Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011

ELIZABETH TAYLOR - MỘT CUỘC ĐỜI TRỌN VẸN

1 giờ 30 phút ngày 23-3 vừa qua, huyền thoại điện ảnh Hollywood Elizabeth Taylor qua qua đời tại Trung tâm Y tế Cedars-Sinai ở Los Angeles (Mỹ). Cái chết của “huyền thoại mắt tím” không làm nhiều người bất ngờ bởi từ tháng 2, bà đã phải nhập viện này để điều trị chứng suy tim xung huyết, và nhiều năm trước sức khỏe của bà suy giảm nghiêm trọng khiến bà phải ngồi xe lăn mỗi khi di chuyển. Nhưng ngay sau khi thông tin Elizabeth Taylor qua đời, các nhân vật nổi tiếng này đã chia sẻ sự tiếc nuối trên các trang mạng xã hội; trên khắp các phương tiện truyền thông cũng tràn ngập hình ảnh của Elizabeth Taylor.

Ngôi sao sáng trong thế hệ vàng

Elizabeth Rosemond Taylor (còn được gọi là Liz Taylor) sinh ngày 27 tháng 2 năm 1932 tại Hampstead, London, Anh, là con thứ hai của Francis Lenn Taylor (1897–1968) và bà Sara Viola Warmbrodt (1895–1994), đều là người gốc bang Kansas (Mỹ). Dù mang quốc tịch Anh nhưng cha mẹ Taylor lại là những người Mỹ từng làm nghề buôn tranh nghệ thuật ở St.Louis, Missouri. Ông Franchis đến London để mở một phòng trưng bày tại đây. Người mẹ là diễn viên kịch nhưng giải nghệ sau khi lấy chồng.

Có thể nói, Elizabeth Taylor sinh ra để làm diễn viên điện ảnh. Thừa hưởng vẻ đẹp từ người mẹ diễn viên kịch, ngay từ khi 10, vẻ đẹp của Elizabeth đã được phát hiện và được giao một ai trong bộ phim There’s one born every minute (1942) của Hãng phim Universal với mức thù lao 100 USD/tuần. Ai cũng hiểu vẻ đẹp quan trọng với người diễn viên bởi nhiều khán giả đến rạp chỉ thích những người đẹp diễn xuất, song nếu không có tài năng thì diễn viên xinh đẹp cũng chỉ là “búp bê” tô điểm cho bộ phim mà sẽ chẳng để lại ấn tượng nào về diễn xuất. Thật may, ở Elizabeth Taylor hội tụ cả hai yêu tố trên. Hai năm sau, Taylor được nhận vai chính đầu tiên trong phim National Velvet. Bà thể hiện vai Velvet Brown, đồng diễn với Mickey Rooney. Bộ phim cực kì thành công về mặt doanh thu, hơn 4 triệu USD và đã làm thay đổi cuộc đời Taylor. Bà trở thành ngôi sao nhí sáng giá của MGM và được kí hợp đồng dài hạn với mức lương được nâng lên tới 30.000 USD/năm. Nghiệp diễn của bà kéo dài tới tận năm 2001 với 76 bộ phim nhựa, truyền hình, lồng tiếng phim hoạt hình. Dĩ nhiên, không phải vai diễn nào của bà cũng xuất sắc và làm cho bộ phim trở nên kinh điển bởi điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp mà diễn xuất của diễn viên dù quan trọng nhưng không phải là tất cả. Song với những vai diễn ấn tượng trong gần 10 bộ phim kinh điển với 41 giải thưởng điện ảnh lớn công với các hoạt động từ thiện bà đã nhận các huân huy chương như Bắc đẩu bội tinh (Pháp), tước Quý bà Đế chế Anh (DBE), Huy chương Công dân danh dự của tổng thống Mỹ… đủ để bà bước vào ngôi đền huyền thoại của những người hoạt động nghệ thuật.

Thời kỳ đỉnh cao sự nghiệp của Liz Taylor là vào khoảng những năm 1950 - 1960. Khi đó, bà là nữ diễn viên được trả thù lao cao nhất Hollywood, cũng được xem là người phụ nữ đẹp nhất hành tinh. Taylor bắt đầu trở thành siêu sao của MGM khi nhận được đề cử Oscar nữ chính trong một loạt phim như: Raintree County (1957); Cat on a Hot Tin Roof (1958); và Suddenly, Last Summer (1959). Năm 1960, với vai chính một cô gái yêu một người đàn ông có vợ và chết vì tai nạn giao thông sau đó trong BUtterfield 8, lần đầu tiên Liz Taylor đoạt tượng vàng Oscar vai nữ chính, đưa sự nghiệp của bà tiến đến đỉnh cao. Năm 1962, Taylor lập kỷ lục về giá cát-sê với mức thù lao lên đến 1 triệu USD cho vai nữ hoàng Cleopatra trong bộ phim cùng tên. Có thể nói, đây là mức cát-sê kỷ lục đầu tiên của Hollywood vào thời bấy giờ. Đến năm 1966, Taylor lại lần thứ hai bước lên bục nhận giải Oscar nữa với vai diễn người phụ nữ đanh đá trong phim Who is Afraid of Virginia Woolf?. Liz Taylor chính thức giã từ màn bạc đỉnh cao vào năm 1968 với phim Secret Ceremony. Chính quãng thời gian 20 năm đỉnh cao này, với khả năng nhập vai nhiều nhân vật, khả năng diễn xuất xuất sắc ở từng nụ cười, ánh mắt khiến khán giả nhiều thế hệ không thể nào quên Liz Taylor như là ngôi sao sáng của thế hệ vàng Hollywood như Audrey Hepburn, Ingrid Bergman, Marilyn Monroe… và bà được xếp thư 7 trong số 25 nữ minh tinh điện ảnh Mỹ trong suốt thế kỷ XX do Viện phim Mỹ bầu chọn.

Đời tư sóng gió

Cuộc đời màn bạc của Liz Taylor đã được xem là sôi động, nhiều thăng trầm thì đời tư của Liz Taylor có thể xem là sóng gió nhất so với các ngôi sao làng giả trí từ cổ chí kim. Trong cuộc đời mình, Liz Taylor đã kết hôn 8 lần với 7 người chồng khác nhau. Một phần do bà quá đẹp và có quá nhiều người đàn ông giàu có điển trai vây quanh bởi đôi mắt phớt tím mộng mơ, đa tình, phần nữa do bà sống theo bản năng.

Liz Taylor kết hôn lần đầu khi mới 18 tuổi. Người chồng đầu tiên của bà là chàng đại gia 23 tuổi-thừa kế của tập đoàn khách sạn Hilton, Conrad Hilton Jr-ông này chính là người bác của tiểu thư Paris Hilton. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân vội vàng diễn ra rất ngắn ngủi, trong vòng chưa đầy 9 tháng (6-5-1950 / 29-1-1951).

Hơn một năm sau thất bại của cuộc hôn nhân đầu, Liz tìm thấy tình yêu bên người bạn, tài tử người Anh Michael Wilding. Họ chuyển dần từ tình bạn sang tình yêu và một năm sau ngày cưới, họ hạnh phúc chào đón sự ra đời của con trai đầu lòng-Michael. Christopher, con trai thứ hai của Liz và Michael, cất tiếng khóc đầu tiên hai năm sau đó. Tuy nhiên sau 5 năm chung sống bên nhau (21-2-1952 / 26-1-1957), cả hai ly hôn vì không còn tìm được tiếng nói chung.

Nhà sản xuất phim Mike Todd cầu hôn Liz chỉ vài ngày sau khi bà chia tay Michael Wilding. Hai người tổ chức chính thức là vợ chồng vào ngày 2-2-1957. Kết quả tình yêu của họ là cô con gái Liza, chào đời vào mùa hè năm 1957. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân này của Liz lại kết thúc rất bi kịch khi Mike qua đời trong một tai nạn máy bay vào năm 22-3-1958.

Đau buồn vì cái chết của Mike Todd, Liz tìm nguồn động viên bên ca sĩ Eddie Fisher, bạn thân của người chồng quá cố. Lúc này Eddie cũng đã kết hôn với ca sĩ Debbie Reynolds. Elizabeth bị coi là kẻ thứ ba. Sau này, bà viết trong hồi ký: “Tôi thực sự đau khổ khi xem lại những bức ảnh ngày đó. Họ chú thích tôi là một kẻ cướp chồng người khác”. Liz đã rất cố gắng để duy trì cuộc hôn nhân với Eddie.

Nhưng 5 năm sau, chính bà là người kết thúc nó để ngã vào vòng tay Richard Burton, người bạn diễn trong phim Cleopatra. “Khi gặp ông ấy trên trường quay, tôi đã yêu ngay lập tức và từ đó tôi chỉ yêu ông ấy mà thôi”, Liz nói về mối tình sét đánh với Richard Burton, bạn diễn trong bộ phim Cleopatra. Lúc đó Liz vẫn là vợ của Eddie Fisher và bà ngay lập tức ly dị với Fisher rồi 9 ngày sau đó kết hôn với Burton. Mối tình Taylor-Burton đã trở thành chủ đề nóng hổi của báo chí thời đó trong một thời gian dài. Vì chuyện tình cảm của hai diễn viên chính mà sau đó bộ phim bị kéo dài thời gian quay, cát-xê của Liz tăng lên 4 triệu USD. Cleopatra có kinh phí 44 triệu USD (tương đương 287 triệu USD thời nay), vẫn đứng trong danh sách những bộ phim đắt đỏ nhất mọi thời đại. “Tôi luôn thừa nhận rằng mình không thể kiểm soát được tình cảm. Tôi cũng không thể biết được mình đã đến với Richard Burton như thế nào”, Liz viết trong hồi ký. Trong 10 năm bên nhau, mối quan hệ giữa Liz và Richard thường xuyên xảy ra những trận cãi vã nảy lửa. Cả hai quyết định li dị vào mùa hè 1974. Hơn một năm sau khi ly dị, Liz và Richard Burton tái hôn và lại chia tay nhau sau một năm sau. Khi Richard Burton qua đời vào năm 1984, Liz đã đau khổ tột cùng và suy sụp tinh thần. Bà thừa nhận rằng, Richard Burton vẫn luôn là người đàn ông mà mình yêu nhất trong cuộc đời.

Mùa đông 1976, huyền thoại Hollywood bước chân vào lĩnh vực chính trị khi kết hôn với nhà chính khách John Warner của Đảng Cộng hòa. Uy tín của Liz trong làng giải trí đã góp phần giúp John trở thành Thượng nghị sĩ vào năm 1979. Nhưng sau đó không lâu, mâu thuẫn lại xảy ra: “Anh ấy luôn bắt tôi phải mặc thế này, thế kia”, Liz tâm sự trên tờ People năm 2006. Do bất đồng quan điểm, Liz và John ly hôn sau 6 năm chung sống (4/12/1976 - 7/11/1982).

Người chồng cuối cùng của Liz là Larry Fortensky- một công nhân xây dựng. Không chỉ chênh lệch nhau về địa vị xã hội, Larry còn kém Liz tới 20 tuổi. Bất chấp dư luận, Liz kết hôn lần thứ 8. Tuy nhiên sau khi cưới, Larry bắt đầu trở nên lười biếng. Anh nghỉ học cao học, bỏ việc và ở nhà dựa dẫm vào bà vợ nổi tiếng. Cuộc hôn nhân cuối của Liz kéo dài trong 5 năm (6-10-1991 / 31-10-1996). Sau khi ly dị với Larry, Liz tuyên bố sẽ không bao giờ kết hôn lần nữa.

Những năm cuối đời, Liz Taylor phải thường xuyên chống chọi với đủ các loại bệnh nhưng bà duy trì hoạt động có ích cho xã hội vì thế bà luôn được mọi người yêu mến. Không chỉ có người phương Đông mới quan niệm “Thác là thể phách, còn là tinh anh”, mà người phương Tây cũng đánh giá cao những thành tựu trong sự nghiệp và tác động xã hội của những “ngôi sao”, qua đó vinh danh tên tuổi họ sau khi đã qua đời. Liz Taylor có lẽ là một trong những người xứng đáng nhất!

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

LẠ LÙNG MỘT TÌNH YÊU VIỆT NAM

Có người nói rằng, đa phần các nhà thơ có thành tựu sáng tác đều ít nhiều có những “cú sốc” tâm lý gặp phải trong đời sống, từ đó, việc làm thơ là một cách làm cân bằng đời sống tinh thần. Nếu cần một ví dụ, cuộc đời và sự nghiệp nhà thơ, giáo sư Mỹ Kevin Bowen (Giám đốc Trung tâm William Joiner, Đại học Massachusetts) là một trường hợp điển hình.

Kevin Bowen từng là lính tại Sư đoàn không kị số 1 tham chiến tại Nam Việt Nam trong quãng thời gian 1968-1969. Ra khỏi cuộc chiến nhưng hội chứng chiến tranh Việt Nam đeo bám không thôi, ông bắt đầu sáng tác thơ về cuộc chiến mà ông đã tham gia song song với những hoạt động phản chiến khác như là những hành động chuộc lỗi. Cuối những năm 1980, Kevin có ý tưởng: thông qua giao lưu văn hóa để góp phần làm “ấm” mối quan hệ giữa những cựu thù. Nhiều nhà văn Mỹ khi đó cho rằng kế hoạch Kevin là tốt đẹp nhưng không tưởng trong bối cảnh Mỹ cấm vận Việt Nam và rất nhiều trên đất Mỹ vẫn đem lòng thù hận. Sự kiên trì của Kevin cùng những cộng sự tại Trung tâm William Joiner vượt qua những rào cản hành chính, vụ kiện kéo dài 4 năm và cả những lời đe dọa tính mạng gia đình...., dần dần cũng có thành quả khi các tác phẩm của các nhà văn Việt Nam như Lê Lựu, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Tố Hữu... được dịch sang Anh ngữ và nhiều đoàn nhà văn Việt Nam sang thăm nước Mỹ. Những hoạt động ngoại giao không chính thức nói trên cũng đã góp phần dẫn đến việc Mỹ tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 11-7-1995.

Những đóng góp nhiệt tình vô tư trong việc truyền bá văn học, văn hoá Việt Nam vào Mỹ của Kevin Bowen đã được ghi nhận với Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh 2010 được trao tại TP Hồ Chí Minh vào ngày 25-3-2011, sau đúng 20 năm ông dẫn đầu một đoàn nhà văn cựu chiến binh Mỹ đến Hà Nội để tham gia cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa hai đoàn nhà văn cựu binh Việt-Mỹ. Song, phần thưởng lớn nhất mà Kevin Bowen giành được đó là tình cảm của người dân Việt Nam, không chỉ ở các bạn văn, mà còn là những người dân Việt Nam không quen đều muốn được nghe “ông Tây” cao lớn có nụ cười hiền nói chuyện. Hễ nơi nào Kevin xuất hiện, nơi đó không còn chỗ trống như lần ra mắt tập thơ Khúc hát thành Cổ Loa-tập thơ đầu tiên của Kevin được dịch và in ở Việt Nam vào ngày 22-3 vừa qua.

Nếu như giai đoạn đầu trong sáng tác của Kevin Bowen thường chủ yếu viết về cuộc chiến và những người bên kia chiến tuyến xuất phát từ sự tìm hiểu cuộc sống của một dân tộc nhỏ bé đánh bại những đội quân xâm lược hùng và cũng muốn dùng thơ ca để biến thù thành bạn như những câu thơ đầy khắc khoải trong bài thơ Chơi bóng rổ với Việt Cộng tặng nhà văn Nguyễn Quang Sáng:

Khi ông kể về một ngày kháng chiến
Năm 1954
Ông đã làm ra sao để đánh lừa lính Pháp
Giờ ông đến gõ cửa nhà ta
Gọi chúng ta ra sân chơi vài đường bóng rổ
Sau một hồi ông vụng về, bỡ ngỡ
Những đường bóng gọn gàng tới đích đẹp làm sao

Hơn hai mươi năm sau, trong tập thơ Khúc hát thành Cổ Loa, khi đã phần nào hiểu được tâm hồn người và đất Việt, thơ Kevin Bowen chuyển sang những đề tài bình dị là phản ánh minh triết về đời sống Việt Nam qua những con người vô danh với những công việc bình thường như người bán phở, anh xích lô, chị quét rác... và từ những địa danh có nhiều di tích, danh lam thắng cảnh như: đền Hùng, lăng Tự Đức, chùa Từ Hiếu... Dù viết ở đâu và viết với đề tài gì, nhờ cái nhìn tươi mới nên thơ Kevin khiến người đọc Việt Nam bất ngờ khi tự phát hiện lại những điều quen thuộc qua con mắt của một người ngoại quốc. Cho nên, có thể xem Việt Nam chính là “chứng minh thư” cho sự nghiệp thơ Kevin Bowen. Và đến bây giờ, nhiều người Việt Nam lại muốn tìm hiểu thơ ca và trên hết là tình yêu lạ lùng của một nhà thơ Mỹ dành cho Việt Nam. Thơ ca thì còn lí giải được, nhưng đã là tình yêu thì chắc mãi mãi là bí ẩn.

HÀM ĐAN

Thứ Ba, 22 tháng 3, 2011

TRIỂN LÃM “TUỔI TRẺ ANH HÙNG-TRUYỀN THỐNG VẺ VANG”: ẤN TƯỢNG MẠNH VỚI TUỔI TRẺ

Năm 2011 đánh dấu mốc quan trọng: 80 năm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Đặc biệt hơn khi năm 2011 được chọn là Năm Thanh niên. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đã tổ chức triển lãm với chủ đề “Tuổi trẻ anh hùng-Truyền thống vẻ vang”, khai mạc vào ngày 15-3 vừa qua.

Kịp thời và sáng tạo

Triển lãm đã trưng bày 500 hình ảnh, tài liệu hiện vật và 6 bộ sưu tập của triển lãm với chủ đề “Tuổi trẻ anh hùng-Truyền thống vẻ vang” đã phản ánh những cống hiến của tuổi trẻ Việt Nam trong suốt 80 năm qua.

Điểm nhấn của triển lãm là hai giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ với những gương anh hùng, liệt sĩ trẻ tuổi như La Văn Cầu, Võ Thị Sáu... cùng những kỷ vật tiêu biểu của lớp lớp bộ đội, dân quân du kích, thanh niên xung phong đã hiến dâng tuổi thanh xuân để hoàn thành sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm, thống nhất đất nước. Song, theo Đại tá, tiến sĩ Nguyễn Xuân Năng (Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam), điều mà triển lãm “Tuổi trẻ anh hùng-Truyền thống vẻ vang” muốn khái quát là vai trò của thanh niên đến tiến trình lịch sử dân tộc. Cho nên, triển lãm còn tập trung đến các phong trào Đoàn trong suốt 80 năm qua lôi cuốn hàng triệu thanh niên hăng hái thi đua như: “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong”, “Ba xung kích làm chủ tập thể”, “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”... Một phần lịch sử hào hùng của dân tộc được đánh thức, sống động, gây ấn tượng mạnh với người xem, nhất là lớp trẻ.

Ngoài ra, triển lãm còn sáng tạo khi sắp đặt thêm các bức tranh và pa-nô về lịch sử Đoàn. Theo Đại úy Lò Thị Xuân, cán bộ Phòng nghiên cứu-Sưu tầm-Quản lý nghiệp vụ, góc triển lãm nhằm phổ biến kiến thức về lịch sử của Đoàn cho các bạn trẻ vì đơn giản không phải ai cũng có cơ hội hiểu biết cặn kẽ.

Sự kịp thời và sáng tạo đã khiến triển lãm thu hút rất đông khách tham quan ngay cả khi thời tiết Hà Nội trở lạnh đột ngột vào ngày khai mạc. Bạn Hoàng Anh Tuấn, Sinh viên Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam rất hồ hởi với triển lãm bởi lần đầu tiên bạn được tận mắt xem lọ hoa làm từ vỏ ốc và dây điện hay chiếc súng bắn cá của các chiến sĩ đang làm nhiệm vụ canh giữ quần đảo Trường Sa để cảm phục hơn tinh thần “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” của người chiến sĩ hôm nay. Có suy nghĩ khác, Thượng sĩ Nguyễn Xuân Quốc, Bí thư chi đoàn 2, Tiểu đoàn 6, Trường Đại học chính trị - một trong 80 bí thư Đoàn xuất sắc giai đoạn 2008-2010 của quân đội cho biết: “Qua triển lãm này, bản thân tôi nghĩ các cơ sở Đoàn nói chung và các cơ sở Đoàn trong quân đội nói riêng phải không ngừng sáng tạo trong hoạt động để tổ chức các chương trình, phát huy hơn nữa tinh thần xung kích của thanh niên. Triển lãm “Tuổi trẻ anh hùng-Truyền thống vẻ vang” có thể xem là giờ học trực quan sinh động, bổ sung thêm kiến thức về lịch sử đã được học trên ghế nhà trường”.

Tiếp lửa truyền thống

Thông thường, những khách đến dự triển lãm chỉ đến xem trong chốc lát. Nhưng với triển lãm “Tuổi trẻ anh hùng-Truyền thống vẻ vang” đã có giờ phút đặc biệt mà nhiều người đến dự phải nán lại hồi lâu như phong lương khô chưa kịp dùng của liệt sĩ Lê Văn Phượng (Trợ lý chính trị thuộc BCH quân sự thị xã Quảng Trị) - người quên mình cứu người dân trong trận lũ miền Trung năm 2009.

Khách tham quan còn được nghe những câu chuyện của những nhân vật đã có một thời trai trẻ hào hùng. Những đoàn viên cách đây hơn 40 năm đã viết những bức thư bằng máu để xin ra chiến trường đánh Mỹ giờ đây là cựu chiến binh tóc đã bạc tình cờ gặp các bạn trẻ đoàn viên, họ không hề quen biết nhau nhưng “bắt chuyện” rất nhanh.

Nhiều bạn trẻ đã không khỏi xúc động khi nghe lại những câu chuyện thời thanh niên của cựu chiến binh Trần Thị Bình, nữ quân y tại chiến trường Đường 9, Khe Sanh. Ước mơ lớn nhất của một cô bé mồ côi là trở thành bộ đội và đến khi trưởng thành qua bao lần tuyển lựa cuối cùng mới thành hiện thực. Chắc hẳn, qua câu chuyện của một cựu chiến binh đã dành hết thời tuổi trẻ cho sự nghiệp chung của đất nước, nhiều bạn trẻ đã hiểu cần phải có ước mơ để phấn đấu, nối tiếp truyền thống xung kích đi đầu của thanh niên.

Trước lúc chia tay, những con người ở các thế hệ khác nhau đã cùng hát vang những bài ca của tuổi trẻ: “Đi lên thanh niên, làm theo lời Bác. Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”. Họ hát trong gian phòng triển lãm, họ hát trước tất cả mọi người với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ.

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2011

THỜI ĐÀM (VIII): VINH QUANG CHO NGƯỜI "MỞ ĐƯỜNG"

         Ông tự nhận là người yêu văn chương từ nhỏ nhưng lớn lên lại “trốn” theo nghiệp toán. Đến khi “đời ngoài tuổi năm mươi/ mong gì hương sắc lạ” thì tình yêu văn chương tưởng đã ngủ quên lại bừng giấc, ông quyết định cầm bút viết tiểu thuyết. Như bao người viết mới bước vào nghề, ông cũng phải lần dò “con đường” cho riêng mình. Một bạn văn của ông khuyên: “Sao bác không viết tiểu thuyết về toán học nhỉ?”. Nhà văn “trẻ” liền đáp: “Mình muốn viết tác phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến thế sự hơn là theo đuổi những vấn đề ít người đọc quan tâm!”.

Ngẫm lời khuyên viết văn về toán học kia không phải là hoàn toàn vô ích. Ở các nền văn học lớn đã có những tiểu thuyết lấy các vấn đề khoa học làm chất liệu, xưa thì có tiểu thuyết Hai vạn dặm dưới đáy biển (1870) của nhà văn Pháp J. Verne (1828-1905), gần đây thì có tiểu thuyết Đo thế giới (2005) của nhà văn Đức Daniel Kehlmann viết về cuộc đời của nhà toán học C.F. Gauss (1777-1855) và nhà vật lý-tự nhiên học A. Von Humboldt (1769-1859). Khác một chút, có những tác phẩm tưởng là tiểu thuyết thuần túy lại mục đích viết là để nghiên cứu một vấn đề nào đó như trường hợp tiểu thuyết Tôtem sói (2004) của nhà văn Trung Quốc Khương Nhung dùng câu chuyện tự thuật của nhân vật để nghiên cứu tôn giáo và dân tộc học của người du mục. Ngày nay, người ta gọi hai khuynh hướng trên là tiểu thuyết khoa học.

Nhìn lại văn học Việt Nam hiện đại không khó nhận ra chưa có một tiểu thuyết khoa học nào đúng nghĩa. Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi…những ông vua, ông quan đã là nhân vật chính trong tiểu thuyết nhưng chưa nhà văn nào ở ta viết về chiều kích nhà khoa học như của Trạng Lường Lương Thế Vinh, cùng lắm mới chỉ là anh thợ-“kiến trúc sư” Vũ Như Tô trong vở kịch cùng tên của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Loại tiểu thuyết viết với mục đích nghiên cứu thì thậm chí còn chưa được “mở đường”.

Viết tiểu thuyết vốn đã không phải là thế mạnh của nhà văn Việt Nam, lại thêm tri thức khoa học nặng nề, kén người hiểu thì dù nhiều người có vốn tri thức khoa học dày dạn như nhà văn “trẻ” nọ không dám đi tiên phong cũng là điều dễ hiểu. Song, thiết tưởng, từ cổ chí kim từ Đông sang Tây, lịch sử văn chương ngoài việc ghi dấu những tác phẩm đỉnh cao có giá trị trường tồn thì cũng luôn có chỗ cho những tác phẩm “mở đường”.

Tác phẩm “mở đường” dĩ nhiên thường chỉ có giá trị… mở đường, là “cột mốc” để nhà văn lớp sau đổi mới và vượt qua. Những người hôm nay phải học về tiểu thuyết trước năm 1945 đều phải tìm đọc tác phẩm Tố Tâm (1925) của nhà văn Hoàng Ngọc Phách (1896-1973). Ai đọc xong cũng cảm thấy chán; không chán sao được khi một cốt truyện tình lâm ly giản đơn, ngôn ngữ văn chương cũ mèm cách đây gần 90 năm. Nhưng, nên nhớ đây là tiểu thuyết tâm lý mở đường, ca ngợi tự do luyến ái chống lại cái hủ tục “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, đã thế tính nghệ thuật còn hơn hẳn những tiểu thuyết trước đó của Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu, Hồ Biểu Chánh… Cho nên, dù nghệ thuật tiểu thuyết nước ta đã “trưởng thành” nhưng không ai quên Tố Tâm với tư cách là tiểu thuyết mở đường xuất chúng.  

Trường hợp Số đỏ (1936) của nhà văn Vũ Trọng Phụng là một ngoại lệ khi một tiểu thuyết trào phúng mở đường đồng thời là một kiệt tác đến nay vẫn chưa có tác phẩm nào sánh kịp. Xin nói thêm, kể cũng lạ, một đất nước nổi tiếng là lạc quan và hay cười như nước ta đáng lẽ ra tiểu thuyết trào phúng là thế mạnh ấy vậy mà lại thành của hiếm!

Trở lại câu chuyện về nhà văn “trẻ”, thực ra, lời khuyên vẫn chỉ là lời khuyên, nhà văn muốn có tác phẩm để đời thì thường chỉ viết về đề tài nào ám ảnh anh ta nhất. Toán học dù là thế mạnh về hiểu biết nhưng không gây sự ám ảnh như những câu chuyện thế sự thì sự kiên định đề tài kể trên chứng tỏ nhà văn “trẻ” đang đi đúng đường, chí ít là đã trả lời câu hỏi: “Viết cái gì?”.

Cũng cần nói thêm, tiểu thuyết khoa học nếu viết hay thì tác động tới những vấn đề thời sự không hề nhỏ như thành công của Tôtem sói đã đề cập đến bài học lớn, đó là: con người muốn sinh tồn phải duy trì văn hóa truyền thống và sống hài hòa với thiên nhiên. Vậy nên, đâu cần phải viết về những “đại tự sự”-những câu chuyện lớn thì tiểu thuyết mới có giá trị! Đâu cần phải viết lại và viết tiếp những đề tài “mòn nhẵn” trong khi vinh quang cho người mở đường vẫn còn bỏ ngỏ!

                                                HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2011

OSCAR 2011: THÔNG ĐIỆP VỀ SỰ ĐỒNG CẢM

Bốn diễn viên giành giải Nam và nữ diễn viên chính và phụ xuất sắc nhất: Colin Firth, Melissa Leo, Natalie Portman, Christian Bale (từ phải sang trái). Ảnh: Reuters
(Viết bài gửi báo nhà xong nên mệt phờ ngủ như chết giấc, giờ mới dậy post bài. Hix)

Không có sự góp mặt của phim “bom tấn” nhưng lễ trao giải Oscar 2011 vẫn có sức hút mãnh liệt bởi đơn giản Oscar là giải thưởng điện ảnh lớn nhất và uy tín nhất thế giới. Người ta hồi hộp theo dõi Oscar không chỉ vì những cái tên xướng lên sẽ được vinh danh trong lịch sử mà còn muốn biết thông điệp nào của môn nghệ thuật thứ bảy sẽ được gửi ra với toàn thế giới.

Người ở đỉnh cao, kẻ đợi… lần sau

Lộng lẫy và xa hoa-những tính từ gắn liền với lễ trao giải Oscar; Oscar lần thứ 83 năm 2011 cũng không nằm ngoài ngoại lệ. Song, lễ trao giải Oscar còn gắn với tiếng cười mang tính giải trí. Lễ trao giải Oscar 2011 có thể hoàn hảo, hiểu theo nghĩa không có lỗi từ công tác tổ chức nhưng có lẽ đây là một trong những lễ trao giải nhạt cười nhất với cặp đôi dẫn chương trình là hai diễn viên Anne Hathaway và James Franco chỉ đạt ở mức “tròn vai”.

Oscar lần thứ 83 thực ra chỉ là cuộc chiến tay đôi giữa hai bộ phim The king’s speech (Diễn văn của nhà vua) và The social network (Mạng xã hội). Với những người ưa sự công bằng (đôi khi hơi cào bằng), lẽ ra Mạng xã hội phải giành được một trong hai giải thưởng quan trọng nhất là Phim hay nhất hoặc Đạo diễn xuất sắc nhất nhưng thực tế Diễn văn của nhà vua đã không cho Mạng xã hội một cơ hội nào. Hai giải thưởng còn lại mà Diễn văn của nhà vua giành được cũng rất quan trọng đó là Nam diễn viên chính xuất sắc nhất dành cho tài tử Colin Firth và Kịch bản gốc thuộc về nhà biên kịch David Seidler. Chiến thắng vang dội của Diễn văn của nhà vua lặp lại câu chuyện mấy năm gần đây khi phim giành nhiều Oscar thường thất bại tại Giải Quả cầu vàng được trao trước đó. Lí do rất đơn giản bởi Quả cầu vàng do Hiệp hội báo chí nước ngoài ở Hollywood (HFPA) bầu chọn với những phiếu bầu thường chịu ảnh hưởng bởi doanh thu và thị hiếu khán giả; riêng giải Oscar lại do 5.755 thành viên trên toàn thế giới (chủ yếu là người Mỹ) của Viện Hàn lâm khoa học và nghệ thuật điện ảnh Mỹ (AMPAS) bình chọn với “gu” phim đơn giản, có thông điệp sâu sắc và không nhất thiết phải là “sát thủ phòng vé”.

Khán giả có thể nuối tiếc cho đoàn làm phim Mạng xã hội, song có lẽ đoàn làm phim phải “ôm hận” nhất phải là Inception (Khởi đầu). Bộ phim thậm chí đã không đưa được đạo diễn C. Nolan và nam diễn viên chính là tài tử Leonardo DiCaprio có chân ở các đề cử. Dẫu Khởi đầu cùng giành nhiều tượng vàng nhất như Diễn văn của nhà vua song tất cả chỉ là những giải thưởng phụ; một thất bại “khó nuốt” bởi Khởi đầu xét công bằng là bộ phim hay với tính chất khoa học viễn tưởng nói về việc thâm nhập và đánh cắp bí mật trong giấc mơ với những quy tắc phức tạp. Nhưng biết làm sao được bởi “gu” phim và cũng là tiêu chí của Oscar hướng đến lại “vênh” với những ưu điểm của Khởi đầu.

Việc thất bại một hai lần ở một giải thưởng có tính cạnh tranh cao như Oscar không quá đáng buồn, tấm gương “có công mài sắt có ngày nên kim” gần nhất là “bông hồng nước Anh” Kate Winslet phải lần thứ 5 đề cử mới giành được Oscar lần thứ 81 (2009) cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim The Reader (Người đọc). Điều may mắn cho các thành viên đoàn làm phim Mạng xã hội và Khởi đầu là tuổi đời còn rất trẻ, cơ hội thể hiện lại tài năng vẫn còn rất nhiều.

Đơn giản mà sâu sắc

Nếu Oscar năm ngoái diễn ra trong bối cảnh cả thế giới oằn mình chống chọi với khủng hoảng kinh tế nên thông điệp Oscar mang tính chất thời sự đó là mỗi người cần vượt qua khó khăn hướng tới một cuộc sống trong tương lai tốt đẹp; thì Oscar năm nay trở lại với chủ đề quen thuộc và thông điệp không mới mẻ. Chủ đề các bộ phim giành nhiều đề cử ở Oscar 2011 không hẹn mà gặp lại đề cập đến sự cô đơn, tiêu biểu là hai bộ phim được cho là hay nhất: Diễn văn của nhà vua, Mạng xã hội.

Diễn văn của nhà vua là câu chuyện lịch sử về về vị vua George VI của nước Anh-người đứng đầu đất nước nhưng lại mắc tật nói lắp. Khi thế chiến thứ 2 nổ ra, dân chúng và cả những người thân cần tiếng nói của ông để an dân và vô hình trung nó tạo ra áp lực khiến ông trở nên cô đơn. Mạng xã hội là một câu chuyện đương đại kể về thiên tài Mark Zuckenberg-tỉ phú USD và là “nhà vua” của đế chế ảo: mạng xã hội lớn nhất thế giới Facebook. Nghịch lý trớ trêu là người có thể kết nối hơn 500 triệu người trở thành bạn bè lại không có nổi một người bạn thân nào, thậm chí còn làm rạn nứt quan hệ với những người cộng sự do không biết ứng xử trong những giao tiếp thông thường.

Với người bình thường gặp khó khăn về giao tiếp hoặc gặp một “sự cố” nào đó khiến họ rơi vào nỗi cô đơn như hai nhân vật trong phim thì thường sẽ rơi vào sự im lặng tuyệt đối và biến mình thành một “ốc đảo”. Nhưng với vị trí là những người của công chúng, hai nhân vật trong phim không thể trốn tránh khỏi những va đập với đời sống, nhưng nếu vua George VI đã được chia sẻ, được lắng nghe những nỗi niềm chôn giấu sâu kín qua đó vượt qua được tật nói lắp thì Mark Zuckenberg đến cuối phim vẫn là người cô đơn. Điều anh cần có lẽ vẫn là một người có thể chia sẻ những tâm tư của mình.

Vậy là, có thể rõ thông điệp năm nay mà giải Oscar muốn “tuyên truyền” là dẫu trong một thế giới hiện đại đầy ắp những phương tiện giao tiếp kéo con người lại gần với nhau nhưng sự đồng cảm thật sự để chia sẻ những tâm tư thì vẫn phải phụ thuộc vào chính bản thân mỗi người. Chỉ một khi có sự đồng cảm mới có khả năng xây dựng một thế giới đại đồng như con người hằng mơ ước. Oscar năm nay vinh danh những bộ phim đơn giản mà sâu sắc, tuy không mới nhưng chưa bao giờ cũ.

BOX:

Các kết quả khác của Oscar 2011:

Nữ diễn viên chính xuất sắc: Natalie Portman (Thiên nga đen), Nam diễn viên phụ xuất sắc: Christian Bale (Đấu sĩ), Nữ diễn viên phụ xuất sắc: Melissa Leo (Đấu sĩ), Kịch bản chuyển thể xuất sắc: Mạng xã hội, Phim hoạt hình hay nhất: Câu chuyện đồ chơi 3, Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc: Trong một thế giới tốt hơn (Đan Mạch), Quay phim xuất sắc: Khởi đầu, Nhạc phim hay nhất: Mạng xã hội, Bài hát trong phim hay nhất: Chúng mình thuộc về nhau (Câu chuyện đồ chơi 3), Dựng âm thanh xuất sắc: Khởi đầu, Hòa âm xuất sắc: Khởi đầu, Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc: Alice ở xứ thần tiên, Hóa trang xuất sắc: Người sói, Thiết kế trang phục đẹp nhất:Alice ở xứ thần tiên, Dựng phim xuất sắc:Mạng xã hội, Hiệu ứng hình ảnh tốt nhất: Khởi đầu, Phim ngắn hay nhất: Chúa của tình yêu…

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2011

THỜI ĐÀM (VII): CON DAO HAI LƯỠI

Đầu năm mới, người ta hay có thói quen ngoái lại nhìn những gì đã diễn ra trong năm cũ, với lĩnh vực văn chương, lại thêm một năm “mất mùa”; điều này chẳng còn ai lo lắng vì tác phẩm hay vượt lên phần còn lại không phải năm nào cũng xuất hiện. Không có tác phẩm nào đáng nói thì văn chương vẫn không thiếu chuyện để người ta bàn luận; mới đầu năm, đã xuất hiện một danh sách tổng kết các tác phẩm best-seller (tác phẩm ăn khách) nhất của năm ngoái. Nhưng có vẻ như bước vào năm mới, dư ba của những tác phẩm best-seller cũng nhạt dần, và dự báo sự lặp lại của việc mất hút “không một tiếng vang” như những sách best-seller các năm trước.

Còn nhớ, cách đây vài năm một nhà văn trẻ tuyên bố sẽ viết văn để bán càng nhiều sách càng tốt, qua đó có thể sống ung dung với nghiệp chữ. Lời tuyên bố trên đã làm nhiều người nhíu mày vì ở nước ta, vẫn tồn tại quan niệm văn chương thường dùng để “tải đạo” và “minh đạo” thì việc một sản phẩm cao quý được đánh đồng như là hàng hóa để kiếm lời thì xem ra người viết đã coi thường văn chương. Không biết có phải vì thế mà khi nói đến tác phẩm best-seller người ta chỉ bĩu môi kèm theo câu chép miệng hàm ý mỉa mai: “Tác phẩm best-seller ấy mà!”?

Trở thành best-seller nghĩa là phải chấp nhận biến văn chương là công cụ để giải trí; như thời đại hôm nay việc đọc rõ ràng là kém hấp dẫn hơn các sản phẩm giải trí nghe nhìn khác. Việc viết tác phẩm best-seller cũng đòi hỏi nhà văn những thủ pháp nghệ thuật tối thiểu, chẳng hạn đã là văn xuôi thì muốn hay không cũng cần có một giọng điệu kể chuyện phù hợp với cốt truyện để hấp dẫn người đọc. Cho nên, quan niệm coi thường những người viết văn best-seller là đám viết không có khả năng sáng tạo, và viết một tác phẩm best-seller là điều dễ dàng thực chất chỉ là những tín điều lỗi thời. Nhìn ra thế giới, có những nhà văn lớn cũng đồng thời là nhà văn best-seller như Sir Arthur Conan Doyle (1859-1930)-cha đẻ thám tử Sherlock Holmes, nhà văn Kim Dung (Hồng Kông, Trung Quốc)-bậc thầy tiểu thuyết kiếm hiệp... Họ trở thành những tác gia vì dù họ viết về những đề tài quen thuộc nhưng họ luôn cố gắng dụng công để làm mới tác phẩm của mình. Nhưng những ví dụ trên chỉ là số ít, trên thực tế, văn chương best-seller cơ bản là văn chương viết theo những công thức có sẵn vốn đã quen thuộc trong lòng người đọc như câu chuyện thường được kể theo tuyến tính và có những chi tiết để thắt hoặc mở nút tình huống truyện, nhân vật phải có lai lịch và tính cách rõ ràng... Nên, có người đã ví von rất trúng rằng: Văn chương best-seller không khác gì “con dao hai lưỡi” khi lợi ích kinh tế và danh tiếng sẽ đến nhanh cho nhà văn nhưng đồng thời sự lãng quên cũng chẳng đến chậm nếu như nhà văn thiếu đầu tư cho sáng tác tác phẩm.

Nhiều tác phẩm best-seller Việt Nam xuất hiện là điều đáng mừng bởi nó ít nhiều kích thích văn hóa đọc, giúp văn chương phát triển theo bề rộng rộng và tạo ra quy trình sản xuất và “ăn theo” tác phẩm mang tính chuyên nghiệp. Nhưng vấn đề là tỉ lệ những cuốn sách viết ra với mục đích duy nhất là trở thành sách best-seller ở nước ta lại đang áp đảo các hiệu sách. Chưa nói đến những hệ quả xấu mang tính trực tiếp cho người đọc, nhất là thế hệ trẻ do nội dung các best-seller “ba xu” gắn mác là tác phẩm văn chương kiểu như Sợi xích của ca sĩ Lê Kiều Như; tác động không tốt khác ít được chú ý về quan niệm văn chương của những người viết văn lẫn người đọc đó là toàn thể văn chương chính là các tác phẩm best-seller. Người ta coi thường những tác phẩm khó đọc và cần nhiều thời gian để ngẫm nghĩ trong khi chính những tác phẩm này thường chứa đựng nhiều yếu tố cách tân, giúp văn chương tiến triển.

Nếu có chút so sánh, ở nước ngoài những tác phẩm best-seller cũng chiếm ưu thế phát hành nhưng không quá lấn át văn chương truy tìm giá trị thẩm mỹ; mặt khác người đọc vẫn có cái nhìn tôn trọng đồng thời đón nhận nồng nhiệt những tác phẩm cách tân văn chương.

Đó là điều mà văn chương Việt Nam còn thiếu!

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2011

PHIM ĐỘC LẬP: MẠCH NGẦM CỦA ĐIỆN ẢNH

Mỗi một mùa phim, bên cạnh việc theo dõi các bộ phim bom tấn (block-buster), người mê điện ảnh cũng không quên theo dõi sự xuất hiện của các bộ phim độc lập (independent film). Tuy chưa bao giờ nổi lên chiếm lĩnh thị trường điện ảnh, song phim độc lập vẫn có vị trí quan trọng qua những đóng góp vào sự phát triển của điện ảnh thế giới.

Sức sống bền bỉ
Phim độc lập thường được hiểu là những bộ phim có kinh phí thấp do một cá nhân hoặc một nhà sản xuất đứng ra thực hiện và tìm mọi cách thu hồi vốn sản xuất. Với một ngành nghệ thuật “in” ra tiền như điện ảnh, ngay từ khi còn sơ khai (đầu thế kỷ XX), đã có cuộc chiến giữa những hãng phim “đại gia” muốn vươn lên nắm thế độc quyền qua các hình thức như đẩy giá thành sản xuất phim cao, chiếm giữ các rạp chiếu… để chèn ép các hãng phim nhỏ.

Sau thế chiến thứ 2, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các công đoạn làm phim không còn đắt đỏ như trước, giúp bất cứ ai nuôi mộng làm phim đều có thể tự làm từ A đến Z một bộ phim hoàn chỉnh. Cũng ở thời điểm này, các hãng sản xuất lớn dù đã nắm thế thượng phong nhưng lại thường sản xuất những bộ phim đi theo một khuôn mẫu có sẵn nhằm thu hút khán giả chứ không quan tâm mấy đến đổi mới điện ảnh. Một khi đã bị lạm dụng quá mức, những bộ phim bom tấn sẽ gây nhàm chán và đó cũng là điều kiện khách quan cho sự ra đời của phim độc lập.

Bộ phim độc lập gây chấn động đầu tiên là phim Little Fugitive (Kẻ chạy trốn bé nhỏ, 1953) giành giải Sư tử bạc tại LHP Venice 1953 và hai đề cử Oscar 1954. Từ đây, người ta nhận ra rằng: không cần ngôi sao điện ảnh, không cần nhiều kinh phí, không cần hãng phim lớn đỡ đầu, ai cũng có thể tạo ra bộ phim vừa đốt cháy rạp, vừa giành nhiều giải thưởng uy tín. Từ đây, lợi thế của phim độc lập cũng dần được định hình đó là người sản xuất hoàn toàn triển khai những ý tưởng riêng mình mà không phải lo việc đáp ứng nhu cầu của số đông khán giả nên phim độc lập đã khám phá ra chiều sâu tâm lí con người dưới góc độ tinh tế của điện ảnh, chứ không đầu tư vào những đại cảnh làm “no” mắt người xem.

Không chịu thua kém, các hãng phim lớn cũng nỗ lực đổi mới dựa trên sức mạnh của kỹ thuật điện ảnh để vẫn tiếp tục duy trì vị thế thống trị. Song, các hãng phim lớn cũng nhận ra tầm quan trọng của các bộ phim độc lập trong việc thu hút một lượng khán giả nhất định; và bắt đầu từ đầu những năm 1970, hãng phim lớn này bắt đầu đầu tư cho các nhà sản xuất thỏa sức sáng tạo mà không quá gò ép về mặt doanh thu như việc Hãng Warner Brothers chấp nhận chỉ thu về 60% lợi nhuận từ phim kinh dị Bonnie và Clyde sau khi liên minh với nhà sản xuất Warren Beatty. Phương thức góp vốn làm phim độc lập ngày càng phổ biến, để giờ đây một bộ phim được các hãng phim đầu tư 50% kinh phí sản xuất vẫn được xếp vào là phim độc lập.

Ngày nay, vị thế phim độc lập đã được nâng cao qua con số 15% doanh thu tại rạp chiếu phim ở nước Mỹ; đặc biệt hơn, phim độc lập luôn được đánh giá cao ở các LHP với những chiến thắng lừng lẫy gần đây như: Slumdog Millionaire (Triệu phú ổ chuột) giành được 8 tượng vàng Oscar 2009, The hurt locker (Nơi chứa di vật liệt sĩ) giành 6 giải Oscar 2010 đánh bại siêu phẩm Avatar…

Phim độc lập Việt: Đường đi đã thấy!

Mấy năm gần đây, phim độc lập không còn là điều xa lạ với những người trong nghề ở nước ta. Một phần nhờ các thiết bị làm phim đã “bình dân” hơn nên việc sản xuất một bộ phim đã không coi là mơ ước viển vông. Mặt khác, “sân chơi” dành cho những người làm phim độc lập cũng đã được mở ra với tiệc phim ngắn trực tuyến YxineFF, cuộc thi làm phim trong vòng 48 giờ, LHP Ong vàng…

Dĩ nhiên ai cũng hiểu, việc sản xuất một bộ phim độc lập ngắn thực tế chỉ có hai lợi ích đó là: khẳng định tài năng của người làm phim để qua đó được tín nhiệm giao những dự án lớn hơn; và tích lũy kinh nghiệm để làm việc tập thể bởi điện ảnh không phải là môn nghệ thuật của cá nhân.

Tương lai của phim độc lập Việt Nam ngày một sáng sủa không chỉ bởi số lượng tăng mà còn ghi dấu ấn với việc vươn ra thế giới với bộ phim mở đường Bi, đừng sợ! (2010) của đạo diễn Phan Đăng Di (sinh năm 1976). Sau thành công với kịch bản Chơi vơi (Đề cử kịch bản hay nhất của Giải thưởng điện ảnh châu Á 2009), Bi, đừng sợ! là phim dài đầu tay của Phan Đăng Di sau hai phim ngắn ấn tượng Khi tôi 20 và Sen. Kịch bản Bi, đừng sợ! đã kêu gọi được tài trợ thông qua Giải Dự án châu Á nổi bật LHP Pusan 2007, lựa chọn đến LHP Cannes 2008-hạng mục L’atelier, được tài trợ 10.000 USD từ Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch, 50.000 euro từ World Cinema Fund của LHP Berlin 2008... Phim được sản xuất bởi Le Arte, Sud-est và BHD năm 2009, hoàn thiện hậu kỳ tại Pháp tháng 4-2010. Bi, đừng sợ! đã giành giải thưởng ở các LHP Cannes (Pháp), Thụy Điển, Hồng Kông… Thành công của đạo diễn Phan Đăng Di là thành công đến từ 17 năm kiên trì theo đuổi của cá nhân anh. Thế nên, để có một phim độc lập “tử tế” quả cũng lắm công phu, phim độc lập có những khó khăn riêng chứ không dễ dàng như là một “trò chơi” như nhiều người từng nghĩ.

Những thành công tiếp theo của phim độc lập Việt Nam chắc rằng sẽ còn được nối dài, nhiều khi rất… bất ngờ. Hoàn toàn một bạn trẻ Việt Nam sẽ giành được những giải thưởng danh giá kiểu như Jonas Geirnaert (Bỉ) ở tuổi 21 đã đoạt Giải phim ngắn xuất sắc nhất tại LHP Cannes với phim ngắn 11 phút Flatlife (Cuộc sống chung cư, 2004) vốn là phim định dành để… tốt nghiệp đại học.

Nhưng đó vẫn là mơ mộng ở tương lai, còn vào lúc này, chiếm lĩnh thị trường điện ảnh và là động lực đưa điện ảnh nước ta ngày một chuyên nghiệp vẫn là những phim giải trí đang “lên như diều” với doanh thu cao ngất ngưởng. Nhưng đừng quên đằng sau sự ồn ào của các bộ phim “hot” là “mạch ngầm” phim độc lập!

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 9 tháng 2, 2011

VUA LẠI LÀM VUA?

623 tuần, trong đó có 281 tuần liên tiếp đứng đầu bảng xếp hạng các tay golf nam; đó chính là thành tích vĩ đại của tay golf người Mỹ Tiger Woods đã lập được. Kì tích của Woods đã phá sâu kỉ lục của làng golf và hẳn nó sẽ còn nối dài thêm nếu như không có những bê bối riêng tư.

Chẳng ai ngờ ngày “vua” lại mất ngai sớm đến như vậy. Năm ngoái, T. Woods mới chỉ 35 tuổi-một độ tuổi vẫn còn trẻ ở môn golf và nếu cứ duy trì phong độ, T. Woods hẳn còn tại vị hơn chục năm nữa. Nhưng sự đời chẳng ngờ lại rẽ hướng, xoay vần trong chớp mắt! Đầu năm 2010, vụ scandal tình ái của T. Woods bị báo chí khui ra, dư luận mới ngã ngửa, ngôi sao T. Woods-được xem là mẫu người đàn ông của gia đình có tới... 12 cô bồ; chưa kể, những đêm ăn chơi theo kiểu “nhất dạ đế vương” cứ như trong tiểu thuyết viết về xã hội đen.

Thiệt hại về tài chính đến ngay lập tức, ngoài mất tiền để “bịt mồm” nhân tình, mỗi ngày T.Woods mất 600 ngàn bảng thu được nhờ sử dụng hình ảnh. Ly dị vợ, rồi vào trung tâm cai nghiện sex là hệ lụy sau khi scandal tình ái vỡ lở. Song, điều tệ hại với Woods là thành tích thi đấu của anh xuống dốc không phanh. Trong 12 giải lớn đấu nhỏ mà Tiger Woods tham gia sau vụ bê bối tình ái, vị trí tốt nhất mà anh có được chỉ là thứ 4. Thậm chí tại giải Bridgestone Ivitational diễn ra hồi tháng 8-2010, tay golf người Mỹ còn kết thúc với vị trí 78/79, một thành tích đáng xấu hổ với tay golf được đánh giá là xuất sắc nhất trong lịch sử. Cuối cùng, ngày 31-11-2010 trở thành ngày đáng quên của T. Woods khi anh chính thức mất ngôi số 1 thế giới. Ba tháng sau, Tiger Woods mất tiếp vị trí thứ hai vào tay Martin Kaymer (Đức)-người mới đăng quang tại giải Abu Dhabi HSBC Golf Championship tổ chức ở Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE). T. Woods không thi đấu tại Abu Dhabi, vì thế Kaymer chỉ cần giành vị trí thứ 7 tại giải này sẽ chiếm ngôi số hai thế giới. Những gì mà tay golf 26 tuổi thể hiện ở UAE còn hơn thế. Ở ngày thi đấu cuối cùng, Kaymer đánh ít hơn 6 gậy so với tiêu chuẩn (đạt 66 gậy) và qua đó giành chức vô địch với tổng thành tích 24 gậy ít hơn tiêu chuẩn (264 gậy).

Người ta không ngạc nhiên lắm với việc T.Woods tụt xuống vị trí thứ 3, thậm chí có người bi quan còn cho rằng đó chưa phải “đáy” của lần xuống dốc phong độ bởi lẽ golf là môn thể thao mà muốn chơi tốt cần sự tập trung tinh thần một cách tối đa. Những chuyện không hay ở đời sống đã làm cho Woods bị phân tâm, phong độ không đi xuống mới là điều lạ. Điều mà không chỉ các fan của T. Woods mà cả những người yêu golf quan tâm là: Bao giờ T. Woods sẽ trở lại với phong độ của vị vua làng golf?

Vụ bê bối tình ái của T.Woods cùng thời điểm với những vụ “lâm nạn” của W. Rooney, A. Cole, J. Terry... Thế nhưng, các ngôi sao túc cầu dính vào bê bối tình ái lấy lại phong độ cực nhanh, thậm chí họ còn chơi hay hơn như chưa có gì xảy ra. Người ta tin chính khát khao tự khẳng định mình sau bê bối đã giúp cho các ngôi sao sân cỏ đá bóng hay hơn. Hiển nhiên, phải là một vận động viên thực sự chuyên nghiệp và có tinh thần thép, kể cả “mặt dày”... ngồi xổm trên dư luận mới trở lại đỉnh cao nhanh chóng như vậy. Tinh thần thép trong thi đấu khi còn là “vua” là một chuyện, trở lại làm “vua” sau khi đã “thất thế” lại là chuyện khác. Nếu vượt qua được thử thách lần này, T.Woods mới chứng tỏ anh vĩ đại hơn tất cả những tay golf khác một cách toàn diện!

HÀM ĐAN

GIAN NAN PHÁT TRIỂN PHIM TÀI LIỆU

Điểm son gần đây của điện ảnh Việt là sự trỗi dậy của phim truyện nhựa giải trí. Chính những bộ phim như Khi yêu đừng quay đầu lại, Để mai tính, Cánh đồng bất tận... đang là “đầu tàu” kéo điện ảnh Việt phát triển biểu hiện ở doanh thu tăng chóng mặt; đồng thời là những bước tiến chuyên nghiệp trong quy trình sản xuất.
Trong lúc đang say sưa với thời kỳ phục hưng của điện ảnh Việt, dư luận đã quên mất sự hiện diện của một “người hùng thầm lặng” đó là phim tài liệu. Ví phim tài liệu là “người hùng” bởi lẽ chính phim tài liệu là thể loại phim giành nhiều giải thưởng điện ảnh quốc tế nhất, đặc biệt là giai đoạn từ Đổi Mới đến nay. “Công” thì lớn nhưng chưa bao giờ phim tài liệu lại có thể đường hoàng “sống” nhờ tiền bán vé; đã vậy dù phim có hay đến mấy mà không đoạt giải thưởng nào đó thì ít khi được dư luận chú ý.

Nghịch lý này xuất phát từ sự thờ ơ của khán giả với phim tài liệu. Nếu ở nước ngoài, những bộ phim tài liệu có chất lượng đều ra rạp và có lãi nhờ bán vé, dĩ nhiên lãi chỉ “cò con” không thể nào bằng các phim “bom tấn”; nhưng việc phim tài liệu có khán giả ở rạp, chứng tỏ khán giả nước ngoài không có sự phân biệt các thể loại phim. Ở nước ta thì khác, đa phần khán giả đều cho rằng tất cả những gì được gọi là điện ảnh đều nằm tất ở phim truyện nhựa hoặc phim truyền hình, còn phim tài liệu thì được đánh giá là có cũng được mà không thì cũng chẳng sao. Số ít những người muốn xem phim tài liệu thì cũng không biết có phim tài liệu nào mới, và nếu muốn xem phim cũ cũng chỉ có thể chờ bộ phim đó được chiếu trên truyền hình. Sự lạnh nhạt của số đông khán giả đã khiến hệ thống nhập phim chưa mặn mà với phim tài liệu. Điều này cũng dễ hiểu vì bản thân các bộ phim truyện hay của Hollywood nhiều khi cũng ế chỏng vó như trường hợp phim No country for old men (Không có chỗ cho người già) “chìm nghỉm” ở các rạp Việt Nam trước khi “hot” trở lại với việc giành 4 giải Oscar 2008.

Việc làm cốt yếu mà nhiều người lên tiếng ủng hộ đó là đưa phim tài liệu tới gần khán giả. Ngoài các đợt chiếu phim nhân các ngày lễ lớn, hiện nay, chỉ có Hãng phim tài liệu và khoa học trung ương tổ chức chiếu miễn phí hàng tháng. Hoạt động trên đã được sự hưởng ứng của người xem, đơn cử như buổi chiếu phim tháng 12 rơi đúng vào ngày Việt Nam thi đấu với Ma-lai-xi-a ở trận bán kết lượt đi AFF Suzuki Cup 2010 nhưng khán giả vẫn đến rất đông. Tác động tích cực đã thấy rõ, song nhân rộng hoạt động trên là khó bởi cần kinh phí để thực hiện bởi Hãng phim chỉ có được cấp kinh phí để sản xuất phim chứ không có kinh phí phát hành hay quảng bá phim.

Ngoài việc duy trì quảng bá phim, việc nâng cao chất lượng phim tài liệu hơn nữa cũng cần phải được chú trọng. Mấy năm gần đây, ngoài “anh cả” Hãng phim tài liệu và khoa học trung ương mỗi năm sản xuất hàng chục bộ phim và hàng ngàn mét phim tư liệu thì các Đài truyền hình, các công ty truyền thông cũng đã chú ý sản xuất phim tài liệu; trong số đó, một vài bộ phim đã ghi được dấu ấn đậm nét như Mê Kông ký sự của Hãng phim truyền hình TP Hồ Chí Minh, Ký sự những nẻo đường của VTV... Nhưng nhiều phim tài liệu ra đời chủ yếu làm nhiệm vụ “lấp sóng”, mang tính chất ghi chép thực tế đơn thuần mà không có tính phát hiện một vấn đề ẩn dấu đằng sau thực tế. Chỉ có phát hiện vấn đề mới mẻ và sâu sắc mới ghi lại dấu ấn trong lòng người xem.

Thành tựu huy hoàng trong quá khứ có thể xem là điểm tựa để phát triển phim tài liệu; song để thương mại hóa phim tài liệu mà vẫn duy trì chất lượng nghệ thuật xem ra là việc làm của nhiều tổ chức, với những hành động cụ thể và khoa học.

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 7 tháng 2, 2011

GIẢI MÃ "SÁT THỦ PHÒNG VÉ"

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, phim hoạt hình luôn có những đại diện lọt vào danh sách những phim ăn khách nhất. Đặc biệt như năm 2010, phim Toy Story 3 (Câu chuyện đồ chơi 3) đứng thứ nhất với doanh thu hơn 1,06 tỷ USD. Cho nên, danh xưng “sát thủ phòng vé” mà người ta hay dành gọi phim hoạt hình hẳn không quá lời. Nhưng nguyên nhân nào dẫn đến sự thành công của những “sát thủ” làm vơi ví tiền người xem toàn cầu?

Không chỉ dành cho trẻ con

Nhiều bộ phim hoạt hình được sản xuất từ năm 2000 trở lại đây như Shrek (2001), Finding Nemo (Đi tìm Nemo, 2003), Up (Vút bay, 2009)... thu hút người xem từ 5 tuổi cho đến... 70 tuổi, và điều lạ lùng là mỗi lứa tuổi đều thu được lợi ích khi xem những bộ phim hoạt hình “bom tấn”.

Phim hoạt hình ngày nay đã thoát khỏi cái bóng quá lớn của các bộ phim gây dựng được những hình tượng hoạt hình dành cho trẻ nhi đồng như: Vịt Donal, chuột Mickey, chú chó Snoopy... và những bộ phim dựa trên các truyện cổ như: Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, Người đẹp và quái thú... Những bộ phim kể trên có hình ảnh vui mắt không có nhiều ý nghĩa, cái hài gây cười trong giây lát nên khán giả quên rất nhanh. Phim hoạt hình cách đây hơn 30 năm đã định hình một quan niệm phim hoạt hình chỉ phù hợp với trẻ nhỏ. Quan niệm trên chỉ thực sự sụp đổ khi loạt phim hoạt hình truyền hình The Simpsons (Gia đình Simpson) được phát sóng năm 1989. Mỗi tập phim đều theo sát các vấn đề cuộc sống từ việc ăn chay, kiện tụng, thể thao cho đến bầu cử tổng thống... cho nên mỗi tập phim gần giống như một chương trình thời sự tiêu điểm, hệ quả là ngay lập tức thu hút sự quan tâm của những người trưởng thành chứ không riêng trẻ em.

Đặc sắc trong bất cứ phim hoạt hình nào cũng là tiếng cười, nhưng với Gia đình Simpson đằng sau tiếng cười vui vẻ là những giây phút kết tinh tính nhân văn sâu sắc; ví như trong tập phim Tôi cưới Marge kể về Homer hồi trẻ thất nghiệp phải bỏ Marge đang mang thai. Cuối cùng, Homer cũng tìm được việc làm và lo cho cả gia đình. Người ta cười vì anh chàng Homer vụng về trong việc tổ chức cuộc sống nhưng sự yêu thương để vượt qua khó khăn trong cuộc sống của đôi vợ chồng trẻ nghèo khiến người xem cảm động.

Ngoài việc kế thừa những thành tựu mà Gia đình Simpson đã đi tiên phong, với trí tưởng tượng tuyệt vời, những nhà kịch bản của phim hoạt hình hôm nay còn sáng tạo những kịch bản độc đáo. Phim hoạt hình có thể sử dụng với các nhân vật siêu anh hùng, quái vật không gian... y như các phim khoa học viễn tưởng hay phim hành động mà người lớn vẫn thường xem. Sự kết hợp này đã xóa nhòa ranh giới các thể loại và qua đó thu hút lượng người xem khổng lồ.

Trau chuốt từng chi tiết

Có một kịch bản tốt mới chỉ là điểm khởi đầu, việc chuyển tải kịch bản thành phim là một công đoạn dài và cũng lắm công phu. Nếu Gia đình Simpson cách đây hơn 20 năm thường vẽ bằng tay với công nghệ 2D thì các bộ phim hoạt hình gần đây đều sử dụng công nghệ 3D và 3-D dựa vào các thiết bị chuyên dụng công nghệ cao tiên tiến nhất thế giới. Phim 3D là phim hoạt hình có các hình khối được dựng thành khối ba chiều vẫn nằm trong không gian 2D của màn hình như các phim của Hãng Pixar. Phim 3-D là phim mà các hình khối vượt ra khỏi giới hạn của màn hình 2D nhờ vào hỗ trợ của mắt kính, khiến cho người xem cảm giác như các hình khối trong phim nằm ngay trước mặt mình. Phim hoạt hình không gian ba chiều thực sự tạo ra khoái cảm thị giác cho người xem như những cảnh tuyệt đẹp của Thác Thiên Đường trong phim Vút bay.

Sức mạnh của công nghệ rõ ràng đã làm tăng tính hấp dẫn của hoạt hình; song sẽ là sai lầm nếu nói công nghệ là tất cả để làm nên danh xưng “sát thủ phòng vé”. Bởi lẽ, công nghệ hình ảnh ba chiều bị lạm dụng cũng sẽ dẫn đến sự lặp lại nhàm chán như trong phim thể nào cũng có cảnh đồ vật bay về phía ống kính nhằm làm khán giả vừa thích vừa sợ vì tưởng đồ vật sắp va vào... mặt.

Bí kíp để làm nên bộ phim hoạt hình ăn khách không gì khác là sự trau chuốt từng chi tiết, kể cả những chi tiết tưởng chừng vô tích sự. Nghệ thuật hư cấu, đặc biệt với phim hoạt hình không có diễn viên đóng diễn việc tạo ra sự tự nhiên y như thật. Dĩ nhiên điều sơ đẳng trên phải mất thời gian khá dài xuất phát từ thay đổi tư duy về phim hoạt hình. Hiệu quả thì chỉ cần lấy một ví dụ gần đây, trong phim Vút bay, tình yêu của Carl và Ellie kéo dài 60 năm chỉ chấm dứt khi Ellie qua đời được diễn đạt không một lời thoại “có cánh” nào mà chỉ có cuộc sống thường nhật của đôi vợ chồng đi kèm với bản nhạc nền của M. Giacchino, khiến khá nhiều ông bố dẫn con đi xem phim... khóc. Tất cả chỉ diễn ra trong 10 phút mà nhiều nhà phê bình điện ảnh phải thốt lên: “10 phút thiên tài”.

Một bộ phim hoạt hình cần dễ hiểu mà không dễ dãi, đầy ắp tiếng cười mà vẫn sâu lắng đòi hỏi phải sáng tạo mọi thủ pháp nghệ thuật có thể để đạt hiệu quả tối đa. Nhân vật “quần chúng” sóc Scrat không hề liên quan gì đến các tình tiết trong 3 tập phim Ice Age (Kỷ băng hà) nhưng những tình huống người xem mong chờ nhất vẫn là xem Scrat chôn hạt dẻ. Thêm nữa, trong phim Shrek 2, nhạc phim hành động Mission Impossible 2 (Nhiệm vụ bất khả thi 2) được lồng vào cảnh các nhân vật hoạt hình... vượt ngục tạo ra sự liên tưởng bất ngờ, vô cùng thú vị. Ngay cả đến phần kết sau phim (end credit) cũng tìm cách sáng tạo ra những hình ảnh và các đoạn phim ngắn để giúp tăng hiệu quả tổng thể của bộ phim...

Trên đây, mới chỉ sơ lược những thủ pháp sáng tạo của các nhà sản xuất phim hoạt hình của thời đại hôm nay, thành công của các bộ phim hoạt hình minh chứng cho một thực tế: Không cần những cảnh sex nóng bỏng, bạo lực, hài hước rẻ tiền; phim vẫn hay nếu biết kết hợp giữa trí tưởng tượng của con người cộng với hiệu quả công nghệ tiên tiến.

HÀM ĐAN

Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2011

DƯ LUẬN SAU KHI BỘ PHIM BÍ THƯ TỈNH ỦY KẾT THÚC: BƯỚC NGOẶT CỦA PHIM CHÍNH LUẬN

Bộ phim truyền hình Bí thư tỉnh ủy do Trung tâm sản xuất phim truyền hình Việt Nam (VFC) sản xuất đã chính thức khép lại sau gần 4 tháng trình chiếu liên tục trên kênh VTV1. Ngoài dấu ấn là bộ phim chính luận dài nhất Việt Nam từ trước đến nay, bộ phim còn được khán giả cũng như những chuyên gia đánh giá là bộ phim truyền hình chất lượng, tạo đà cho việc sản xuất các bộ phim chính luận và cả những bộ phim lịch sử dài hơi khác.

Bộ phim “4 sao”

PGS-TS, đạo diễn điện ảnh Trần Duy Hinh cho rằng, nếu chấm điểm theo thang bậc 5 sao thì phim truyền hình Bí thư tỉnh ủy xứng đáng được 4 sao. Theo ông, mục tiêu lớn nhất mà bộ phim đặt ra đã được hoàn thành xuất sắc là nêu lên bài học lớn: đường lối xây dựng đất nước phải xuất phát từ thực tế cuộc sống mới có tính khả thi để đem lại cuộc sống no ấm cho người dân.

Ngoài tính chính luận có giá trị tuyên truyền, bộ phim cũng được khán giả đánh giá cao khi tái hiện lại hoàn cảnh điển hình một thời đại đã qua ở nông miền Bắc thời bao cấp. Bác Ngọc Oanh (cán bộ hưu trí phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội) cho rằng: “Xem phim Bí thư tỉnh ủy, ngạc nhiên ở tài năng của đoàn làm phim khi đã dựng lại những chuyện cách đây mấy chục năm mà vẫn sống động như mới diễn ra. Dù địa điểm nơi câu chuyện phim diễn ra không phải là vùng quê nơi tôi từng sống thời thanh niên, song tôi cứ có cảm giác như chuyện ở quê mình”. Đi vào chi tiết hơn, một khán giả nữ giấu tên ở tỉnh Nghệ An cho hay: “Tôi rất thích các chi tiết về chuyện sản xuất nông nghiệp thời hợp tác xã có trong phim Bí thư tỉnh ủy. Thú thật, hồi trẻ, tôi cũng đã từng có lần làm dối như khi gánh thì một đầu nặng một đầu nhẹ, khi cân thì chỉ cân đầu nặng rồi nhân lên để tính công điểm. Xem phim như được sống lại thời kỳ sản xuất nông nghiệp mà người ta gọi là “cha chung không ai khóc”.

Nói về nhân vật chính bí thư Hoàng Kim, bà quả phụ Lê Thị Liên (nay đã hơn 90 tuổi) của cố bí thư Kim Ngọc-nguyên mẫu nhân vật nhận xét rằng: “Nhìn chung, bộ phim là tốt. Chọn diễn viên là ông Dũng Nhi rất giống ông nhà tôi từ vóc dáng, cho đến cách đi đứng. Và, bộ phim cũng đã nói lên được trăn trở vì nông dân của ông nhà tôi lúc còn đang làm việc”.

Trên kia là đánh giá của những người từng trải qua thời kỳ báo nên ít nhiều có thể đồng cảm được với nội dung phim Bí thư tỉnh ủy; nhưng với khán giả trẻ sinh ra khi đất nước đã bước vào thời kỳ Đổi mới thì tác động của bộ phim khá hạn chế. Khảo sát nhanh nhất là trên các diễn đàn mạng của giới trẻ và đặc biệt là các chuyên trang về điện ảnh, ít thấy xuất hiện chủ đề bàn luận về bộ phim. Song, cũng có một số ít bạn trẻ theo dõi không sót tập nào chẳng hạn như nhóm sinh viên ở ký túc xá trường Đại học văn hóa Hà Nội. Dù trời lạnh cắt da, họ vẫn tập trung trước màn hình để xem những tập cuối của bộ phim. Khi được hỏi lí do theo dõi bộ phim Bí thư tỉnh ủy, các bạn sinh viên trả lời rằng: xuất thân các bạn đều từ vùng nông thôn, nên… tò mò muốn biết thời báo cấp, người nông dân đã sống như thế nào? Nhưng sau khi theo dõi bộ phim lại cảm thấy khâm phục nhân cách người lãnh đạo như bí thư tỉnh ủy Hoàng Kim.

Qua những khảo sát sơ bộ có thể thấy rằng: bộ phim Bí thư tỉnh ủy là một trong những bộ phim truyền hình tạo được dấu ấn nhất trong năm 2010.

Vừa làm vừa rút kinh nghiệm

Bên cạnh những lời khen, bộ phim cũng nhận được những góp ý của khán giả về những khuyết điểm chẳng hạn trang phục đôi chỗ không phù hợp với nhân vật, lời thoại chưa tự nhiên… Ngay từ khi phim chưa khởi chiếu, bản thân đạo diễn Quốc Trọng đã thừa nhận những khuyết điểm nói trên; ông viện lí do là do thiếu những điều kiện cần thiết để có thể thực hiện bộ phim tốt hơn. Đúng như đạo diễn Quốc Trọng tâm sự, quả thật, nếu đặt bộ phim vào bối cảnh chung của nền điện ảnh Việt Nam thì những khuyết điểm trên là điều khó tránh khỏi. Một khi quy trình làm phim truyền hình chưa chuyên nghiệp như việc chưa có trường quay cho từng giai đoạn lịch sử cụ thể, chưa có những người chuyên môn có tay nghề về trang phục và đạo cụ như hiện nay thì chưa thể đòi hỏi một phim chính luận lấy bối cảnh đã qua của nước ta lại có thể sánh cùng với các bộ phim truyền hình lịch sự của nước châu Á như: Ông trùm (Hàn Quốc), Cuộc đời tôi (Trung Quốc), Oshin (Nhật Bản)…

Đồng ý với ý kiến của đạo diễn Quốc Trọng về hạn chế của bộ phim, PGS-TS, đạo diễn Trần Duy Hinh lý giải thêm: Vì là một bộ phim truyền hình nên việc phải tãi cốt truyện để kéo dài nhiều tập phim nên việc xuất hiện nhiều tình tiết và cả lời thoại thừa, lặp và thiếu tự nhiên là điều hiển nhiên ngay cả các bộ phim truyền hình ở các nước tiên tiến cũng đôi khi vấp phải. Song, điều quan trọng nhất là cấu trúc bộ phim Bí thư tỉnh ủy đã cân đối được giữa việc trung thành với sự thật lịch sử mà vẫn có những yếu tố hư cấu nên không nhạt nhẽo như các bộ phim hoặc là quá nệ sử hoặc hư cấu quá mức. Cho nên, sản xuất được một bộ phim chất lượng như phim Bí thư tỉnh ủy là một nỗ lực đáng khen của ê kíp sản xuất. Quan trọng hơn, với vai trò như một bộ phim thử nghiệm, bộ phim Bí thư tỉnh ủy đã giúp đoàn làm phim thu được nhiều kinh nghiệm cho những bộ phim chính luận tiếp theo.

Nếu đầu tư có chiều sâu hơn như những gì đã đầu tư sản xuất bộ phim Bí thư tỉnh ủy, tương lai của dòng phim chính luận trở thành dòng phim chủ đạo ở nước ta phải chăng sẽ không còn xa?

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 19 tháng 1, 2011

VĂN HỌC VIỆT ĐẦU NĂM 2011: "MỞ HÀNG" ẤN TƯỢNG


Kết thúc năm 2010 lại thêm một năm văn học Việt Nam kéo dài của tình trạng “mất mùa” như các năm trước với hai biểu hiện chính là không có tác phẩm bán chạy (best-seller) cũng như không có tác phẩm có giá trị văn chương mang tính đột phá. Song thật bất ngờ, ngay trong tháng đầu tiên của năm mới 2011, hàng loạt cuốn sách văn học có giá trị được xuất bản tạo được sự chú ý của dư luận; đặc biệt hơn, ngoài các tác phẩm hư cấu (fiction), còn xuất hiện các sách phi hư cấu (non-fiction).

Các nhà phê bình lên tiếng

Lâu nay, người ta hay than phiền nào là phê bình không chuyên nghiệp, hoặc như không có các công trình chuyên sâu. Thực ra, những lời phê phán ấy chưa hẳn chính xác. Ngoài số đông những người viết phê bình văn học nghiệp dư trên báo chí với những lời phê bình cảm tính làm nhiễu loạn cách thẩm định tác phẩm thì vẫn còn có một vài nhà phê bình văn học học thuật âm thầm làm việc một cách nghiêm túc, dằn lòng chờ ngày trình làng “đứa con” cứng cáp. Đầu năm 2011, PGS-TS, nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy trình làng cuốn chuyên luận Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy (NXB Hội nhà văn và Nhã Nam) song song với việc tái bản chuyên luận Hồ Xuân Hương-hoài niệm phồn thực (NXB Văn học và Song Thuy Bookstore) sau 11 năm ra mắt. Nếu cuốn sách tái bản đã được giới chuyên môn đánh giá là cuốn chuyên luận công phu về lí giải đích đáng tính dâm tục trong thơ Hồ Xuân Hương dưới cái nhìn từ tín ngưỡng phồn thực và khái niệm “vô thức tập thể” của nhà phân tâm học người Thụy Sĩ C.G. Jung (1875-1961); thì cuốn sách Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy lại là một công trình đầu tiên xâu chuỗi lịch sử tư tưởng phê bình Việt Nam từ khi hình thành đến nay đi kèm với đó là những dẫn nhập ngắn về các lý thuyết phê bình văn học đã hiện diện ở Việt Nam cùng với các gương mặt nhà phê bình văn học Việt tiêu biểu.

Một nhà phê bình kì cựu khác là GS-TS Đỗ Văn Khang cũng mới xuất bản cuốn sách Bình văn hiện đại (NXB Lao động). GS-TS Đỗ Văn Khang nổi lên từ thời kỳ Đổi mới văn học những năm 1980 với các bài luận chiến văn chương mạnh mẽ. Đúng như nhan đề cuốn sách, các bài viết trong tập sách chủ yếu là những bài bình văn, hoặc tranh luận của cá nhân tác giả thiên về những cảm xúc văn chương. Dẫu chỉ là cuốn sách tuyển các bài viết lẻ đã đăng rải rác trên các báo trong suốt mấy chục năm qua chứ không phải là một chuyên luận nghiên cứu có tính hệ thống nhưng cuốn sách cũng hàm chứa ít nhiều tính khoa học khi tác giả đã có chủ ý sử dụng lý thuyết phê bình văn học trong từng trường hợp cụ thể.

Hai cuốn sách phê bình văn học của hai nhà phê bình tên tuổi một lần nữa minh chứng cho sự tồn tại âm thầm nhưng có vị trí quan trọng của phê bình học thuật so với phê bình báo chí và qua đó khẳng định phê bình văn học cần phải có nền tảng khách quan khoa học mới mong tiệm cận và lí giải thấu đáo, thuyết phục các tác phẩm có giá trị.

Xuất hiện “cú sốc” tác phẩm

Ngay từ đầu năm, tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn (NXB Hội nhà văn và Nhã Nam) của cố thi sĩ Trần Dần (1926-1997) đã được các nhà phê bình văn học xem như “cú sốc” văn học đầu tiên của năm 2011. Sở dĩ nói vậy bởi lẽ cuốn tiểu thuyết có những cách tân nghệ thuật tiểu thuyết ở các phương diện ngôn ngữ, cấu trúc, giọng kể, điểm nhìn… từ một cốt truyện trinh thám hấp dẫn dành cho đại chúng. Mặt khác, cần đặt cuốn tiểu thuyết này vào hiện trạng tiểu thuyết không phải là thế mạnh của văn học Việt Nam, và tác giả lại là nhà thơ, đặc biệt hơn khi cuốn tiểu thuyết được viết cách đây gần 50 năm mới thấy hết giá trị của cuốn tiểu thuyết.

Trong những nhà văn chuyên nghiệp có tên tuổi khác cũng cũng xuất bản các tập truyện ngắn đó là Ngô Phan Lưu với Con lươn chép miệng (NXB Văn học và Nhã Nam), Bùi Ngọc Tấn với Người chăn kiến (NXB Hội nhà văn và Nhã Nam)... cũng đang được bạn đọc đánh giá cao và lọt vào danh sách các tác phẩm bán chạy. Dịch giả Trịnh Y Thư-người nổi tiếng với bản dịch Đời nhẹ khôn kham của Milan Kundera và Căn phòng riêng của Virginia Woolf (1882-1941) cũng lần đầu tiên xuất bản một tập truyện sáng tác là tập truyện ngắn Người đàn bà khác (NXB Thế giới và Song Thuy Bookstore) cũng được ghi nhận như một nỗ lực cách tân truyện ngắn bằng lối viết văn phân tích mới lạ so các kỹ thuật viết truyện ngắn quen thuộc trước đây.

Tiếp bước thành công của tác phẩm ăn khách Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, nhà văn của tuổi mới lớn Nguyễn Nhật Ánh lại xuất bản tiếp cuốn sách Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (NXB Trẻ). Dưới hình thức một nhật kí, cuốn sách đã phản ánh một cách sinh động và vô cùng hấp dẫn các câu chuyện chỉ riêng có ở tuổi thần tiên. Hơn 15.000 bản in được tiêu thụ là minh chứng rõ nhất cho một hiện tượng best-seller đầu tiên của năm 2011.

Đầu năm 2011, cũng là năm mà văn học trẻ trở lại rầm rộ sau một thời gian vắng bóng với Yêu bằng tai của Nguyên Hương (NXB Trẻ), Hoàng tử và em (NXb Trẻ) của Meggie Phạm, Dựa vào vai em và khóc đi anh (NXB Hội nhà văn) của Hà Thanh Phúc, Em là để yêu (NXB Thời đại) của Phan Ý Yên, Nói là anh nhớ em đi (NXB Hội nhà văn) của Phan Anh… Xuất hiện nhiều như vậy song văn học trẻ vẫn chưa thoát khỏi sự dễ dãi của văn chương học trò để dấn thân vào những khám phá nghệ thuật nhằm phản ánh có chiều sâu tâm lý con người. Đây chính là lý giải vì sao văn học trẻ Việt Nam chưa có những tác phẩm lớn kiểu như Buồn ơi, chào nhé như của nữ nhà văn Pháp F. Sagan (1935-2004). Dĩ nhiên, với lối viết trên nó cũng phần nào đáp ứng nhu cầu đọc của một bộ phận giới trẻ đọc sách để giải trí ở thời đại hôm nay.

Điểm qua các cuốn sách “mở hàng” có chất lượng nghệ thuật và cũng là những best-seller xuất bản trong tháng đầu tiên của năm 2011 có thể kì vọng đây là năm bội thu tác phẩm văn học chứ không phải chỉ có những sự kiện văn học xôm trò. Còn 11 tháng nữa mới hết năm 2011, sẽ hàng trăm cuốn sách văn học Việt nữa ra đời, hy vọng trong số đó sẽ có thêm nhiều tác phẩm hay được xuất bản, chỉ có tác phẩm hay mới nâng tầm văn học Việt; qua đó, góp phần thúc đẩy văn hóa đọc phát triển ngày một sâu rộng.

HÀM ĐAN

Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2011

TRƯỚC LỌT TRẬN BÓNG ĐÁ CHÂU ÂU CUỐI TUẦN: NÓNG BỎNG "NỘI CHIẾN ANH"


Ngoại hạng Anh: Vòng đấu của derby

Trong một mùa giải, ngoài một vòng đấu tâm điểm dành cho tứ đại gia, Ban tổ chức Ngoại hạng Anh cũng sắp xếp một vòng đấu cho các trận derby; và vòng 23 này chính là vòng đấu của những đội đóng đóng đô cùng cõi nhưng lại là những đối thủ không đội trời chung.

Trận derby đáng chú ý nhất là trận nội chiến vùng Merseyside giữa Liverpool và Everton (21 giờ ngày 16-1 giờ Việt Nam). Những năm trước, “quỷ đỏ” Liverpool luôn ở thế thượng phong với người hàng xóm khoác áo xanh. Song khi mùa giải đã đi qua hơn một nửa chặng đường, Liverpool đang giậm chân ở số 13 đen đủi và bi đát hơn vị trí này còn dưới người hàng xóm Everton một bậc. Trong trận đấu của những người khốn khổ này, ai cũng muốn thắng không chỉ vì danh dự đơn thuần mà chính vì điểm số. Nếu Liverpool thắng thì đây là lần thắng đầu tiên sau 3 trận HLV và huyền thoại “quỷ đỏ” Ken-ni Đa-lít dẫn dắt. Lịch sử bóng đá có khá nhiều trường hợp là nếu thắng ở những trận quan trọng như trận derby thì phong độ dẫu đang sa sút thì lập tức lại thắng như chẻ tre trở lại.

Tình cảnh của đội bóng ở thủ đô West Ham United trước trận derby London với Arsenal (0 giờ 30 phút ngày 16-1 giờ VN) lại không thể tồi tệ hơn bởi họ chính là đội bóng xếp cuối bảng. Dù trong trận derby mọi dự đoán thường ít chính xác, song việc West Ham mà thắng Arsenal-đội bóng xếp thứ 3 lúc này chẳng khác nào là chuyện cổ tích. Mặt khác, sau trận thua Ipswich Town ở League Cup, HLV Arsene Wenger đã tuyên bố sẽ hủy diệt West Ham để “giải đen”. Và nhiều khả năng, sau trận derby London, A.Gờ-ran sẽ là HLV tiếp theo mất việc.

Một trận derby đáng chú ý khác là trận đấu vùng Đông Bắc nước Anh giữa “mèo đen” Sunderland và “chích chòe” Newcastle (19 giờ ngày 16-1 giờ VN). Hiện tại, vị trí của hai đội bóng có đội hình làng nhành này đang ở nửa trên bảng xếp hạng. Thế nên, trận derby sẽ càng hấp dẫn bởi ai cũng muốn nối dài giấc mơ càng lâu càng tốt.

Serie A và La Liga: Cơ hội bứt tốp

Ở Serie A lúc này, AC Milan đang dẫn đầu ở bảng xếp hạng với 40 điểm bỏ cách đội xếp Lazio 4 điểm. Ở vòng đấu vào cuối tuần này, AC Milan sẽ thi đấu với đội bóng xếp thứ 3 từ dưới lên là Lecce (2 giờ 45 phút ngày 17-1 giờ VN). Đây là cơ hội không thể tốt hơn để AC Mialn bứt tốp khi đối thủ Lazio sẽ phải đội bóng có lối chơi khó chịu là Sampdoria. Cũng ở vòng đấu này, những đội bóng mạnh khác là Inter Milan và Juventus cũng sẽ chỉ tiếp những đội bóng yếu, chiến thắng cho hai đội bóng đại giá là điều dễ dự đoán song với cách biệt gần 10 điểm, AC Milan hoàn toàn thảnh thơi tăng tốc mà không lo hơi nóng những đội bóng có thực lực phả sau lưng.

Ở La Liga, câu chuyện đáng quan tâm nhất vẫn liên quan đến Barcelona và Real Madrid. Cuối tuần này, đối thủ của Barcelona là đội bóng đang chôn chân vị trí thứ 16 Malaga (3 giờ ngày 17-1 giờ VN), đối thủ của Real Madrid còn dễ “xử lý” hơn là Almeria-đứng áp chót bảng xếp hạng. Việc một trong hai gã khổng lồ này xẩy chân trước hai đội tí hon sẽ là một bất ngờ lớn. Thế nên, khoảng cách 2 điểm mà Barcelona đang dẫn Real Madrid sẽ vẫn được duy trì và đây lại là cơ hội để hai đội dẫn đầu bỏ xa nhóm bám đuổi. Sự thay đổi vị trí có lẽ phải chờ ở những trận đấu lớn hơn giữa hai đại gia La Liga với các đối tủ sừng sỏ khác như Valencia, Villareal, Sevilla... và nhất là trận siêu kinh điển lượt về.

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

THỜI ĐÀM (VI): THƠ VÀ SỰ ĐỔI MỚI

Việc đổi mới nghệ thuật từ xưa đến nay chưa có ai tuyên bố là việc dễ dàng, riêng với thơ xem ra còn khó khăn bội phần. Điều làm đau đầu các nhà thơ trong việc thể nghiệm đổi mới thơ ca không phải ở câu hỏi đầu tiên: Đổi mới để làm gì? Mục đích cụ thể để đổi mới ở mỗi nhà thơ thì khác nhau, song tựu chung có thể thấy các nhà thơ đều muốn lưu lại dấu ấn cá nhân trong các thi phẩm. Sẽ chẳng có gì buồn hơn nếu thơ mình làm ra lại giống thơ ông bạn, na ná thơ của các cụ và tệ hơn giống thơ mình cách đây… vài chục năm. Có nhà thơ đã than thở trong lời nói đầu một tập thơ mới xuất bản rằng: vài năm nay làm thơ theo những ý, những tứ đã mòn. Sẽ nhiều người băn khoăn với tâm sự của nhà thơ nọ: Đã biết là cũ sao vẫn cứ viết? Sao không đổi mới? Nhưng việc đổi mới thơ đâu cứ muốn là được. Từ đây, xuất hiện câu hỏi mới: Đổi mới thơ như thế nào?-đây mới chính là câu hỏi mà nhiều nhà thơ trăn trở.

Đổi mới thơ thật ngạc nhiên lại xuất phát từ quan niệm về chính bản thân thơ. Ngay từ đầu thế kỷ XX, từ giới lý luận thơ đến các nhà thơ đều có sự phân biệt rõ ràng giữa ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ văn chương. Ngôn ngữ đời sống thì chỉ chú ý đến thông tin, còn ngôn ngữ văn chương ngoài mang tính thông tin giao tiếp còn mang thông tin thẩm mỹ. Với ngôn ngữ thơ, thông tin thẩm mỹ được đặt lên hàng đầu. Từ đó, ngôn ngữ trong thơ không còn là công cụ để nhà thơ chuyển tải tư tưởng mà bản thân ngôn ngữ chính là mục đích để đổi mới đúng như nhà lý luận thơ hàng đầu thế giới người Nga Roman Jakobson (1896-1982) viết: “Thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh”. Cho nên, người ta mới hay nói bản chất ngôn ngữ thơ là “mờ đục” chứ không phải quan niệm khá phổ biến ở nước ta cho rằng thơ phải rõ ràng, trong sáng, có gì nói nấy kiểu “thật thà như đếm”; nếu vẫn quan niệm thì muôn năm thơ sáng tác ở thời hiện đại vẫn sẽ giống ca dao tục ngữ của ngàn năm trước mà chẳng có chút thay đổi nào.

Việc đổi mới thơ nói riêng và công việc sáng tác nói chung hoàn toàn là việc làm của cá nhân, mang tính tự nguyện và mang tính tự nhiên chứ chẳng thể bắt ép, chẳng thể dạy hay bắt chước. Quá trình đổi mới là một quá trình tự “lột xác” nội tâm đau đớn. Đến đây, nhiều người sẽ nghĩ chắc mấy ông nhà thơ lại quan trọng hóa vấn đề bằng những ví von to tát. Sự thực chẳng quá lên một chút nào. Một khi động bút thể nghiệm một cách diễn đạt mới, nhà thơ sẽ gặp cản trở từ những quan niệm lỗi thời về thơ của số đông người viết theo lối mòn và người đọc đã bị “tự động hóa”. Điển hình nhất là thời kỳ Thơ Mới 1932-1945, các nhà thơ đổi mới hồi ấy như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư… sáng tác các thể thơ tự do chịu ảnh hưởng từ thơ ca phương Tây đã bị lớp nhà thơ cũ làm thơ niêm luật chặt chẽ ảnh hưởng của thơ ca Trung Quốc tẩy chay, chửi bới là bọn “mất gốc”, là đám nhà thơ không làm được thơ niêm luật nên mới đi làm thơ tự do. Nhưng rồi, Thơ Mới đã toàn thắng và đi vào trong tâm thức người đọc. Đến nay, sau hơn bảy mươi năm, chính bản thân Thơ Mới lại cũng đã trở thành cũ; vậy là một lần nữa, đòi hỏi cách tân thơ lại đặt ra cho các nhà thơ đương đại phải thoát khỏi những khuôn sáo mà thời Thơ Mới để lại. Việc đổi mới thơ không có nghĩa là vứt bỏ thơ cũ, không ai bảo Thơ Mới không còn có giá trị, Thơ Mới đã trở thành cổ điển-đã trở thành khuôn mẫu của thơ ca của thời đại mẫu người cá nhân đầu tiên ở đô thị Việt Nam thời Pháp thuộc. Những người của thế kỷ XXI, có những cách sống và lối nghĩ khác tiền nhân vì vậy cần có thơ mới cho lớp người mới này.

Với các nhà thơ có tầm vóc, sự đổi mới thơ còn diễn ra trong bản thân các chặng sáng tác. Bước vào giai đoạn sáng tác mới họ phải quên đi những thành tựu mình làm được và bắt đầu lại từ đầu theo quy trình “phủ định của phủ định”. Như trường hợp Chế Lan Viên, các tập thơ sau 1954 của ông không chỉ đơn thuần là sự thay đổi nội dung, quên đi sự u buồn trong tập Điêu tàn (1937) mà còn là sự đổi mới hình thức thơ một cách ngoạn mục. Chế Lan Viên là người uyên bác, ông thừa hiểu đổi mới kỹ thuật thơ với những thủ pháp tân kì để tự kiến tạo con đường thơ của riêng mình thì thơ ông mới có thành tựu ảnh hưởng đến mai sau.

Đáng buồn, lớp hậu sinh không mấy người có tầm tư duy sắc sảo như thi sĩ họ Chế. Như trong một hội nghị, một nhà thơ chuyên nghiệp, đọc một tham luận để bảo vệ rằng thơ phải có vần, trong khi ai cũng biết thơ đương đại có vần hay không chẳng liên quan gì đến giá trị của bài thơ. Đọc tham luận xong, ông nhà thơ nọ nói nhỏ với ông bạn thơ ngồi bên cạnh: Tớ bây giờ đứng về phe bảo thủ rồi! Biết là mình đã bảo thủ mà vẫn khăng khăng bảo vệ những quan niệm cái cũ để dìm cái mới thì đúng là không còn gì để nói. Cứ tư duy và hành động như thế thì làm sao thơ Việt có thể ngang tầm thế giới!

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Ba, 4 tháng 1, 2011

CHỜ "NGƯỜI ĐI QUA THUNG LŨNG"...


Vào 20 giờ ngày 14-1, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, vở nhạc kịch “Người đi qua thung lũng” sẽ được công diễn lần đầu tiên tại Việt Nam. Ngoài việc đóng vai trò là sự kiện này sẽ kết thúc chương trình “Năm Đức ở Việt Nam”-nhân kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giữa Việt Nam và CHLB Đức thì vở nhạc kịch còn hứa hẹn là tác phẩm sân khấu lớn và có tính nghệ thuật cao trong trong đời sống sân khấu nước ta trong mấy năm trở lại đây.

Dự án hoành tráng

“Người đi qua thung lũng” là vở nhạc kịch của Pierre Oser viết cho các diễn viên, vũ công và dàn nhạc giao hưởng, dựa trên phần thoại của Tankred Dorst có sự tham gia của của Viện Goethe Hà Nội, Nhà hát nhạc vũ kịch Việt Nam và Học viện âm nhạc quốc gia.

Vở kịch “Người đi qua thung lũng” gồm 19 cảnh được dựng dựa trên câu chuyện thần thoại Trung Âu thời Trung Cổ. Nội dung thần thoại kể về Parzival-một đứa trẻ ngô nghê, hoang dã nhưng hiếu chiến, sống một mình với mẹ là Herzeloyde trong rừng rậm. Xuất phát từ ký ức người chồng hy sinh trong chiến trận nên Herzeloyde đã cách ly cậu con trai khỏi mọi hiểm nguy của trần thế, vì thế Parzival trở thành người không biết tình thương và lẽ phải. Parzival lao vào những trận chiến nhưng rồi chàng nhận ra sự vô ích của những hành động phá hoại của mình. Khi tỉnh ngộ, Parzival đã gặp được Blancherfleur-người phụ nữ mà chàng yêu say đắm. Sự tích về Parzival từ khi xuất hiện đã rất nổi tiếng và được sử dụng làm đề tài cho vô số các tác phẩm văn học, kịch nói, ca kịch và điện ảnh.

Dự án nhạc kịch “Người đi qua thung lũng” không phải là lần đầu tiên có sự kết hợp làm việc các nghệ sĩ trong nước và các nghệ sĩ quốc tế, song về quy mô thì đây là một trong những dự án lớn nhất. Quy mô dự án có thể hình dung qua hàng trăm nhân sự tham gia trực tiếp và gián tiếp bao gồm: Ca sĩ, diễn viên, nhạc công, vũ công, may phục trang do phía Việt Nam đảm nhận. Khối lượng lớn công việc còn lại do các phía bạn phụ trách, bao gồm: nhà soạn nhạc, chỉ huy và nhạc sĩ Pierre Oser và dàn nhạc giao hưởng; ca sĩ giọng nữ trung Silvia Modden phụ trách kỹ năng phát âm của các ca sĩ, cùng với các trợ lý là Ngô Hoàng Linh, Ngô Phương Đông và Vũ Thanh Dương. Đạo diễn của vở nhạc kịch là nữ đạo diễn Beverly Blankenship, hỗ trợ bà sẽ là nghệ sĩ Nguyễn Thị Huyền Nga, biên đạo múa Hans Henning Paar và Nguyễn Hồng Phong, họa sĩ sân khấu và thiết kế ánh sáng là nghệ sĩ Andreas Lungenschmid và họa sĩ Đỗ Doãn Bằng…

Tất cả những nghệ sĩ hết mình vì nghệ thuật của Việt Nam và Đức đã tập luyện ròng rã trong hơn 2 tháng trời để mong muốn giới thiệu cho công chúng Việt Nam một màn trình diễn nghệ thuật đỉnh cao, chứa đựng chiều sâu của văn hóa châu Âu.

Kĩ lưỡng từng chi tiết

Với một sự dự án nhạc kịch lớn như “Người đi qua thung lũng” việc lựa chọn diễn viên là điều cực kì quan trọng. Các nghệ sĩ giàu kinh nghiệm và quen thuộc trên sân khấu, điện ảnh và truyền hình là NSƯT Bùi Như Lai (vai Parzival) và NSƯT Nguyễn Trung Hiếu (vai Merlin) cùng với nhiều ca sĩ, vũ công danh tiếng của Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam chính là “đảm bảo vàng” cho tính nghệ thuật của vở diễn. Đặc biệt, trong “Người đi qua thung lũng”, 6 diễn viên sẽ thể hiện 20 vai. Như vậy, một người sẽ đóng nhiều vai, trong các cảnh khác nhau. Nhưng, cũng có khi một vai do nhiều người thể hiện. Ví dụ, nhân vật Merlin là người biết hát, nhảy, múa, nên nhân vật này do 3 diễn viên đảm nhận...

Suốt vở nhạc kịch, phần đối thoại bằng tiếng Việt và các bài hát bằng tiếng được thể hiện bằng tiếng Đức (có phụ đề tiếng Việt) nên việc tập cho các ca sĩ kỹ năng phát âm là điều tối quan trọng. Công việc này được giao cho ca sĩ giọng nữ trung Silvia Modden. Trước hết, Silvia Modden phải giới thiệu lời hát bằng tiếng Đức, phát âm và và hát khớp vào nốt nhạc cho các ca sĩ Việt Nam nghe, để thấy rằng phát âm các nguyên âm và phụ âm trong nói và hát là khác nhau rất nhiều. Trong tiếng Việt, có các từ ngắn và đơn âm tiết, do đó không biết đến cách phát âm nối từ và nuốt từ. Silvia Modden tâm sự: “Đối với các ca sĩ Việt Nam, chỉ riêng việc nói những âm Đức khó (như "brauchst" hay là "sprichst") đã là một thách thức lớn và sau đó lại còn hát nữa (cũng tương tự như vậy, việc nói một câu ngắn bằng tiếng Việt với đầy đủ trọng âm và thanh sắc đối với chúng tôi là những khó khăn không thể tưởng tượng được). Như vậy, tôi giúp họ tất cả kĩ thuật quan trọng trong thể hiện và hát, đối với đơn ca cũng như hợp xướng và chỉ đạo hợp xướng”. Qua quá trình tập luyện, Silvia Modden đánh giá cao sự cố gắng để luyện từng âm thanh và luôn nhiệt tình vui vẻ luyện tập của các ca sĩ Việt Nam.

Phần việc quan trọng khác là thiết kế sân khấu và phục trang được hứa hẹn sẽ hấp dẫn bởi công việc trên sẽ tạo dựng một cuộc dạo chơi cùng với Parzival vào thế thế giới tưởng tượng. Khó khăn trong vật liệu không như Andreas Lungenschmid (họa sĩ sân khấu và thiết kế phục trang) tưởng tượng: “Gần như không có điểm khác biệt nào giữa làm việc ở Hà Nội và ở châu Âu. Nhưng có một thứ thực sự làm tôi ngạc nhiên là những thiết bị kĩ thuật giá trị cao ở đây lại dễ tìm hơn ở châu Âu”. Vì câu chuyện dựa trên một huyền thoại Đức trong một khoảng thời gian không xác định và tại những địa điểm không xác định với những nhân vật có tên trong cổ tích như Gwain, Herzloide và Merlin, phù thủy... nên Andreas Lungenschmid phải lắp ráp từng bộ phận như trong các phim tưởng tượng hoặc trong các truyện tranh Nhật Bản theo phong cách của giai đoạn lịch sử. Từ đó tạo ra những bộ trang phục cho tác phẩm phù hợp với mọi thời đại. Cũng như vậy, sân khấu luôn được thay đổi trong suốt buổi diễn.

Điểm qua một vài khau trong công tác chuẩn bị cho việc công diễn vở nhạc kịch cũng đủ thấy sự kỹ lưỡng trong từng chi tiết bằng tinh thần lao động nghiêm túc của những nghệ sĩ. Hy vọng, trong thời gian tới sẽ có thêm những dự án nghệ thuật lớn như “Người đi qua thung lũng”, bởi từ đây những nghệ sĩ nước ta sẽ có thêm những kinh nghiệm trong việc dàn dựng và trình diễn những vở diễn lớn; khán giả Việt Nam cũng có cơ hội hiểu biết thêm sự đặc sắc văn hóa từ những “phương trời” khác.

HÀM ĐAN