẬP

Cho đến lúc này, nhiều người theo dõi Champions League mùa giải 2010-2011 vẫn khó lòng cắt nghĩa vì sao một đội bóng làng nhàng Schalke 04 với những cái tên cầu thủ chỉ được nhớ mang máng lại có thể lọt vào vòng của tứ đại gia. Có lẽ, nguyên nhân lớn nhất để Schalke 04 lọt tới vòng bán kết là do… may mắn; vì trừ gặp “đại gia” Inter Milan ở vòng tứ kết, các đối thủ của Schalke 04 trước đó đều chỉ ngang bằng hoặc dưới tầm trình độ.

Chiến thắng chung cuộc 7-3 của Schalke 04 trước Inter chẳng qua đến từ sự chủ quan của đối thủ. M.U cũng sẽ gặp nạn như Inter nếu xem Schalke 04 là đội bóng “chiếu dưới”, đó là điều mà Sir Alex cảnh cáo các học trò trước cuộc làm khách trên sân Veltins-Arena vào 1 giờ 45 phút (giờ Việt Nam) ngày 27-4 tới đây.

Lẽ dĩ nhiên, M.U sẽ không dại gì dồn lên tấn công ào ạt hòng tìm một trận thắng đậm ngay từ lượt đi bởi nó sẽ tạo điều kiện cho bài phản công quen thuộc và cũng là duy nhất của đội bóng Đức phát huy hiệu quả. Thay vào đó, nhiều khả năng M.U sẽ tìm cách giữ nhiều bóng hòng kéo dãn hàng phòng thủ của Schalke 04 và chọn một thời điểm bất ngờ đẩy nhanh tốc độ tấn công để xé toang mành lưới Schalke 04. Thời điểm M.U gia tăng sức ép vào lúc nào thì chỉ có Chúa mới biết. Rất nhiều lần trong mùa giải năm nay, M.U đều chiến thắng với phương cách trên, đặc biệt trước những đội bóng yếu hơn chọn lối chơi phòng ngự ngay từ đầu kiểu như Schalke 04. Mục tiêu của M.U ở chuyến hành quân đến đất Đức có thể chỉ là một chiến thắng tối thiểu hoặc chí ít là một trận hòa có bàn thắng để lấy ưu thế bàn thắng trên sân khách. Điều họ hướng đến chính là màn kết liễu Schalke 04 ở lượt về tại “Nhà hát của những giấc mơ”-nơi mà M.U bất bại tại Champions League mùa này.

Ở phía bên kia, Schalke 04 thừa hiểu thực lực của họ không thể nào chơi đôi công sòng phẳng với M.U. Vậy nên, cách duy nhất là phòng ngự từ xa, đá rắn để hạn chế sự hưng phấn của đối phương. Và chờ đợi sai lầm của M.U để tạo dựng những tình huống nguy hiểm cho riêng mình.

Tư tưởng chơi bóng của cả hai đội như dự tính nói trên sẽ dẫn trận đấu đến một thế trận rình rập không thích hợp cho người ưa chuộng một trận cầu hấp dẫn từ đầu chí cuối, nhưng lại hợp cho những người thích những điều bất ngờ trong chốc lát. Dĩ nhiên, trong trận cầu rình rập này, M.U sẽ là người chủ động để cố gắng định đoạt kết quả trận đấu.

Dự đoán: M.U thắng 2-1.

HÀM ĐAN

NHỚ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG VỀ!

Nếu phải chọn ra khoảng mười nhà thơ tiêu biểu nhất của thơ ca chống Mỹ, khó có thể bỏ sót cái tên: Nguyễn Duy. Bởi lẽ, ngay từ khi khởi nghiệp thơ, Nguyễn Duy đã tạo dựng một phong cách nghệ thuật độc đáo. Thơ của ông tuy vẫn nằm trong dàn đồng ca mang tính sử thi cổ vũ cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta; nhưng ông phản ánh cuộc sống thời chiến gián tiếp thông qua những đề tài bình dị, rõ nhất trong các bài thơ để đời như: Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm… Thế nên, nhà phê bình Chu Văn Sơn đã có lý khi gọi ông là “thi sĩ thảo dân”.

Năm 1975-chiến tranh kết thúc, thơ Nguyễn Duy chuyển sang đề tài đời tư thế sự với biết bao bộn bề của cuộc sống thường nhật. Song, kí ức về những trải nghiệm chiến tranh vẫn tiếp tục ám ảnh ông không dứt. Được sống hạnh phúc trong một không khí hòa bình, như một lẽ tự nhiên nhà thơ sẽ dễ hồi tưởng cuộc sống gian khổ của người lính trong chiến tranh vừa mới kết thúc. Thực ra, nhiều nhà thơ đã đi qua chiến tranh chống Mỹ cũng có mạch tư duy nghệ thuật như Nguyễn Duy, chỉ có điều Nguyễn Duy ghi lại dấu ấn sáng tạo là nhờ tiếp tục duy trì cách thức phản ánh tâm lý hậu chiến thông qua điều bình dị. Lựa chọn góc nhìn thường nhật để phản ánh một đề tài sử thi dễ biến thành công thức sẽ đem lại sự khác lạ gây hứng thú trong tiếp nhận với người đọc. Đó có thể xem là cội nguồn và cũng là nét đặc sắc đầu tiên của bài thơ hậu chiến nổi tiếng nhất của Nguyễn Duy: Nghe tắc kè kêu trong thành phố.

Kí ức hậu chiến không phải từ việc trở lại chiến trường xưa với những trận đánh ác liệt, tứ thơ được khởi đầu qua một xúc cảm đến từ một điều tình cờ: nhà thơ nghe tiếng tắc kè kêu ở “góc đường Công Lý cũ” vào thời điểm “cái tết hòa bình thứ ba đã tới”. Tắc kè là loài vật thường sống ở rừng vì vậy nhà thơ ngạc nhiên: “Con tắc kè/ Sao mày ở đây?”. Tiếng kêu của một con vật bé nhỏ đó biến thành cái cớ cho nhà thơ quanh ngược thời gian trở về thời điểm: “Mùa khô năm một ngàn chín trăm bảy tư” với hình ảnh: “Những đoàn quân đi xuyên Trường Sơn/ Ngủ ôm súng suốt cả thời tuổi trẻ”. Khoảng thời gian này, cuộc chiến đang đến những hồi cuối cùng. Những người lính đã có thể cảm nhận được ngày toàn thắng sắp đến: “Đêm trăn trở đố nhau: Bao giờ về thành phố?”. Và như một sự tình cờ: “Con tắc kè nghe, nhanh nhẩu nói: Sắp về!”. Tiếng kêu đặc trưng của loài tắc kè đã được biến âm như nói hộ tâm tư giản dị của của người lính: Sẽ về thành phố-đồng nghĩa với quê hương sẽ được giải phóng-hòa bình sẽ đến.

Để trở thành bài thơ hay không chỉ dựa vào mỗi nội dung, vì một bài thơ hay khi và chỉ khi hình thức và nội dung phải là hòa vào nhau không thể tách rời. Với một nội dung đơn giản cho nên nhà thơ phải tìm một hình thức tương xứng. Và Nguyễn Duy đã thành công. Đọc bài thơ, không khó để nhận ra giọng điệu bài thơ như lời trò chuyện rủ rỉ thân mật gần gũi mà cũng như đang tự thuật chuyện quá khứ. Nhà thơ không “uốn éo” ngôn ngữ mà đều dùng những chữ “mộc”, và sử dụng thể thơ tự do phóng khoáng tạo ra tính nhạc ở tương quan vỏ âm thanh từng từ trong mỗi câu thơ.

Điểm đặc sắc thứ hai của bài thơ nằm ở cấu trúc bài thơ, đó là tạo ra sự đối lập xuyên suốt mang tính nhị phân: rừng/thành phố, hòa bình/chiến tranh, nằm lại/về, tết rừng/tết hòa bình, không hương khói/đốt nhang… tạo ra sự tương phản giữa cuộc sống hậu chiến an lành với những giây phút chiến tranh gian khổ, thiếu thốn. Song song với việc tạo ra sự đối lập, nhà thơ sử dụng các biểu tượng lặp lại như: tiếng tắc kè, hàng me… nhưng lại đặt chúng ở các khoảng không gian và thời gian khác nhau, điều này diễn đạt sự biến dịch của các thời điểm lịch sử từ chiến tranh sang hòa bình khiến nhiều thứ đã thay đổi. Không chỉ là tên con đường đã được đổi, không chỉ là những hàng me thay lá mà chính kí ức những con người trải qua cuộc chiến đã lãng quên quá khứ tưởng rằng không thể nào quên. Chính vì thế, thông điệp của bài thơ thể hiện ở phần cuối, đã là con người thì phải thấu rõ đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, sống trong thời bình thì phải luôn ghi nhớ sự hi sinh cuộc sống với những ước mơ dang dở của những con người không về hưởng nền hòa bình, chứ đừng đợi đến con tắc kè kêu để mà giật mình tưởng nhớ:

Qua hai mùa thay lá những hàng me

Cái tết hòa bình thứ ba đã tới

Chao ôi nhớ tết rừng không hương khói

Đốt nhang lên

Chợt hiện tiếng tắc kè


Tôi giật mình

Nghe

Có ai nói ở cành me:

Sắp về!...

HÀM ĐAN


NGHE TẮC KÈ KÊU TRONG THÀNH PHỐ

NGUYỄN DUY

Tắc kè
Tắc kè..tôi giật mình
Nghe
Trên cành me
Góc đường Công Lý cũ
Cái âm thanh của rừng lạc về thành phố

Con tắc kè
Sao mày ở đây?
Sáng ra nhìn soi mói mỗi cành cây
Chả thấy con tắc kè đâu cả
Khi chùm đèn thuỷ ngân xanh lên trong vòm lá
Tắc kè kêu như tiếng vọng về

 
Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia
Dưới lá là hầm, là tăng, là võng
Là cơn sốt rét rừng vàng bủng
Là muỗi, vắt, bom, mìn, vực sâu, đèo trơn…
 
Những đoàn quân đi xuyên Trường Sơn
Ngủ ôm súng suốt cả thời tuổi trẻ
Đêm trăn trở đố nhau: Bao giờ về thành phố?
Con tắc kè nghe, nhanh nhẩu nói: Sắp về!
 
Sắp về
Sắp về…
Người bạn tôi rung võng cười khoái trá
Ấy là lúc những cánh rừng trút lá
Mùa khô năm một ngàn chín trăm bảy tư
Ăn tết rừng xong
Từ giã chú tắc kè
Chúng tôi xuôi – ào ào cơn lũ đổ
Các binh đoàn tràn vào thành phố
Đang mùa thay lá những hàng me

Lá me vàng lăn tăn trải thảm phố hè
Chồi xanh lăn tăn nới đầu cành run rẩy
Cơn gió thoảng chút hương rừng đâu đấy
Hạt mưa đầu mùa trong suốt giữa lòng tay

Người bạn tôi không về tới nơi này
Anh gục ngã bên kia cầu xa lộ
Anh nằm lại trước cửa vào thành phố
Giây phút cuối cùng chấm dứt cuộc chiến tranh

Đồng đội bao người không “về tới” như anh
Nằm lại Cầu Bông, Đồng Dù và xa nữa…
Tất cả họ, suốt một thời máu lửa
Đều ước ao thật giản dị:
Sắp về!

Qua hai mùa thay lá những hàng me
Cái tết hòa bình thứ ba đã tới
Chao ôi nhớ tết rừng không hương khói
Đốt nhang lên
Chợt hiện tiếng tắc kè
 
Tôi giật mình
Nghe
Có ai nói ở cành me:
Sắp về!...

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011

CÂU CHUYỆN THỂ THAO: LẤN SÂN

Từ vị thế thống trị làng túc cầu xứ sương mù, sau một năm, có tới 99% khả năng Chelsea trắng tay khi mùa giải kết thúc. Vị thuyền trưởng C. Ancelotti tuyên bố mình chẳng có trách nhiệm gì về thất bại của The Blues.

Trên các mặt báo, ông đổ lỗi cho đội hình tuổi “băm” hụt hơi ở chặng nước rút. Nghe lời than thở đó, nhiều người sẽ lầm tưởng chiến lược gia Italia đang đổ lỗi cho cầu thủ nhưng thực ra Ancelotti “cáo già” đã khôn khéo đá “quả bóng” trách nhiệm sang ông chủ R. Abramovich.

Nhà tài phiệt Nga chi ít đi để mặc Ancelotti phải “liệu cơm gắp mắm” với đội hình thiếu chiều sâu chinh chiến tới 4 mặt trận khác nhau. Nhưng điều Ancelotti muốn ngầm trách R. Abramovich hơn cả chính là ông chủ Nga “lấn sân” vào lĩnh vực chuyên môn qua hành động tự ý đưa về bản hợp đồng trị giá 50 triệu bảng F. Torres. Kết quả, sau hơn 2 tháng thi đấu, tiền đạo nhận mức lương 180.000 ngàn bảng/tuần vẫn chưa ghi nổi một bàn thắng. Ai cũng thông cảm cho Torres vì vị trí sở trường của Torres không phù hợp với công thức thiến thắng 4-4-3 của Chelsea lâu nay.

Abramovich có lẽ chưa rút ra bài học từ bản hợp đồng thất vọng A. Shevchenko năm nào, đó là: Việc mua cầu thủ cần phải tham khảo ý kiến huấn luyện viên trưởng bởi chỉ có ông ta mới có thể đưa ra đánh giá về tiềm năng tỏa sáng của cầu thủ trong lối chơi chung của toàn đội. Hai thương vụ Shevchenko và Torres đều dựa theo ý thích của tỷ phú Nga xuất phát từ ước muốn cháy bỏng đăng quang tại mặt trận Champions League. Song, thảm bại trước M.U ở tứ kết Champions League đã chứng minh, tốt nhất Abramovich tiếp tục kiên nhẫn đầu tư và không nên “lấn sân” vào công việc chuyên môn.

Abramovich cõ lẽ phải cắp sách đến học gia đình Glazer-chủ sở hữu M.U. Ở Anh, huấn luyện viên (coach) có quyền hành khá lớn nên thường được gọi với danh từ manager (quản lý), riêng với huấn luyện viên vĩ đại của M.U Sir Alex Ferguson thì được gọi là boss (ông chủ). Sir Alex từng tỏ thái độ không thích nhà Glazer thâu tóm Quỷ đỏ, lẽ thường nhà Glazer hoàn toàn có thể sa thải Sir Alex. Nhưng với bản chất thực dụng của người Mỹ, nhà Glazer thừa hiểu sa thải Sir Alex không khác gì hành động tự sát. Không những để Sir Alex tiếp tục huấn luyện M.U, nhà Glazer hoàn toàn không can thiệp vào chuyên môn, sẵn sàng chi tiền để mua cầu thủ theo ý của Sir Alex. Kết quả, dù đổi chủ sở hữu nhưng danh hiệu Ngoại hạng Anh và Champions League vẫn tiếp tục tìm đến “nhà hát của những giấc mơ”.

Chuyện “lấn sân” ở nền bóng đá chuyên nghiệp hơn 50 năm thỉnh thoảng mới có và cũng khá kín tiếng; còn ở nền bóng đá mới lên “chuyên” 10 năm như V-League đã từng (chắc chưa dừng lại) xảy ra nhiều vụ “lấn sân” căng hơn dây đàn. Nhất khi nhiều ông chủ doanh nghiệp bỏ tiền bao đội bóng để đánh bóng thương hiệu đều muốn “đốt cháy giai đoạn” để thành công. Thế nên mới có giai thoại rằng: một ông chủ có tí hiểu biết bóng đá ngồi trên khán đài “ngứa mắt” với cách chơi của đội nhà bèn xuống sân chỉ đạo cầu thủ phải đá thế này, thế kia... Ông huấn luyện viên trưởng-vốn là người cá tính có “số má” xẵng giọng ngay: Chỗ ngồi của ông là trên kia, chỗ này là của tôi! Với màn “lấn sân” thiếu lịch sử ngay giữa thanh thiên bạch nhật của ông bầu nọ, không ai ngạc nhiên khi lần lượt các vị thuyền trưởng đến rồi đi vì chẳng ai chịu nổi việc ông chủ cao hứng là lại “lấn sân”. Hậu quả là đội bóng của ông bầu nọ chưa bao giờ vươn lên top 5 bảng xếp hạng V-League.

Mới hay, muốn làm bóng đá thời hiện tại nên học theo lời khuyên của Đức Khổng Tử: chính danh định phận. Làm tốt phận sự của mình là đã góp phần mang đến thành công chung cho đội bóng như tâm niệm của ông Trần Văn Đường (GĐĐH Becamex Bình Dương)-một trong những GĐĐH được xem là thành công nhất trong lịch sử V-League khi tiết lộ bí quyết: “Tôi không bao giờ đá lộn sân”.

MỘC LAN
(Thêm một bút danh mới:))

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011

CHUNG KẾT CÚP NHÀ VUA 2010 - 2011: CỨU CÁNH CỦA REAL!

Mùa giải 2010-2011 là một mùa giải đặc biệt với các fan của Real Madrid và Barcelona bởi trong vòng chưa đến 25 ngày, họ đã được xem 4 trận “siêu kinh điển”.

Nếu ở trận hòa 1-1 ở lượt về La Liga hôm 16-4 không có nhiều ý nghĩa bởi ở mặt trận này Real đã sớm giương cờ trắng thì ba trận đấu còn lại là những trận đấu sống còn, quyết định thành bại của mùa giải. Và trận đấu đầu tiên chính là chung kết Copa del Rey (Cúp nhà vua) sẽ diễn ra vào 2 giờ 30 phút (giờ Việt Nam) ngày 21-4 tại sân Mestalla của Valencia.
Lịch sử đã lặp lại khi trận chung kết gần đây nhất giữa hai gã khổng lồ tại Copa del Rey cách đây 11 năm cũng diễn ra tại sân Mestalla, ở trận đấu đó, Barcelona đã giành cúp sau khi đả bại Real 2-0. Và kết quả có vẻ sẽ không thay đổi nếu dựa vào tương quan sức mạnh của hai đội ở thời hiện tại. Barcelona vẫn nhỉnh hơn Real một bậc và việc họ giành chiến thắng để duy trì thành tích giành nhiều Cúp nhà vua nhất không phải là điều bất khả. Thế nhưng, trên băng ghế chỉ đạo Real lại là “người đặc biệt” J. Mô-ri-nhô-người đã nhiều lần viết lại lịch sử.

Dấu hiệu rõ nhất cho màn lật đổ của Real, chính là diễn biến trận hòa tại La Liga cách đây ít ngày. Nhờ tài cầm quân siêu việt của J. Mô-ri-nhô, Real đã kiếm một trận hòa chỉ với 10 cầu thủ. Ông đã đưa “hòn đá tảng” Pepe-vốn là trung vệ lên đá tiền vệ trụ phía trên 4 hậu vệ. Kết quả, lối chơi tiqui-taca Barcelona đã bớt linh nghiệm.

Mô-ri-nhô đã tài nhưng Góc-đi-ô-la cũng chẳng kém. Ông cũng nổi danh với điều chỉnh chiến thuật chẳng ai ngờ. Vì vậy, nếu không có những bước ngoặt bất ngờ, trận chung kết Copa del Rey sẽ được định đoạt từ màn đọ trí giữa hai tướng trẻ tài cao. Và trận đấu cũng có thể xem là một thử nghiệm chiến thuật cho hai trận quyết chiến tại Champions League sắp tới, nhất là phía Mô-ri-nhô. Ai cũng biết ông chủ F. Pê-rết đưa Mô-ri-nhô về Real cốt là để đạt đến mốc 10 chiếc cúp Champions League.

Barcelona đã có thể ung dung với việc 99% đoạt La Liga; còn với Real, một danh hiệu ít danh giá như Copa del Rey là một cứu cánh cho một mùa giải chưa hoàn hảo cho đến lúc này.

Dự đoán: Real thắng 2-1.

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2011

GARETH BALE, TÀI KHÔNG ĐỢI TUỔI!

Vượt qua 6 cầu thủ khác tại Giải ngoại hạng, ngôi sao chạy cánh của Tottenham Hotspur Ga-rết Bêu đã chính thức được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất màu giải 2010-2011 do Hiệp hội cầu thủ chuyên nghiệp Anh (PFA) bình chọn.

Giải thưởng này được xem là xứng đáng bởi Bêu chính là nhân tố chính giúp “gà trống” thăng hoa tại Giải ngoại hạng (xếp thứ 5) và lọt vào vòng tứ kết Champions League ngay lần đầu tham dự. Có lẽ, chỉ có Sir Alex và những fan Manchester United là những người không vui bởi M.U đã từng có cơ hội sở hữu G. Bêu nhưng đã không quyết liệt dẫu cho đã biết rõ một tài năng không đợi tuổi từ rất lâu.

Ga-rết Bêu sinh năm ngày 16-7-1989 tại Cardiff (xứ Wales). Tố chất thể thao của G. Bêu phát lộ rất sớm ngay từ hồi còn học tiểu học; đặc biệt là tốc độ với thành tích chạy 100 mét hết 11,4 giây. Ngay lập tức câu lạc bộ Southampton tuyển Bêu trong học viện đào tạo.

Ở tuổi 16, Bêu giúp đội U18 trường anh vô địch giải Cardiff&Vale Senior Cup. Một năm sau, khi mới 16 tuổi và 275 ngày, Bale đã trở thành cầu thủ trẻ thứ hai từng thi đấu cho Southampton (sau Thê-ô Oăn-cốt) khi anh được đưa vào sân trong trận đấu với Millwall. Ngày 6-8, Bale ghi được bàn thắng đầu tiên bằng một pha đá phạt trong trận hoà gặp Derby County.

Phong độ xuất sắc của G. Bêu đã khiến nhiều “đại gia” như Arsenal, M.U, Tottenham Hotspur... săn đón chữ ký của tài năng trẻ được xem là truyền nhân của “mũi tên bạc” Rai-ân Gít. Thế nhưng, mức phí 5 triệu bảng cộng với các khoản trả thêm lên tới 10 triệu bảng cho một cầu thủ mới chỉ chơi bóng chuyên nghiệp hơn một năm có thể xem là mạo hiểm. Rút cuộc, chỉ có “gà trống” tích cực nhất và họ đã có “viên ngọc thô” xứ Wales vào kì chuyển nhượng mùa hè 2007 với bản hợp đồng 4 năm.

Bêu đã có sự khởi đầu như mơ với 3 bàn thắng chỉ trong 4 trận. Song, ác mộng chấn thương đã sớm đến với Bêu sau pha vào bóng của F. Mu-am-ba trong trận đấu với Birmingham City tại Premier League ngày 2-12-2007. Kết quả, Bêu phải nghỉ thi đấu phần còn lại của mùa giải.

Những mùa giải tiếp theo, Bêu chơi chỉ tròn vai và nhiều người đã sớm kết luận: anh chỉ là “ngôi sao xẹt”. Một phần dó chấn thương liên tiếp tái phát, phần nữa hậu trường “gà trống” không yên ả, cộng với một đội hình thiếu chiều sâu đã không giúp Bêu tỏa sáng như kì vọng.

Với sự đầu tư mạnh mẽ ở mùa hè 2010 và với tài năng cầm quân HLV Ha-ri Rếch-náp, Bêu đã chơi như “lên đồng”. Những pha xử lý khéo léo, cộng với tốc độ bứt phá của một vận động viên điền kinh, Bêu chính là nỗi khiếp đảm của các hàng thủ đối phương. Trận đấu đáng nhớ nhất của Bêu trong mùa giải năm nay là cú hat-trick tuyệt đẹp vào lưới đương kim vô địch Inter Milan tại vòng bảng Champions League.

Phong độ tuyệt vời của Bêu đã khiến ban lãnh đạo “gà trống” phải nhanh chóng gia hạn hợp đồng với Bêu tới năm 2015.

HÀM ĐAN

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2011

ĐỪNG SỢ "BI"! (REVIEW PHIM "BI, ĐỪNG SỢ!")


Sau một thời gian chu du khắp các LHP thế giới như Cannes (Pháp), Hồng Kông (Trung Quốc), Stockholm (Thụy Điển)… và gặt hái những giải thưởng uy tín, bộ phim Bi, đừng sợ! của đạo diễn Phan Đăng Di chính thức ra mắt khán giả trong nước vào cuối tháng 3 vừa qua. Ngay sau khi bộ phim được trình chiếu đã nổ ra một cuộc tranh luận xung quanh nội dung bộ phim và đặc biệt là những cảnh “nóng”.

Xét về thể loại, bộ phim Bi, đừng sợ! thuộc dòng phim hiện thực tâm lý. Phim chỉ kể lại những thời khắc sống thường nhật của cậu bé Bi (Phan Thành Minh thủ vai) với những người thân bao gồm: bố (diễn viên Hà Phong), mẹ (diễn viên Kiều Trinh), người cô muộn chồng làm nghề giáo viên (diễn viên Hoa Thúy), bà vú (NSƯT Mai Châu) và ông nội (NSND Trần Tiến) đang mắc bệnh mới từ nước ngoài về.

Nếu chỉ bám sát vào hiện thực thì Bi, đừng sợ! sẽ không khác có gì đáng xem, điều độc đáo của bộ phim chính là kĩ thuật tự sự. Nội dung phim được kể theo thì hiện tại tiếp diễn, không có một chút hồi tưởng về dữ kiện trong quá khứ (thậm chí cả lí lịch nhân vật!) giúp khán giả có thể tự giải mã tâm lý nhân vật theo quan hệ nhân quả. Chẳng hạn, phim chỉ cho người xem biết bố Bi có một công việc ổn định, hay la cà ở quán bia, anh ta lãnh cảm với vợ và dửng dưng với cả người cha đang có bệnh, song lại có tình cảm cuống nhiệt lạ thường với một cô gái làm nghề gội đầu. Người xem phải chấp nhận anh ta là người “máu lạnh” mà không biết nguyên nhân nào dẫn anh ta trở thành một con người vô cảm. Có thể anh ta thiếu tình thương của bố nên khi ông bố trở về anh ta vẫn cứ dửng dưng? Phải chăng cuộc hôn nhân của anh ta chỉ là sự sắp đặt mà không hề có tình yêu? Thậm chí, có thể vì vợ anh ta đã từng “lầm lỡ” trong quá khứ khiến anh ta lãnh cảm với vợ?

Sự khó hiểu của bộ phim với khán giả còn được đẩy cao ở chuỗi hành động của người cô muộn chồng làm nghề giáo viên. Cô được giới thiệu một anh chàng chủ thầu xây dựng khỏe mạnh và quyết định chóng vánh sẽ lấy anh ta. Dù chuẩn bị cưới, cô lại có khao khát tình dục trong tâm tưởng với nam sinh đẹp trai và cao lớn (“hotboy” Huỳnh Anh thủ vai) nơi mình đang dạy học. Chính ở tình cảm “nhập nhằng” của người cô, “phe” chê phim Bi, đừng sợ! có lý khi cho rằng phim đã bôi đen hiện thực, đưa nhiều cảnh “nóng” để câu khách... Những lý lẽ phê phán tưởng đúng nhưng lại chưa thuyết phục. Những người phê phán đã nhầm lẫn giữa viêc cảnh “nóng” là mục đích hay là phương tiện diễn đạt của bộ phim. Nếu cảnh “nóng” là mục đích thì bộ phim đích thực là “phim cấp ba”, song phim Bi, đừng sợ! mượn cảnh “nóng” là phương tiện biểu đạt ẩn ức tính dục phức tạp. Ai cũng biết ở mọi nơi trên thế giới không riêng gì Việt Nam, chuyện tình cảm thầy trò không được khuyến khích, nhất lại là cô giáo có tình cảm với nam sinh lại càng là một điều cấm kị. Nó như một “ba-ri-e” ngăn cấm người cô “vượt giới hạn” với nam sinh mà cô có tình cảm. Điều này khiến cô bị giằng xé giữa việc lấy chồng để yên bề gia thất với những khao khát tính dục thầm kín. Nghệ thuật không chỉ có tô hồng tôn vinh con người, nghệ thuật còn có nhiệm vụ khám phá những mảng tối con người để nhìn nhận con người một cách toàn diện. Diễn đạt một cách tinh vi bề sâu của góc khuất tâm lý không dễ thể hiện như vậy, Bi, đừng sợ! nghiễm nhiên là một phim nghệ thuật đích thực hiếm hoi của nước ta những năm gần đây. Nhưng vì Bi, đừng sợ! diễn tả cái bi kịch của con người nên khán giả vẫn chưa quen mà đâm ra sợ một bộ phim có nội dung chủ yếu là cái “bi”.

Với cách biểu đạt lạ thường, lẽ dĩ nhiên nhiều khán giả trong đó có cả những nhà phê bình cho rằng bộ phim mô tả hiện thực theo kiểu tự nhiên chủ nghĩa. Hầu như ai xem bộ phim này đều có cảm giác phim chỉ ghi chép sinh hoạt đời thường và chêm vào các cảnh “nóng” mà không có sáng tạo nào đặc biệt. Nhưng thực ra, đạo diễn Phan Đăng Di đã phải dụng công để sử dụng một hệ thống các biểu tượng khiến bộ phim tự nhiên như là... phim tài liệu. Rõ rệt nhất là các biểu trưng của nước xuyên suốt bộ phim. Từ cây nước đá ở thể rắn, đến thể lỏng khi tan chảy và thể hơi là tượng trưng cho giai đoạn phát triển của của một người đàn ông. Ngay cả việc bố Bi uống bia (cũng là một dạng nước!) liên tục không chỉ biểu đạt “nghĩa đen” cho lối sống bê tha mà thực ra ngầm thể hiện nỗi thèm khát sự mới mẻ trong cuộc sống. Chính nhờ hệ thống biểu tượng phong phú trên khiến bộ phim trở nên đa nghĩa-đây là một trong những yếu tố quyết định cho tính nghệ thuật của bộ phim.

Điều đáng tiếc của bộ phim là cái kết của bộ phim không nhất quán với nội dung trước đó. Cái kết bộ phim là cảnh giỗ đầu của ông nội Bi. Bố Bi thắp hương cúi lạy cha như là sự tạ lỗi, người cô đưa chống sắp cưới ra mắt họ hàng... Cái kết của phim ngả sang một cái kết có hậu (happy ending) mâu thuẫn với những điều khác thường trước đó. Phim có thể kết thúc ở cảnh đám ma ông nội Bi trước đó một năm, đoàn người đưa tang cúi xuống đất, chỉ có cậu bé Bi vẫn ngược mắt lên nhìn máy bay thì sức ám ảnh của bộ phim sẽ lưu lại nhiều hơn. Một điều đáng tiếc nữa là bộ phim được nhìn dưới góc độ của người kể chuyện là một người trưởng thành chứ không phải bé Bi khiến bộ phim mất những cái nhìn trẻ thơ khác lạ.

Song điều đáng tiếc nhất của bộ phim là khi trình chiếu rộng rãi bộ phim đã bị cắt đi những cảnh “nóng”. Việc các cơ quan chức năng cắt cảnh “nóng” ở thời điểm này có thể xem là một việc làm đúng đắn. Vì, đáng buồn, cụm từ “bi đừng sợ cảnh nóng” cho kết quả tìm kiếm nhiều nhất trên mạng. Chứng tỏ, đa số xem phim chỉ chăm chăm xem cảnh “nóng” để thỏa mãn nhu cầu giải tri thấp kém mà không tìm cách xem trọn vẹn bộ phim để thưởng thức hết tinh túy nghệ thuật nhằm nâng cao nhận thức cái đẹp. Hiện thực buồn đó mới là một điều đáng sợ!

HÀM ĐAN
(Viết bài này xong mệt hơn làm tình:))

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

VỀ CUỐN SÁCH "PHÊ BÌNH VĂN HỌC, CON VẬT LƯỠNG THÊ ẤY"

1. Đầu năm 2011, cuốn sách “Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy (Tư tưởng phê bình văn học Việt Nam, một cái nhìn lịch sử)” của Tiến sĩ lịch sử văn hóa nghệ thuật-Phó giáo sư văn học Đỗ Lai Thúy được ấn hành lập tức được đánh giá là một hiện tượng tác phẩm phê bình hiếm hoi gần đây.

Nói là hiện tượng bởi trước hết, cuốn sách là một công trình đầu tiên nhìn lại một cách toàn diện lịch sử phê bình văn học trong suốt thế kỷ XX ở Việt Nam và cả những bước đi thử nghiệm của phê bình văn học từ tầm nhìn hậu hiện đại. Điểm mới lạ khác, vô cùng đặc sắc thể hiện cấu trúc cuốn sách khác hẳn những cuốn sách lịch sử văn học trước đó. Thông thường, một công trình lịch sử văn học, các tác giả thường trình bày nội dung theo “trục dọc” dựa trên sự phân kỳ tuyến tính, mà nhiều khi những mốc dùng để phân kỳ lại có ý nghĩa về khía cạnh chính trị-kinh tế hơn là ý nghĩa văn học. Nhận thức được những hạn chế của lối trình bày biên niên sử, Đỗ Lai Thúy đã tìm cách thức khác là trình bày các phương pháp phê bình theo ba lối tiếp cận đó là: tiếp cận tác phẩm từ tác giả (phê bình tiểu sử học, phê bình văn hóa-lịch sử, phê bình phân tâm học…), tiếp cận tác phẩm từ văn bản (phê bình phong cách học, phê bình thi pháp học, phê bình cấu trúc-ký hiệu học…) và tiếp cận tác phẩm từ người đọc (phê bình theo lý thuyết tiếp nhận, phê bình hậu/giải cấu trúc, phê bình thông diễn học, phê bình hậu thực dân luận…). Mô hình nghiên cứu trên vừa giúp cho người đọc có cái nhìn xuyên suốt lịch sử phê bình văn học, nhất là khi đặc trưng của phê bình văn học Việt Nam là sự gối tiếp giữa các phương pháp; lại vừa đảm bảo không bỏ sót đóng góp của từng nhà nghiên cứu ở mỗi phương pháp phê bình trong các không-thời gian khác nhau.

Mỗi phương pháp phê bình văn học thường xuất phát từ một lý thuyết văn học, do vậy, trình bày các phương pháp phê bình từng hiện hữu trong đời sống văn chương Việt cũng là gián tiếp trình bày tư tưởng phê bình văn học Việt. Như vậy, cuốn sách vừa là công trình văn học sử vừa là công trình về lý thuyết văn học. Ngoài ra, cuốn sách còn có giá trị phê bình văn học, dĩ nhiên là phê bình về phê bình văn học bởi tác giả đã đánh giá lại thành tựu và hạn chế của từng phương pháp phê bình do thực tiễn vận dụng các phương pháp phê bình đã chứng minh không có phương pháp nào là vạn năng.

2. Các kiến thức về phê bình văn học là những kiến thức chuyên ngành chỉ được một số người trong nghề quan tâm và am hiểu, do vậy, để “phổ thông hóa”, tác giả đã mở đầu cuốn sách bằng tiểu luận Phê bình văn học là gì? như là một dẫn nhập (introduction) giúp những người đọc không chuyên bước đầu tìm hiểu những vấn tổng quát của phê bình như đối tượng, phân loại, vị thế… Đọc tiểu luận trên, còn có thể ra những dòng chữ từ quá trình trải nghiệm công việc là cái “nghiệp” đã mang thân vào suốt mấy chục năm qua của tác giả. Sự nghiền ngẫm này không chỉ có lý thuyết suông mà đầy kinh nghiệm từ thực tiễn bởi Đỗ Lai Thúy không chỉ là người tổ chức giới thiệu các lý thuyết phê bình văn học qua các công trình như: Nghệ thuật như là thủ pháp (Lý thuyết văn chương của Chủ nghĩa hình thức Nga), NXB Hội nhà văn, 2001; Sự đỏng đảnh của phương pháp, NXB Văn hóa thông tin, 2004…; mà đồng thời còn là người đi đầu trong thực hành phê bình phân tâm học và phê bình văn học từ văn hóa học.

Với lợi thế là một người thực hành, chắc rằng đã góp phần giúp Đỗ Lai Thúy thành công khi nắm bắt “tướng tinh” của mười ba nhà phê bình văn học Việt trong phần cuối của cuốn sách: Phê bình văn học Việt Nam, người đọc được/bị đọc. Thành công của các chân dung học thuật trên phải xuất phát từ hai điểm. Thứ nhất, những nhận xét chuẩn xác và ít nhiều mới mẻ ở một đối tượng cũ như bài viết về nhà phê bình văn học Hoài Thanh. Đỗ Lai Thúy ca ngợi Hoài Thanh là thiên tài phê bình văn học với tác phẩm kinh điển Thi nhân Việt Nam như bao người viết về Hoài Thanh trước đó, song điểm mới mà Đỗ Lai Thúy nói thêm là Hoài Thanh chỉ là thiên tài trong phương pháp phê bình ấn tượng mà thôi. Thứ hai, lối viết (écriture) kết hợp giữa khoa học và nghệ thuật của Đỗ Lai Thúy đã khiến chân dung học thuật vốn đầy những luận điểm khô khan trở nên sinh động, mới mẻ hơn. Và như vậy, qua các bài viết chân dung, phần nào Đỗ Lai Thúy đã chứng mình cho quan niệm về phê bình văn học của ông: phê bình là một con vật lưỡng thê!

HÀM ĐAN

Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011

ELIZABETH TAYLOR - MỘT CUỘC ĐỜI TRỌN VẸN

1 giờ 30 phút ngày 23-3 vừa qua, huyền thoại điện ảnh Hollywood Elizabeth Taylor qua qua đời tại Trung tâm Y tế Cedars-Sinai ở Los Angeles (Mỹ). Cái chết của “huyền thoại mắt tím” không làm nhiều người bất ngờ bởi từ tháng 2, bà đã phải nhập viện này để điều trị chứng suy tim xung huyết, và nhiều năm trước sức khỏe của bà suy giảm nghiêm trọng khiến bà phải ngồi xe lăn mỗi khi di chuyển. Nhưng ngay sau khi thông tin Elizabeth Taylor qua đời, các nhân vật nổi tiếng này đã chia sẻ sự tiếc nuối trên các trang mạng xã hội; trên khắp các phương tiện truyền thông cũng tràn ngập hình ảnh của Elizabeth Taylor.

Ngôi sao sáng trong thế hệ vàng

Elizabeth Rosemond Taylor (còn được gọi là Liz Taylor) sinh ngày 27 tháng 2 năm 1932 tại Hampstead, London, Anh, là con thứ hai của Francis Lenn Taylor (1897–1968) và bà Sara Viola Warmbrodt (1895–1994), đều là người gốc bang Kansas (Mỹ). Dù mang quốc tịch Anh nhưng cha mẹ Taylor lại là những người Mỹ từng làm nghề buôn tranh nghệ thuật ở St.Louis, Missouri. Ông Franchis đến London để mở một phòng trưng bày tại đây. Người mẹ là diễn viên kịch nhưng giải nghệ sau khi lấy chồng.

Có thể nói, Elizabeth Taylor sinh ra để làm diễn viên điện ảnh. Thừa hưởng vẻ đẹp từ người mẹ diễn viên kịch, ngay từ khi 10, vẻ đẹp của Elizabeth đã được phát hiện và được giao một ai trong bộ phim There’s one born every minute (1942) của Hãng phim Universal với mức thù lao 100 USD/tuần. Ai cũng hiểu vẻ đẹp quan trọng với người diễn viên bởi nhiều khán giả đến rạp chỉ thích những người đẹp diễn xuất, song nếu không có tài năng thì diễn viên xinh đẹp cũng chỉ là “búp bê” tô điểm cho bộ phim mà sẽ chẳng để lại ấn tượng nào về diễn xuất. Thật may, ở Elizabeth Taylor hội tụ cả hai yêu tố trên. Hai năm sau, Taylor được nhận vai chính đầu tiên trong phim National Velvet. Bà thể hiện vai Velvet Brown, đồng diễn với Mickey Rooney. Bộ phim cực kì thành công về mặt doanh thu, hơn 4 triệu USD và đã làm thay đổi cuộc đời Taylor. Bà trở thành ngôi sao nhí sáng giá của MGM và được kí hợp đồng dài hạn với mức lương được nâng lên tới 30.000 USD/năm. Nghiệp diễn của bà kéo dài tới tận năm 2001 với 76 bộ phim nhựa, truyền hình, lồng tiếng phim hoạt hình. Dĩ nhiên, không phải vai diễn nào của bà cũng xuất sắc và làm cho bộ phim trở nên kinh điển bởi điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp mà diễn xuất của diễn viên dù quan trọng nhưng không phải là tất cả. Song với những vai diễn ấn tượng trong gần 10 bộ phim kinh điển với 41 giải thưởng điện ảnh lớn công với các hoạt động từ thiện bà đã nhận các huân huy chương như Bắc đẩu bội tinh (Pháp), tước Quý bà Đế chế Anh (DBE), Huy chương Công dân danh dự của tổng thống Mỹ… đủ để bà bước vào ngôi đền huyền thoại của những người hoạt động nghệ thuật.

Thời kỳ đỉnh cao sự nghiệp của Liz Taylor là vào khoảng những năm 1950 - 1960. Khi đó, bà là nữ diễn viên được trả thù lao cao nhất Hollywood, cũng được xem là người phụ nữ đẹp nhất hành tinh. Taylor bắt đầu trở thành siêu sao của MGM khi nhận được đề cử Oscar nữ chính trong một loạt phim như: Raintree County (1957); Cat on a Hot Tin Roof (1958); và Suddenly, Last Summer (1959). Năm 1960, với vai chính một cô gái yêu một người đàn ông có vợ và chết vì tai nạn giao thông sau đó trong BUtterfield 8, lần đầu tiên Liz Taylor đoạt tượng vàng Oscar vai nữ chính, đưa sự nghiệp của bà tiến đến đỉnh cao. Năm 1962, Taylor lập kỷ lục về giá cát-sê với mức thù lao lên đến 1 triệu USD cho vai nữ hoàng Cleopatra trong bộ phim cùng tên. Có thể nói, đây là mức cát-sê kỷ lục đầu tiên của Hollywood vào thời bấy giờ. Đến năm 1966, Taylor lại lần thứ hai bước lên bục nhận giải Oscar nữa với vai diễn người phụ nữ đanh đá trong phim Who is Afraid of Virginia Woolf?. Liz Taylor chính thức giã từ màn bạc đỉnh cao vào năm 1968 với phim Secret Ceremony. Chính quãng thời gian 20 năm đỉnh cao này, với khả năng nhập vai nhiều nhân vật, khả năng diễn xuất xuất sắc ở từng nụ cười, ánh mắt khiến khán giả nhiều thế hệ không thể nào quên Liz Taylor như là ngôi sao sáng của thế hệ vàng Hollywood như Audrey Hepburn, Ingrid Bergman, Marilyn Monroe… và bà được xếp thư 7 trong số 25 nữ minh tinh điện ảnh Mỹ trong suốt thế kỷ XX do Viện phim Mỹ bầu chọn.

Đời tư sóng gió

Cuộc đời màn bạc của Liz Taylor đã được xem là sôi động, nhiều thăng trầm thì đời tư của Liz Taylor có thể xem là sóng gió nhất so với các ngôi sao làng giả trí từ cổ chí kim. Trong cuộc đời mình, Liz Taylor đã kết hôn 8 lần với 7 người chồng khác nhau. Một phần do bà quá đẹp và có quá nhiều người đàn ông giàu có điển trai vây quanh bởi đôi mắt phớt tím mộng mơ, đa tình, phần nữa do bà sống theo bản năng.

Liz Taylor kết hôn lần đầu khi mới 18 tuổi. Người chồng đầu tiên của bà là chàng đại gia 23 tuổi-thừa kế của tập đoàn khách sạn Hilton, Conrad Hilton Jr-ông này chính là người bác của tiểu thư Paris Hilton. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân vội vàng diễn ra rất ngắn ngủi, trong vòng chưa đầy 9 tháng (6-5-1950 / 29-1-1951).

Hơn một năm sau thất bại của cuộc hôn nhân đầu, Liz tìm thấy tình yêu bên người bạn, tài tử người Anh Michael Wilding. Họ chuyển dần từ tình bạn sang tình yêu và một năm sau ngày cưới, họ hạnh phúc chào đón sự ra đời của con trai đầu lòng-Michael. Christopher, con trai thứ hai của Liz và Michael, cất tiếng khóc đầu tiên hai năm sau đó. Tuy nhiên sau 5 năm chung sống bên nhau (21-2-1952 / 26-1-1957), cả hai ly hôn vì không còn tìm được tiếng nói chung.

Nhà sản xuất phim Mike Todd cầu hôn Liz chỉ vài ngày sau khi bà chia tay Michael Wilding. Hai người tổ chức chính thức là vợ chồng vào ngày 2-2-1957. Kết quả tình yêu của họ là cô con gái Liza, chào đời vào mùa hè năm 1957. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân này của Liz lại kết thúc rất bi kịch khi Mike qua đời trong một tai nạn máy bay vào năm 22-3-1958.

Đau buồn vì cái chết của Mike Todd, Liz tìm nguồn động viên bên ca sĩ Eddie Fisher, bạn thân của người chồng quá cố. Lúc này Eddie cũng đã kết hôn với ca sĩ Debbie Reynolds. Elizabeth bị coi là kẻ thứ ba. Sau này, bà viết trong hồi ký: “Tôi thực sự đau khổ khi xem lại những bức ảnh ngày đó. Họ chú thích tôi là một kẻ cướp chồng người khác”. Liz đã rất cố gắng để duy trì cuộc hôn nhân với Eddie.

Nhưng 5 năm sau, chính bà là người kết thúc nó để ngã vào vòng tay Richard Burton, người bạn diễn trong phim Cleopatra. “Khi gặp ông ấy trên trường quay, tôi đã yêu ngay lập tức và từ đó tôi chỉ yêu ông ấy mà thôi”, Liz nói về mối tình sét đánh với Richard Burton, bạn diễn trong bộ phim Cleopatra. Lúc đó Liz vẫn là vợ của Eddie Fisher và bà ngay lập tức ly dị với Fisher rồi 9 ngày sau đó kết hôn với Burton. Mối tình Taylor-Burton đã trở thành chủ đề nóng hổi của báo chí thời đó trong một thời gian dài. Vì chuyện tình cảm của hai diễn viên chính mà sau đó bộ phim bị kéo dài thời gian quay, cát-xê của Liz tăng lên 4 triệu USD. Cleopatra có kinh phí 44 triệu USD (tương đương 287 triệu USD thời nay), vẫn đứng trong danh sách những bộ phim đắt đỏ nhất mọi thời đại. “Tôi luôn thừa nhận rằng mình không thể kiểm soát được tình cảm. Tôi cũng không thể biết được mình đã đến với Richard Burton như thế nào”, Liz viết trong hồi ký. Trong 10 năm bên nhau, mối quan hệ giữa Liz và Richard thường xuyên xảy ra những trận cãi vã nảy lửa. Cả hai quyết định li dị vào mùa hè 1974. Hơn một năm sau khi ly dị, Liz và Richard Burton tái hôn và lại chia tay nhau sau một năm sau. Khi Richard Burton qua đời vào năm 1984, Liz đã đau khổ tột cùng và suy sụp tinh thần. Bà thừa nhận rằng, Richard Burton vẫn luôn là người đàn ông mà mình yêu nhất trong cuộc đời.

Mùa đông 1976, huyền thoại Hollywood bước chân vào lĩnh vực chính trị khi kết hôn với nhà chính khách John Warner của Đảng Cộng hòa. Uy tín của Liz trong làng giải trí đã góp phần giúp John trở thành Thượng nghị sĩ vào năm 1979. Nhưng sau đó không lâu, mâu thuẫn lại xảy ra: “Anh ấy luôn bắt tôi phải mặc thế này, thế kia”, Liz tâm sự trên tờ People năm 2006. Do bất đồng quan điểm, Liz và John ly hôn sau 6 năm chung sống (4/12/1976 - 7/11/1982).

Người chồng cuối cùng của Liz là Larry Fortensky- một công nhân xây dựng. Không chỉ chênh lệch nhau về địa vị xã hội, Larry còn kém Liz tới 20 tuổi. Bất chấp dư luận, Liz kết hôn lần thứ 8. Tuy nhiên sau khi cưới, Larry bắt đầu trở nên lười biếng. Anh nghỉ học cao học, bỏ việc và ở nhà dựa dẫm vào bà vợ nổi tiếng. Cuộc hôn nhân cuối của Liz kéo dài trong 5 năm (6-10-1991 / 31-10-1996). Sau khi ly dị với Larry, Liz tuyên bố sẽ không bao giờ kết hôn lần nữa.

Những năm cuối đời, Liz Taylor phải thường xuyên chống chọi với đủ các loại bệnh nhưng bà duy trì hoạt động có ích cho xã hội vì thế bà luôn được mọi người yêu mến. Không chỉ có người phương Đông mới quan niệm “Thác là thể phách, còn là tinh anh”, mà người phương Tây cũng đánh giá cao những thành tựu trong sự nghiệp và tác động xã hội của những “ngôi sao”, qua đó vinh danh tên tuổi họ sau khi đã qua đời. Liz Taylor có lẽ là một trong những người xứng đáng nhất!

HÀM ĐAN