Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2009

TS CHU HẢO: “KHÁC VỚI CHÍNH THỐNG KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ CÁI XẤU”


Người ta biết đến ông là một trong những người vận động đưa internet vào VN thời còn đương chức Thứ trưởng Bộ Khoa học công nghệ & môi trường. Khi ở vào độ tuổi mà các bạn ông đều lui về dưỡng già, ông lại đang là đầu tàu ở NXB Tri thức – nơi hàng năm xuất bản hàng trăm đầu sách công cụ ( hàn lâm, dùng để nhận thức)

LÀM SÁCH THÍCH NHẤT

Thưa, là người đã trải qua nhiều công việc, chức vụ - nhưng quãng thời gian nào ông thấy thích thú nhất?

- TS Chu Hảo: Nói cho công bằng, tất cả những việc tôi đã làm từ trước đến nay may mắn đều đúng nguyện vọng của mình. Tất nhiên, không phải công việc nào cũng trôi chảy, ví dụ như thời tôi làm Trưởng ban quản lí Khu công nghiệp cao Hòa Lạc, công việc rất ách tắc. Đến nay sau 5 năm rời chức vụ, Khu công nghệ cao vẫn chưa hình thành.

Công việc nào khiến tôi thích nhất? Có lẽ là công việc hiện nay. Tôi đề xuất thành lập NXB Tri thức theo những tiêu chí mà tôi mong muốn. Rất may là được các cơ quan chức năng ủng hộ. Làm sách công cụ cho tôi sự hứng khởi như khi góp phần đưa công nghệ thông tin vào VN, vì nó giúp ích cho nhận thức của xã hội. Một số bạn bè nói đùa: “Ông làm sách còn có giá trị nhiều hơn làm Thứ trưởng”.

Trước buổi gặp, tôi thử làm một thao tác search trên google, thì từ khóa “TS Chu Hảo giám đốc” cho kết quả nhiều hơn “TS Chu Hảo thứ trưởng”! Làm sách vừa có lợi cho xã hội, nhưng đồng thời ông cũng nổi tiếng hơn?
- Quả là dạo này tôi vẫn xuất hiện nhiều trên báo chí nhưng “nổi tiếng” thì hết muốn rồi! (cười). Việc làm sách là công việc tâm huyết của tôi. Dù vất vả nhưng lí thú vì thấy rõ sự hưởng ứng của cộng đồng và sự cổ vũ của bạn bè.

Bước vào tuổi xưa nay hiếm, ông bắt tay vào việc chưa có tiền lệ là lập một NXB chuyên sách công cụ. Gia đình ông có lo lắng không ạ?

- Băn khoăn nhiều chứ! Tuổi lớn mà công việc khó khăn. Đã thế những việc tôi đang làm, người không hiểu đánh giá từa tựa câu “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”. Nhưng may mắn là tôi có gia đình êm ấm, thông cảm với công việc của tôi đang làm. Tôi cũng sắp xếp được cuộc sống gia đình thỏa đáng để toàn tâm tập trung cho công việc.

Những người đến 60 tuổi về hưu, mỗi người mỗi cảnh. Tôi nghiệm ra những ai có thói quen lao động trí óc, ham học hỏi, chăm đọc sách, thường không bị hẫng hụt khi về hưu. Về hưu mà không có hoạt động tinh thần tích cực, khó mà duy trì sức khỏe được. Sức khỏe tinh thần đôi khi quan trọng hơn sức khỏe thể chất. Nhiều người về hưu không có điều kiện bồi dưỡng sức khỏe tinh thần nên cuộc sống trở nên nhàm chán, đơn điệu…

CHỜ NHÀ NƯỚC


Thưa TS, nếu tự thân vận động NXB Tri thức có tồn tại được với dòng sách công cụ?

- Khi mới xây dựng, tôi đặt niềm hi vọng vào Quỹ dịch thuật Phan Châu Trinh (nay đã đổi tên thành Quỹ văn hóa) thu hút các nhà tài trợ. Vẫn biết nước ta không có văn hóa “Mạnh Thường Quân” đối với các hoạt động không mấy “đình đám” như việc làm sách, là rất hạn chế, nhưng không ngờ việc đó lại khó khăn đến thế. 35 tỉ đồng trong 10 năm cho Dự án của chúng tôi là quá khiêm tốn, vậy mà hết sức khó khăn.

Hiện nay, tài chính chúng tôi dựa vào tiền vận động từ xã hội. Nhưng chúng tôi hiểu, không thể trông chờ mãi vào tài trợ được. Nên cứ làm dù khó khăn, đợi vài năm nữa khi hiệu quả của dòng sách công cụ đã rõ ràng, sẽ đặt vấn đề xin ngân sách Nhà nước.

Nhưng đến lúc bị phụ thuộc tài chính, liệu những tiêu chí ban đầu của Tri thức có thay đổi?

- Chắc chắn hướng đi của Tri thức sẽ không thay đổi, trước sau chúng tôi vẫn chủ trương xuất bản những sách nghiêm túc. Sự hỗ trợ của Nhà nước là điều tất yếu ở hai lí do. Thứ nhất, là tài chính như đã nói ở trên. Thứ hai, là vấn đề đội ngũ dịch giả chuyên nghiệp. Về lâu dài, muốn có đội ngũ dịch giả giỏi cần phối hợp với Bộ Giáo dục & Đào Tạo để đào tạo lớp dịch giả chuyên nghiệp, không chỉ giỏi ngoại ngữ, mà cần có nền tảng văn hóa vững chắc.

NHÀ XUẤT BẢN TƯ NHÂN ?

Nhiều sách ra đời do NXB Tri thức liên kết với các nhà sách hay công ty sách như Nhã Nam, Phương Nam, Song Thủy, Thái Hà… có phải NXB Tri thức chỉ cấp giấy phép, mà không cần biết đến chất lượng các cuốn sách do mình cấp phép?

- Đúng là hiện nay có một thực tế, có những NXB cấp giấy phép xuất bản cho các nhà sách mà không chú ý đến chất lượng sách. Nguyên tắc của NXB Tri thức là thẩm định bản thảo lần cuối cùng, nếu không có vấn đề gì sẽ tổ chức biên tập trước khi cấp giấy phép xuất bản. Chúng tôi chỉ thu phí quản lí để trả lương cho biên tập viên. Không có chuyện thu tiền cấp giấy phép mà không thẩm định nội dung và biên tập. Các nhà sách đều thừa nhận việc biên tập của chúng tôi đã giúp bản thảo tốt lên. Mặt khác không phải sách gì chúng tôi cũng cấp phép, mà chỉ những sách hợp với tiêu chí của NXB.

Ngoài lượng sách liên kết ra, NXB Tri thức luôn duy trì dòng sách do chính NXB tự làm từ A đến Z chia làm 4 tủ sách: Tinh hoa, Dẫn nhập, Tri thức mới và VN đương đại. Chúng tôi có gắng để sách của mình luôn chiếm tỉ lệ cân bằng so với sách liên kết.

Ông đánh giá vai trò của các công ty sách hiện nay?

- Tôi cho rằng họ có đủ năng lực làm các khâu để cho ra đời những cuốn sách có giá trị. Từ khi các công ty sách ra đời, thị trường sách có sự cạnh tranh thực sự giữa các đơn vị sản xuất và chất lượng sách từ khi có công ty tư nhân đã được nâng cao hơn hẳn từ nội dung, chất lượng giấy, trình bày… Cuối cùng, người đọc được hưởng lời nhiều nhất. Tôi hoàn toàn tán thành việc ra đời NXB tư nhân. Chỉ tiếc Nhà nước chưa cho phép.

SÁCH - THAY ĐỔI TƯ DUY

Lợi ích của các loại sách khác là để giải trí thậm chí, để… học làm giàu. Vậy sách công cụ có lợi ích gì?

- Nó đưa đến cho độc giả kiến thức mới, cách nhìn mới (sách dịch) mà ở ta không có. Sách công cụ để tham khảo. Có nhiều sách tham khảo bổ túc cho người làm công tác nghiên cứu, quản lí họ để đưa ra giải pháp thích hợp. Ví dụ như hiện nay chúng ta đang công nghiệp hóa - hiện đại hóa – đô thị hóa mà thiếu sách cung cấp kiến thức về các học thuyết, các phương pháp quy hoạch ở đô thị, thì từ người làm quy hoạch, người duyệt, người chịu tác động của quy hoạch… sẽ khó đánh giá được chất lượng của đồ án quy hoạch. Mặc dù nó ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài đến cuộc sống từng người dân đô thị. Người thiếu kiến thức nền, khi gặp tình huống thực tế, thì loay hoay như gà mắc tóc.

Nhưng quan trọng nhất là sách công cụ cung cấp quan điểm mới để thay đổi tư duy. Cái gì khác với chính thống, khác với truyền thống không nhất thiết phải là xấu. Nhờ những nguồn tham khảo kiến thức và lắng nghe, mà Đảng đã đi đầu trong việc thay đổi tư duy, quyết định chuyển sang nền kinh tế thị trường, hay cho Đảng viên làm kinh tế tư nhân…

Ông đã nhận ra lỗ hổng kiến thức nền từ bao giờ?

- Tôi nhận ra từ sớm, từ khi mới bắt đầu ra công tác, đặc biệt là từ khi có tiếp xúc với các bạn đồng nghiệp nước ngoài. Nhận ra lỗ hổng kiến thức nền không chỉ có tôi. Hồi ấy, trong các Viện trong UB Khoa học nhà nước đều dịch các tài liệu nước ngoài để tham khảo. Nhưng dịch nội bộ thì rất tốn kém. Tôi nghĩ đã dịch thì nên in cho mọi người đọc. Đừng nghĩ rằng sách công cụ chỉ dành cho các nhà nghiên cứu đọc. Trừ những sách quá chuyên sâu như triết học Kant, Hegel… với các sách tham khảo những ai có trình độ phổ thông vững chắc, nếu quan tâm đều có thể đọc được. Ngoài ra chúng tôi còn tổ chức dịch các tác phẩm văn học kinh điển như Cháu ông Rameau của Diderot, Candide của Voltaire …

MẤU CHỐT NẰM Ở GIÁO DỤC

Năm 1957, cuốn sách Những huyền thoại (Mythologies) của Roland Barthes mở đầu cho trường phái ký hiệu học Pháp, được người Pháp đem đọc trong kì nghỉ hè. Tại sao người Việt Nam lại không chịu đọc sách lúc rảnh rỗi, trên bến xe chẳng hạn?

- Vấn đề nằm ở thói quen đọc sách. Thế hệ trẻ ngày nay không có thói quen đọc sách. Thế hệ tôi trước năm 75, dù sách vở không nhiều và cuộc sống thiếu thốn, nhưng nhiều sách kinh điển chúng tôi đều tranh thủ đọc khi có điều kiện. Bởi nền giáo dục lúc đó vẫn còn nhiều điểm tích cực hơn bây giờ. Chẳng hạn, chúng tôi không bị nhồi nhét quá nhiều kiến thức như bây giờ, không bị áp lực thi cử nặng nề như bây giờ, và vì vậy có thì giờ đọc sách.

Vậy giải pháp là phải dạy thói quen đọc sách cho học sinh?

- Nhưng ai dạy cho trẻ con đây? Giáo dục ở nhà trường hiện nay chỉ chăm chăm dạy kiến thức chạy theo thi cử, học để lấy bằng. Ở nước ngoài, ngay từ cấp tiểu học đã dạy trẻ con đọc sách như thế nào, rồi cho chúng cùng bàn luận về cuốn sách được hướng dẫn đọc. Đến cấp phổ thông, học sinh phải tự đọc sách rút ra tóm tắt và viết một bài viết về cuốn sách đó. Tôi lấy ví dụ bộ sách nhập môn về khoa học xã hội do NXB Trẻ đã in, dù trình bày sáng sủa dễ hiểu dưới hình thức truyện tranh, nhưng lại rất khó bán. Có người ở phổ thông là học sinh giỏi thi đỗ đại học, mà vẫn chưa hề nghe đến các sách nhập môn của chính ngành mình sẽ học ở đại học. Trong khi đó, học sinh phổ thông nước ngoài đã biết phần nào những kiến thức nhập môn để lên đại học sẽ nghiên cứu sâu.

Đã thế, hiện nay ở nước ta khái niệm nghiên cứu khoa học hình như đã bị hiểu sai. Thầy giáo không nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc, không đọc nhiều tài liệu để tham khảo, mà lại đòi hỏi (nghiêm khắc) học trò phải tự học, nên đọc sách tham khảo… quả là điều xa xỉ.

Thưa, bên trời Tây (văn hóa đại chúng, thông tin truyền thông là chủ đạo) thì sách công cụ có chỗ đứng nào ngoài thư viện?

- Ngoài số người cần nghiên cứu khoa học ra, sách công cụ cũng được các tầng lớp khác quan tâm. Các cuốn sách kinh điển trên các lĩnh vực năm nào cũng in lại. Như năm nay, khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuốn Tư bản của Karl Marx lại được in nối bản.

Ở nước ngoài sách điện tử đang được độc giả ưu chuộng. Nhưng sách số hóa chủ yếu là tiểu thuyết hoặc những sách thuần giải trí, sách công cụ vẫn được người không làm khoa học tìm mua ở các cửa hàng sách một cách bình thường. Tôi ước Việt Nam ta cũng như vậy!

Nhưng sách công cụ của NXB Tri thức vẫn có khách hàng đấy thôi?

- Đúng, dân trí ngày càng cao thì sách công cụ bán được là lẽ tự nhiên. Sau loại sách tiểu thuyết tình ái, kiếm hiệp… họ sẽ có nhu cầu đọc sách cao cấp hơn về khoa học, tư tưởng. Có cuốn như Bàn về tự do của J. S. Mill bán được tới 4.000 bản. Nhưng nếu học sinh được khuyến khích lòng ham đọc sách từ nhỏ thì số sách công cụ được tiêu thụ lần đầu chắc không chỉ dừng ở con số trên. Trong khi chờ đợi cải cách giáo dục, có lẽ các ông bố bà mẹ trong gia đình nên tìm cách hướng dẫn trẻ đọc sách. Bản thân tôi ngoài việc sống ở thời đại quý sách, còn nhờ truyền thống gia đình hun đúc lòng ham mê đọc. Chuyên môn của tôi là khoa học tự nhiên, nhưng những sách về xã hội - nhân văn và đặc biệt là những vấn đề văn hóa tôi đọc với niềm say mê.

Đang ở thời khủng hoảng, sách công cụ lao đao chứ ạ?

- Vừa rồi ở Cần Thơ, Hội nghị tổng kết công tác một năm ngành XB đã đánh giá ngành XB không bị ảnh hưởng nặng từ khủng hoảng kinh tế. Sách công cụ lại càng không. Khó khăn nằm ở chi phí sản xuất. Còn về người đọc, những ai có tiền thường mua sách, thì họ không cắt giảm chi tiêu đến mức… không mua sách nữa. Còn những ai vốn không có điều kiện, gặp khủng hoảng, càng không có ý nghĩ mua sách. (cười)

Sắp tới chúng tôi cố gắng đưa sách công cụ vào các hệ thống thư viện. Chỉ cần một thư viện mua hai ba cuốn thôi, cũng lên tới con số nghìn. Việc này lại cần Nhà nước giúp một tay khi quyết định dùng nguồn tiền để nhập sách gì vào thư viện. Mặt khác, nếu cơ quan nghiên cứu hay trường học nào có nhu cầu dịch sách để tham khảo, NXB sẵn sàng làm hợp đồng theo yêu cầu. Nói chung là tìm mọi cách để đưa sách công cụ đến tận tay bạn đọc, giúp họ bớt e dè với kiến thức hàn lâm.

Xin cảm ơn ông

HÀM ĐAN thực hiện

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2009

MỖI NGƯỜI CÓ CÁCH YÊU NƯỚC RIÊNG



(Tranh "Sự ra đời của chữ Quốc ngữ - Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh" của Nguyễn Đình Đăng)
Vượt qua mục đích ban đầu là bộ phim tài liệu độc lập của gia tộc, Mạn đàm về “người man di hiện đại” của đạo diễn Trần Văn Thủy đã đã dựng lại chân dung về một người “khổng lồ” văn hóa đầu thế kỷ XX: học giả Nguyễn Văn Vĩnh.
Hiếm có lần nào phòng chiếu phim của Trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội (L’Espace) lại có cảnh người chen nhau đứng xem bộ phim tài liệu 4 tập kéo dài 215 phút. Không một ai bỏ về giữa chừng và kết thúc bộ phim là những tràng pháo tay không dứt dành cho câu nói của đạo diễn Trần Văn Thủy: “Trên bàn thờ của dân tộc ngoài những anh hùng liệt sĩ nên có chỗ cho những người làm văn hóa”.

Photobucket

Tân Nam Tử Nguyễn Văn Vĩnh (1882 - 1936)

CUỘC ĐỜI NHƯ TIỂU THUYẾT

Cuộc đời học giả Nguyễn Văn Vĩnh khiến nhiều người xem phim có cảm giác như đang theo dõi cuộc đời của một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết.
Sinh năm 1882 ở Hà Nội trong một gia đình nghèo. Năm 11 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh đã thi đỗ thông ngôn sau 3 năm học mót nhờ làm tiểu đồng… kéo quạt. Nhưng vì quá nhỏ tuổi không thể cho làm quan được nên ông học tiếp 2 năm nữa. Lần này, Nguyễn Văn Vĩnh đỗ đầu và chính thức làm phiên dịch khắp miền Bắc. Nguyễn Văn Vĩnh không đọc một cuốn sách nào trên trường lớp nhưng lại đọc tất cả những sách rơi vào tay mình khi lăn lộn vào đời. Trong vòng 2 tháng, ông có thể dịch được tiếng Hoa và tiếng Anh. Ông mất hơn 2 năm để tự học xong chương trình phổ thông của Pháp (mua sách từ thủy thủ Pháp).
Khả năng làm việc của ông thì kinh người. Nhà văn Vũ Bằng trong cuốn hồi ký Bốn mười năm nói láo đã kể lại cách làm việc của cụ Nguyễn Văn Vĩnh: “…viết luôn một lúc một bài xã thuyết cho Annam Nouveau, thảo một thư cho Toàn quyền Pháp đưa xuống dưới nhà đánh máy luôn, dịch miệng “Têlêmac phiêu lưu kí” cho Đông Lĩnh Dương Phượng Dực ngồi ám tả, trong khi chính ông lại quay sang nói chuyện với ông Tụng về thống sứ Pháp…”
Dù là được người Pháp đào tạo và định lợi dụng ảnh hưởng nhưng trong con người Nguyễn Văn Vĩnh luôn có ý thức độc lập dân tộc cao. Chính vì thế người Pháp đã bỏ rơi ông và dùng sức ép của ngân hàng để tịch thu gia sản khiến Nguyễn Văn Vĩnh phải sang Lào tìm vàng. Ông mất đột ngột trên một con thuyền độc mộc trên sông Si – băng – ghi (tỉnh Shê – phôn, Lào) vào ngày 1/ 5 / 1936 “để lại một công lao không có lỗi lầm và lịch sử không có vết nhơ” (điếu văn của ông M. Delmas – chủ tịch hội nhân quyền chi hội HN).

ÔNG TỔ CỦA NHIỀU NGHỀ

Tầm vóc văn hóa của ông trước hết ở chỗ ông là ông tổ của nhiều nghề. Năm 1906, sau chuyến đi Pháp 6 tháng, ông quyết định thôi làm công chức mở nhà in Trung Bắc và chủ bút tờ Đăng Cổ Tùng Báo – tờ báo bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên. Ông còn làm chủ bút các báo tiếng Pháp Notre Journal (Tờ báo của chúng ta), Notre Revue (Tạp chí của chúng ta), l’Annam nouveau (An Nam mới). Ông là người đầu tiên chủ trương dịch tác phẩm Pháp nổi tiếng sang Quốc ngữ và ngược lại.
Ngoài ra, ông còn đi tiên phong một số chuyện “nhỏ” khác:
Ngày chủ nhật 25/ 4/ 1920 tại Nhà hát Lớn Hà Nội, là ngày người VN diễn lần đầu tiên một vở kịch. Đó là một vở hài kịch Molière: “Trưởng giả học làm sang” do Nguyễn Văn Vĩnh dịch và thủ vai chính kiêm đạo diễn.
Cụ Nguyễn Văn Vĩnh hợp tác với Công ty Chiếu bóng Đông Dương dựng “kịch bóng” (cách gọi điện ảnh thời ấy) đầu tiên của Việt Nam tên là Kim Vân Kiều. Tác phẩm của Nguyễn Du được đưa lên màn bạc với diễn viên là các đào kép tuồng của ban Quảng Lạc, Hà Nội trình chiếu 4 giờ rưỡi ngày 14/ 3/ 1924.
Cụ Vĩnh còn là người đầu tiên cắt tóc búi củ hành và vận đồ Âu phục trước khi sang Pháp năm 1906. Ngoài việc sở hữu một ô tô, cụ còn sở hữu một chiếc mô tô với quan điểm: “Nhà báo là phải đi mô tô”.

Không chỉ đi tiên phong mà di sản văn hóa mà học giả Nguyễn Văn Vĩnh để lại vẫn có giá trị đến ngày nay. Các “dịch phẩm” của Nguyễn Văn Vĩnh vẫn được trẻ con ở thế kỷ 21 tìm mua do Việt hóa tối đa như: thơ ngụ ngôn La Fontaine, Ba chàng ngụ lâm pháo thủ của A. Dumas, kịch Molière, Miếng da lừa của H. de Balzac, Guylive phiêu lưu kí của Swift…

Ông đã đóng góp rất nhiều trong việc thống nhất tiếng Việt và làm phong phú tiếng Việt lên một trình độ cao hơn. Thời cụ Vĩnh, người miền Bắc hay nhầm giữa s và x hay ch và tr… mà người Trung Kì và Nam Kì lại phân biệt được. Nhưng người Nam và Trung lại không phân biệt được Can và Cang, Cắt và Cách hoặc Ing và In… Họ cũng không phát âm được V nên bị nhầm thành D hoặc Gi (ví dụ cho lỗi phát âm này là tên ban đầu của khu công nghiệp Dung Quất là Vu Quất). Cụ dựa tên các tờ báo tiếng Việt, đáng kể nhất là tờ Đông dương Tạp chí (1913) khuyến khích dùng chữ Quốc Ngữ.

“CỦA CAESAR HÃY TRẢ LẠI CHO CAESAR”

Bộ phim tài liệu được xây dựng xoay quanh những lời “mạn đàm” của các nhà nghiên cứu sử học Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Đầu, Chương Thâu; các nhà báo Trần Hòa Bình, Yên Ba.
Các nhà sử học đều đánh giá công lao lớn nhất của Nguyễn Văn Vĩnh là truyền bá chữ Quốc ngữ. Không chỉ tạo dựng cho dân tộc một ngôn ngữ chuẩn, chữ Quốc ngữ còn giúp xóa nhanh nạn mù chữ vì chỉ cần 3 tháng là có thể biết chữ trong khi chữ Hán và Nôm phải mất 10 năm. Qua đó, công lao gây dựng nền văn hóa độc lập của cụ Vĩnh đã được làm rõ qua câu nói: “Nước Nam sau này hay dở là ở chữ Quốc ngữ”.
Xoay quanh lời mạn đàm của các nhà nghiên cứu là những lời tự minh oan của con cháu cụ Vĩnh ở VN khi cụ bị hiểu nhầm là Việt gian, bồi bút. Sự hiểu nhầm là do cụ chủ trương thuyết trực trị. Chủ trương này về bản chất không khác với chủ trương “Pháp Việt hợp tác” của cụ Phan Chu Trinh. Nghĩa là miền Bắc và miền Trung nên đặt dưới sự cai trị trực tiếp như ở Nam Kì. Ước mong của cụ Vĩnh là khi dân ta được cai trị như những người Pháp sẽ trở nên văn minh hơn và việc đòi lại độc lập bằng đối thoại dễ được chấp nhận, qua đó tránh đổ máu vô ích. Trong khi vừa đấu tranh đòi trực trị, cụ vừa làm việc truyên truyền nâng cao dân trí bằng báo chí, in ấn. Và muốn làm được việc đó, cụ Vĩnh đã nhẫn nhục dựa vào người Pháp.
Đạo diễn bộ phim Trần Văn Thủy sau buổi trình chiếu phát biểu: “Mỗi người có cách yêu nước riêng. Tôi làm bộ phim không chỉ để đánh giá lại công lao của của cụ mà còn để người nước ta tự hào có những con người tầm vóc danh nhân như cụ Vĩnh. Một người dám tự nhận mình là “người man di hiện đại”, nghĩa là đang dũng cảm nhìn mình bằng một con mắt ở bên ngoài để phê phán trình độ văn minh của dân tộc mình”.

HÀM ĐAN

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2009

BÁ VƯƠNG BIỆT CƠ HAY ĐỊNH MỆNH TRƯƠNG QUỐC VINH





Photobucket
Thư tuyệt mệnh của Trương Quốc Vinh:
"Depression! 多謝各位朋友,多謝麥列菲菲教授,這一年很辛苦,不能再忍受, 多謝唐先生,多謝家人,多謝肥姐. 我一生沒做壞事 為何這樣?"
("Tuyệt vọng! Cảm ơn tất cả bạn bè tôi. Cảm ơn giáo sư Felice Lieh-Mak (Bác sĩ tâm lý cuối cùng của Trương Quốc Vinh). Năm nay quá khó khăn. Tôi không thể chịu đựng thêm nữa. Cảm ơn anh Tong. Cảm ơn gia đình tôi. Cảm ơn chị Fat (Lydia Shum Din-ha). Cả cuộc đời tôi chưa làm gì sai. Tại sao mọi thứ lại trở nên thế này?")


Photobucket

Chắc là Ca Ca đã tuyệt vọng trong nỗi cô đơn thường trực của người nghệ sĩ để dẫn đến quyết định chấm dứt cuộc đời thăng trầm như một nhân vật điện ảnh vào ngày 1/ 4/ 2003. Nhưng có lẽ anh không ngờ sau cái chết anh không còn cô đơn nữa. Hàng ngàn fan và cả những người qua đường không quen biết bất chấp dịch cúm gà lan rộng đã tới trước chân tường khách sạn Mandarin để đặt những vòng hoa trắng (chỉ dành cho người đàn ông chết khi chưa có vợ) và cả những tấm thiệp nói hộ lời chia tay đầy chân thành trong một ngày chỉ dành để nói dối.

Đó hẳn là điều làm Ca Ca hạnh phúc hơn việc tượng sáp của anh được đặt trong phòng dành cho "Các nhân vật lịch sử và anh hùng dân tộc" thay vì ở trong phòng ”Biểu tượng âm nhạc" hoặc "Sự quyến rũ của Hồng Kông”. Bức tượng lấy theo nguyễn mẫu nhân vật nhân vật Trình Điệp Y trong bộ phim Bá Biệt Vương Cơ (Farewell my concubine).



Ca khúc Goodbye Leslie

Trong sự nghiệp diễn viên của mình, Ca Ca đã tham gia gần 60 bộ phim nhưng không có vai diễn nào lại mang đến sức ám ảnh lớn như vai Trình Điệp Y – một diễm viên kinh kịch luôn nuôi trong lòng một tình yêu đồng tính với người bạn diễn Đoàn Tiểu Lâu. 

Cái chết của Ca Ca khiến người ta giật mình. Nếu sắp xếp những sự kiện chính trong cuộc đời con người thật – Ca Ca Trương Quốc Vinh và nhân vật điện ảnh Trình Điệp Y sẽ có những điểm trùng khớp kì lạ. Nếu những lời Ca Ca nói với đạo diễn Trần Khải Ca trước khi nhận vai Trình Điệp Y là thật thì Trình Điệp Y và Ca Ca luôn nhầm lẫn “không thể phân biệt được đâu là sân khấu, đâu là đời thật, cũng như lẫn lộn giữa nam và nữ”. Đoạn phim Trình Điệp Y ngồi trong kiệu với khuôn mặt say rượu và một vệt máu ở miệng. Khuôn mặt thất thần ấy là của Trình Điệp Y hay của Trương Quốc Vinh? Không thể nào phân đinh rạch ròi được. Ca Ca sinh ra như chỉ thủ vai nhân vật đầy phức tạp Trình Điệp Y.

Cuộc đời Ca Ca vẫn còn nhiều bí mật chưa được tiết lộ. Nhưng có lẽ sẽ chẳng có ai trên đời chịu nhiều đau khổ hơn nhân vật hư cấu Trình Điệp Y. Anh đã đi suốt cái thế kỷ điên khùng của nước Trung Hoa và cả thế giới. Những tiếng vỗ tay hoan hô trong nhà hát phút chốc biến thành những tiếng đả đảo đấu tố trong Cách mạng văn hóa. Những tiếng chửi bới của người đời so với sự khổ công rèn luyện từ bé không thể khiến người nghệ sĩ có một ngón tay thừa ấy suy sụp. Sự suy sụp đến từ trong tâm hồn quá nhạy cảm của Trình Điệp Y khi bị Đoàn Tiểu Lâu “phản bội”. Sự phản bội của Đoàn Tiểu Lâu với Trình Điệp Y thực ra không đáng trách bởi chỉ có Trình Điệp Y có tình cảm đồng giới. Điều anh ta đã phản bội là tình vợ chồng với Diệu Linh và tình đồng nghiệp bao năm với Trình Điệp Y.


Photobucket

Lớp nghĩa bề ngoài và kết cấu bộ phim ai cũng hiểu được. Nó rõ đến mức khiến cho người máu lạnh cũng phải xúc động. Nhưng còn cấu trúc ngầm ở dưới câu chuyện chứa nhiều ý nghĩa đến nỗi khó liệt kê ra được. Thực ra, một tác phẩm nghệ thuật lớn không bao giờ cạn kiệt ý nghĩa. Thời đại mới đến, những đôi mắt mới sẽ tìm thấy những giá trị thẩm mỹ mới còn nằm khuất. Độ mở vô hạn của tác phẩm nằm ở đây.


Photobucket

Tượng sáp Ca ca tại bảo tàng Madame Tussauds (Hong Kong)

Giới sành phim sẽ còn bàn luận mãi những cảnh quay, âm thanh, ánh sáng cho đến diễn xuất. Sẽ chẳng ai ngượng ngùng khi gọi Bá Biệt Vương Cơ là kiệt tác điện ảnh. Chất Trung Hoa thể hiện rất rõ trong cách biểu đạt. Cảnh quay cuối khi Trình Điệp Y tự sát khán giả không được xem rõ cảnh chết như thế nào? Chỉ cần nghe tiếng thân hình anh đổ xuống và tiếng thét của Đoàn Tiểu Lâu cũng đủ hiểu được cuộc đời đau khổ của Trình Điệp Y đã kết thúc. Đây là thủ pháp chấm phá quen thuộc của nghệ thuật Trung Hoa. Lâm Ngữ Đường trong cuốn My country and my people đã có ví dụ rằng: Không thể vẽ tiếng chuông nhưng người họa sĩ chỉ cần vẽ đỉnh núi mây phủ, có mấy nhà sư ngước lên cười là đã miêu tả tiếng chuông rồi. Người họa sĩ phương tay không thể nào vẽ được.


Photobucket

"Một nụ cười đem đến cả mùa xuân, một giọt lệ làm tối cả đất trời. Chỉ có nàng, chỉ có nàng mới có vẻ đẹp nhường ấy..."

Nếu chỉ có chất Trung Hoa thôi bộ phim sẽ không bao giờ trở thành bộ phim Hoa Ngữ xuất sắc nhất và một trong những bộ phim kinh điển nhất của điện ảnh thế giới, điều nâng Bá Vương Biệt Cơ lên tầm vóc kiệt tác là đã tiếp cận những đặc điểm thuộc về bản chất con người xoay xung quanh những motif khác nhau: sự phản bội, lòng vị tha, tình yêu, niềm đam mê nghệ thuật, sự tự do… Bản chất người rõ rệt nhất ở những thước phim cuối cùng khi Trình Điệp Y nhận ra động lực thôi thúc anh phải sống bao năm qua chính là nghệ thuật. Chính vì những phút giây thăng hoa trên sân khấu mà anh đã chấp nhận “sống là nguy hiểm” (F. Nietzsche). Một định mệnh của Trình Điệp Y khi quay lại nhà hát dù đã có cơ hội chạy trốn. Hầu hết con người hiện đại chúng ta sẽ khó hiểu vì sao Trình Điệp Y lại nhầm lẫn và cố chấp đến vậy? Không chỉ bản chất người Trung Hoa là cực đoan, vấn đề nằm ở chỗ Trình Điệp Y đã sống thật từng giai đoạn cuộc đời: yêu và ghét phân minh. Sẽ là bi kịch nếu câu nói cuối cùng Trình Điệp Y vẫn nói rằng: “Tôi là nữ không phải là nam”. Chỉ khi sắp chết Trình Điệp Y mới trở lại bản chất giới tính, bản chất người tự nhiên của mình.


Photobucket

Khi chúng ta nhớ anh thì anh sẽ còn tồn tại và nhìn chúng ta bằng đôi mắt u buồn

Cái chết của Ca Ca cũng gây bàng hoàng cho nhiều người y như cái chết của Trình Điệp Y. Một chặng đường sự nghiệp mới đang đón đợi Ca Ca phía trước. Nhiều người thấy tiếc cho anh. Nhưng không, nghệ thuật là một cuộc chơi vì vậy phải làm sao chơi cho đẹp. Khi mệt mỏi thì nghỉ ngơi. Ca Ca đã chọn cái chết để kết thúc những rắc rối. Anh đã hiến mình thật đẹp cho nghệ thuật và anh xứng đáng được tôn trọng vì đã cho chúng ta những giây phút được sống thật trong một thời giới thứ hai.
Thanks Ca Ca!
We miss you!
Forever!
Hàm Đan