Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2010

VĨNH CỬU

Tặng Huyền – một người “thiếu quê hương”

“Hiện tại không bao giờ làm tôi thích thú, tương lai khiến tôi dửng dưng, đối với tôi chỉ có quá khứ là đẹp”. Chắc rằng, với một ý nghĩ như vậy mà Marcel Proust đã viết về nhân vật xưng tôi ăn chiếc bánh madelaine để chợt nhớ lại toàn bộ “thời gian đã mất”.

Có một câu chuyện tương tự như thế nhưng không phải ở Pari mà ngay ở Hà Nội. Đó là ngày 23 Tết, chàng ra ga về nhà. Quê nhà của chàng ở một thành phố biển miền Trung đầy nắng gió và khá buồn tẻ. Nếu cần so sánh, cuộc đời chàng chẳng có gì đặc biệt như thể được lập trình sẵn. Sinh trong một gia đình trung lưu, đi học phổ thông ở quê nhà, thi đỗ đại học, rồi ở lại Hà Nội làm việc. Tương lai ư? Lấy một cô vợ, sinh những đứa con rồi chàng sẽ trở thành ông cụ về lại quê hương để dưỡng già và nằm cạnh những họ hàng của chàng ở trên một ngọn đồi đất pha cát.

Vào những lúc buồn bã, những ý nghĩ của chủ nghĩa hư vô bao bọc lấy chàng khiến chàng âm thầm thừa nhận: cuộc sống quá vô thường. Và vô nghĩa. Mọi việc chỉ kết thúc khi chàng bước vào toa xe lửa sẽ đưa mình về quê. Nhưng đừng vội nghĩ đến một tai nạn đến với chàng trên toa xe lửa ấy. Cuộc sống chàng vẫn chưa thể kết bằng một dấu chấm hết. Mà bằng một dấu chấm để xuống dòng.

Toa số 5. Đây rồi. Chàng bước vào toa. Mục đích đầu tiên chàng hướng đến là tìm số ghế chàng đã đặt mua. Nhưng đôi mắt chàng đã vô tình quan sát không phải chỉ mỗi một con số trên ghế tàu. Chàng đã nhìn thấy một cô gái rất xinh đẹp. Một giây hoặc ít hơn. Đó là thời gian đủ để chàng nhớ lại tất cả những gì mà cô gái đã có với chàng trước đó. Mãi sau này chàng mới biết đó là vĩnh cửu; đó là một thứ khoảnh khắc, khi tất cả những thời gian khác nhau giao nhau một cách huyền diệu.

Mười năm. Phải, mười năm trước, khi còn học lớp năm, chàng và nàng học chung một trường nhưng khác lớp. Chàng là người học giỏi nhất ở một lớp cá biệt cho nên người ta gọi chàng là ‘‘người tử tế nhất trong những đứa vô lại nhất’’. Nàng là một trong những cô bé con nhà giàu, học giỏi, xinh xắn của cái gọi là lớp élite của trường. Chàng và nàng ngồi chung một lớp ôn thi học sinh giỏi. Chung lớp nhưng tâm trạng học tập khác nhau nếu không muốn nói là kì cục. Chàng không tài nào phân biệt nổi các công thức toán học lẫn ngữ pháp tiếng Việt đầy phong ba bão táp; về phần nàng có lẽ kiến thức toán vào bên tai phải, còn cách thức đặt câu vào bên tai trái. Sao lại dùng từ ‘‘có lẽ’’ ? Vì nàng và chàng hoàn toàn là những người xa lạ, không biết tên nhau, không có tình cờ nhìn nhau một lần trong lớp. Chàng chỉ nhìn nàng trong một giây hoặc ít hơn khi buổi ôn thi cuối cùng. Nàng đi trước, bất ngờ quay lại nói một anh chàng khác lớp được chọn vào ôn thi như chàng một câu ngắn. Chàng không nghe rõ nhưng chắc là câu an ủi anh chàng đó vì vào buổi học cuối cùng anh ta đã nói chuyện riêng và bị cô giáo tuyên bố loại khỏi đội tuyển đi thi cho dù điểm thi anh ta cao đến đâu. Người đi cuối cùng là chàng và chính chàng là người cuối cùng nhìn nàng. Bạn nghĩ rằng sẽ có cái gọi là rung động sét đánh ở chàng ư ? Không, chẳng có gì ngoài một sự dửng dưng ở chàng. Hãy nhớ, chàng chỉ là một cậu bé mười tuổi.

Mười năm tiếp đó, chàng và nàng không gặp lại nhau cho dù chàng tin chắc nàng vẫn sống trong thành phố. Cái lộ trình đường đời của nàng có lẽ cũng giống chàng để rồi họ lại gặp nhau ở thành phố của sự hội tụ. Nhưng lần này, chẳng có gì khác so với lần trước. Nàng không hề để ý ánh mắt chàng nhìn nàng suốt cả chuyến đi. Không phải vì ngoại hình của chàng đã thay đổi, chàng hiểu một điều: trong trí nhớ của nàng không có một khuôn mặt nào của chàng. Nói về khuôn mặt, sau mười năm nàng vẫn vậy, kể cả mái tóc, nàng chỉ ‘‘lớn’’ lên mà thôi. Nhưng sở dĩ chàng nhận ra nàng là nhớ có kí ức, có những phút giây vĩnh cửu để lưu giữ lâu dài.

Suốt cả cuộc hành trình chàng chỉ nhìn nàng. Nhìn thôi là đủ. Chàng nghĩ vậy. Làm quen ư ? Bắt đầu từ đâu và để làm gì ? Chàng bỗng nhớ lại hai câu thơ của một người quen : ‘‘Xa lắm rồi, cầu mong đừng gặp lại/ Anh về bụi đỏ tìm em’’.

Những ngày sau, từ sự gặp gỡ tình cờ trên chuyến tàu, chàng cứ nghĩ mãi về những điều siêu hình : thời gian, kí ức, sự lãng quên… Chàng đã tìm ra một phương cách để thoát khỏi nỗi ảm ánh hư vô. Chàng sẽ làm vĩnh cửu hóa những hình ảnh, giọng nói, câu chuyện mà chàng nhận ra trong quá khứ bằng con đường nghệ thuật. Chàng sẽ sống một thế giới khác, ở đó chàng là thượng đế.

Cảm ơn kí ức.

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2010

CHẠM VÀO TRỪU TƯỢNG


Solo là màn độc diễn thể hiện khát vọng của họa sĩ Lê Anh Quân về một cái tôi sáng tạo riêng trong một mảng riêng – một khát vọng mà bất cứ nghệ sĩ nào cũng riết róng tìm tòi. Solo như một chữ ký của Lê Anh Quân với dòng tranh theo chủ nghĩa trừu tượng (abstractionism) ở VN.

“Người cả tin vào nghệ thuật”

Lê Anh Quân không phải là họa sĩ đầu tiên ở Việt Nam theo đuổi dòng tranh trừu tượng. Các họa sĩ như Lục Quốc Nhượng, Lê Quảng Hà, Mai Hiên, Bùi Hữu Hùng, Lê Hồng Thái, Đỗ Sơn... và đặc biệt là họa sĩ Trần Nhật Thăng mới là “đàn anh” của Lê Anh Quân. Tuy không ít người vẽ tranh trừu tượng song dòng tranh này vẫn không được nhiều người thưởng thức, lí do nằm ở chính đặc trưng nghệ thuật của chủ nghĩa trừu tượng.

Các định nghĩa về chủ nghĩa trừu tượng trong các bộ từ điển bách khoa có khác nhau song có mấy điểm giống nhau, đó là: nghệ thuật trừu tượng không thể hiện thế giới hiện thực nằm trong tầm bao quát của lí trí (tức là không vẽ những gì có thể nhìn thấy được). Theo các nghệ sĩ trừu tượng, thì bức tranh chỉ là biểu hiện cảm thụ bằng ý thức của bản năng người nghệ sĩ, với sự vận động của các yếu tố hình học hoặc phi hình học, trong đó hiện thực đạt đến mức cao nhất có thể bị bóc trần hết các thành tố tình cảm và chủ quan. Muốn hiểu được hội họa trừu tượng có lẽ như Michel Seufort từng viết, đó là: “Một nghệ thuật mà người ta chỉ phán xét một cách hợp pháp, thuần túy trên quan điểm của sự hài hòa của bố cục và trật tự, hay ngược lại sự mất hài hòa, sự phản bố cục hoặc sự mất trật tự được giải thoát, chính là trừu tượng”. Hội họa trừu tượng muốn dựa vào chính nó để chinh phục cái đẹp và cái “gu” thẩm mỹ của người xem, vì cho rằng cái chức năng chính của nó, là chức năng thẩm mỹ.

Sở dĩ phải dài dòng về chủ nghĩa trừu tượng để bật lên một điều: dù nghệ thuật trừu tượng nổi lên từ thập niên 20 của thế kỷ XX nhưng ở Việt Nam nó vẫn là mới mẻ. Truyền thống tả thực trong hội họa Việt Nam rất mạnh khiến cho dòng tranh trừu tượng ở Việt Nam kén người vẽ, kén người xem và nhất là ít… người mua. Họa sĩ nào đi theo dòng tranh trừu tượng cầm chắc phần thiệt về kinh tế lẫn danh tiếng so với các đồng nghiệp chuyên dòng tranh phản ánh hiện thực thuần túy.

Nếu không phải là một sự dũng cảm hiến mình cho nghệ thuật với tinh thần tiền phong thì không bao giờ hơn chục bức tranh có thể ra mắt tại Vietart Centre (42 Yết Kiêu - HN) vào cuối tháng 1/ 2010. Sự thờ ơ của báo chí lẫn người xem đã được dự đoán từ trước nhưng triển lãm Solo lại bất ngờ nhận được nhiều người trong giới. Họa sĩ Đặng Xuân Hòa cho rằng các bức tranh của Lê Anh Quân thể hiện: “…ngờ vực đời sống mà cả tin vào nghệ thuật, phải chăng đấy là khát vọng”.

Khát vọng của Lê Anh Quân cũng như những họa sĩ trẻ khác đó là quyết tâm đổi mới quan niệm thẩm mỹ và ngôn ngữ nghệ thuật để hội họa Việt Nam không bị mất đi vị trí là ngành nghệ thuật cập nhật với thế giới một cách mạnh mẽ và sớm sủa nhất.

Trùng lặp

Chỉ cần chú ý nhan đề của các bức tranh như Thân phận, Hình và bóng 1 & 2, Tự họa… cũng có thể hiểu được về đề tài triển lãm Solo. Không trực tiếp mô tả hiện thực đô thị nhưng Lê Anh Quân bằng dòng tranh trừu tượng đã ngầm nói về tâm trạng con người ở đô thị. Nhà điêu khắc Đào Châu Hải cho rằng: “…họa sĩ đã sớm bộc lộ thế giới quan hội họa với nhiều suy tư về đời sống thị thành đang trên đường xô bồ phát triển. Những thân phận mà chỉ có ở nơi đô thị mới bộc lộ hết sức nghiệt ngã của một xã hội đang ở thời kì quá độ. Phải chăng, đây cũng là một “miền đất hứa” cho những khám phá, những tư tưởng mới thay vì sự nhàm chán của những hình ảnh trong một làng quê đã quá nhàm chán”.

Không cần nói nhiều, ai cũng biết sự đảo lộn tâm trạng của người Việt đối mặt với văn hóa phương Tây hiện nay. Đó là một cú sốc về tâm lý với bất cứ ai khi mà nhịp sống quá nhanh. Với người họa sĩ, nó còn đi kèm với sự khủng hoảng của hình thức biểu đạt. Để diễn tả tâm trạng khi đô thị hóa - một thứ vô hình, Lê Anh Quân đã chọn dòng tranh trừu tượng; có thể xem đó là một hướng đi thích hợp – một con đường hoàng đạo bởi theo họa sĩ trừu tượng Piet Mondrian (1872-1944): “Những sự vật thiên nhiên (bên ngoài) càng lúc càng trở thành máy móc, thì chúng ta nhận thấy sự lưu tâm chính yếu càng ngày càng hướng vào những sự vật bên trong”.

Về mặt kỹ thuật, tranh của Lê Anh Quân không đi theo khuôn mẫu của chủ nghĩa trừu tượng thời kỳ đầu của danh họa Nga Wassily Kandinsky (1866 – 1944), anh không tìm tòi các kí hiệu từ điểm, tuyến, diện để thay mặt cho cái hiện thực được quan sát, và làm tan biến đi các hình tượng cụ thể. Điều làm Lê Anh Quân bận lòng là muốn làm biến mất mọi yếu tố hiện thực, chỉ còn nhìn thấy những mảng màu tạo ra “nhịp điệu” bức tranh hơn là xu hướng thiên về ký hiệu và lối tạo hình mới. Các bức tranh trong triển lãm đi theo hướng chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng (Abstract expressionism). Chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng cho phép mỗi người nghệ sĩ trong đó một bút pháp riêng biệt, nhưng đều biểu hiện với một tinh thần tự do phi thường, như cách nói của Jackson Pollock (1912 – 1956): “Họa phẩm tự nó có sức sống riêng của nó. Tôi để nó tự phóng, tự sinh, tự tồn”. Nhìn tranh Lê Anh Quân dễ nghĩ ngay tới các bức tranh của họa sĩ người Mỹ Jackson Pollock – người nổi tiếng với cách vẽ tự động, bộc phát từ tiềm thức khi ông đặt tấm bạt dưới sàn nhà và cho sơn nhỏ giọt xuống tạo nên bức tranh.

Tuy nhiên, sự nhấn mạnh ở các đề tài làm cho phương cách thể hiện của Lê Anh Quân còn nhiều trùng lặp, chưa tạo ra sự đột phá mới về tạo hình. Lê Anh Quân dùng các gam màu nóng và tối thể hiện sự u uất, ngột ngạt trên một khuôn khổ tranh rộng (có bức hơn 2m chiều ngang) tạo sự sự đối lập hợp lí và có chủ ý của họa sĩ.

Các vật liệu của hội họa tự thân không mang nghĩa, chúng chỉ có thể mamg nghĩa khi ở thế tương quan lẫn nhau trong bức tranh. Tranh trừu tượng hoàn toàn có thể hiểu được, nhưng muốn hiểu được một bức tranh trừu tượng thì phải quan sát kĩ bức tranh đó trên góc độ nghệ thuật để hiểu được một ý nghĩa nào đó đã được tác giả của bức tranh khéo léo dấu đi, khiến cho người xem không thể đoán ra nó ngay được mà phải suy ngẫm, tìm tòi mà tìm ra được nó. Lấy ví dụ bức tranh Cây, Lê Anh Quân không vẽ một cái cây đang rụng lá vàng kiểu bức Mùa thu vàng của Levitan mà anh vẽ một mảng màu vàng xanh lẫn lộn mà trong đó màu vàng chiếm chủ đạo như một kí hiệu về cái cây ở mùa thu. Ở đây, điều họa sĩ cố gắng nhấn mạnh là cái hiệu quả của sự tri giác thực tại mà người xem cần chú ý nghiền ngẫm.

Như vậy, Lê Anh Quân thực sự cho người xem một cơ hội thưởng lãm để cùng với anh chạm vào sự trừu tượng trong hội họa.

Box:

Lê Anh Quân sinh năm 1977 tại Hà Nội. Anh đã tốt nghiệp ĐH mỹ thuật HN năm 2001. Anh là thành viên xây dựng phòng triển lãm Young Gallery (28 Đào Duy Từ - HN). Từ năm 1997 đến nay, anh đã tham gia hơn một chục triển lãm nhóm và cá nhân ở HN.

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

CHÙA THẦY ĐANG… MẤT THIÊNG!



Chùa Thầy từ hàng trăm năm nay là danh thắng của xứ Đoài gắn với tên tuổi của Đức thánh Láng Từ Đạo Hạnh (1072 - 1116); là nơi lưu dấu nét văn hóa làng quê Bắc Bộ cổ truyền. Vậy mà, với tốc độ đô thị hóa cùng sự quản lí kém và lối làm du lịch “ăn xổi” của người dân đã làm cho một chốn linh thiêng dần mất thiêng.


Không gian Việt cổ đã mất!

Nếu so sánh hai bức ảnh chụp đầu và cuối thế kỷ 20 thì sẽ khó mà nhận ra những thay đổi cảnh vật xung quanh chùa Thầy. Vẫn là Thủy đình nằm giữa ao Long Chiểu nên thơ; đôi mái nhà tranh hoặc ngói phủ rêu xanh cổ kính xen lẫn kiến trúc chùa uy nghiêm nằm dưới chân núi Thầy sừng sững. Thế nhưng, chỉ sau một thập niên của thế kỷ 21, quang cảnh chùa Thầy khiến nhiều người ngỡ đang đi trên phố phường Hà Nội. Dưới chân núi Thầy nhà cao tầng mọc lên san sát phá vỡ hoàn toàn kiến trúc làng quê Bắc Bộ.

Điều đáng buồn hơn, bản thân các công trình thuộc quần thể chùa Thầy đều biến dạng. Rõ nhất là cầu Nguyệt Tiên nối vào đường lên núi. Phần mái cong của cầu đã được đắp xi măng hoàn toàn sai với nguyên bản trong những bức ảnh còn lưu ở Viện khoa học xã hội Việt Nam. Cần phải nhắc lại rằng, mục đích lớn nhất của trùng tu là bảo tồn di tích gốc và chỉ khôi phục khi có những chứng cứ khoa học tại chỗ. Bài học “đắp xi măng” làm biến đổi di tích gốc còn nhãn tiền ở đền Bình Thạnh (Tây Ninh), cổng thành cổ Nghệ An… lại tiếp tục tái diễn ở chùa Thầy. Theo những người dân địa phương cho biết, việc tôn tạo cầu Nguyệt Tiên là do một công ty xây dựng đang đứng chân ở địa bàn thực hiện để cung tiến. Một đơn vị không có chức năng trùng tu lại “hồn nhiên” đi làm việc “sửa sang” di tích mà không có cơ quan chức năng nào vào cuộc để ngăn chặn.

Để làm rõ hơn hiện trạng hiện nay về không gian văn hóa ở chùa Thầy, chúng tôi tìm gặp PGS-TS văn hóa học Đỗ Lai Thúy - một người sinh ra gần núi Thầy để nghe những đáng giá của ông. Ông cho biết: “Hơn 10 năm trước đây, có một dự án của Ý định di dời toàn bộ những ngôi nhà gần chân núi để mở rộng ao Long Chiểu đến sát chân núi Thầy nhằm tái hiện lại không gian cổ. Tiền đền bù di dời đã được phía bạn cam kết tài trợ. Tuy nhiên, do chính quyền địa phương khi ấy cảm thấy thủ tục đền bù quá phiền hà nên sự án không thể thực hiện được. Vùng Sài Sơn có 17 ngọn núi đã bị biến thành nguyên liệu cho nhà máy xi măng Sài Sơn. Cảnh vật tự nhiên và làng quê quanh chùa Thầy thực sự không còn tồn tại. Giờ đây, dự án khu vui chơi, nhà ở, sân golf… của công ty Tuần Châu Hà Tây bên cạnh chùa Thầy hoàn thành thì những bờ ruộng cũng biến mất khi đó núi Thầy chỉ còn là… hòn non bộ mà thôi”.

Mới đây, Asian News Channel trình chiếu một phóng sự về một khu du lịch sinh thái nằm canh những ruộng lúa ở Indonesia. Khách du lịch được sống như những người nông dân bản xứ: trồng lúa, đánh bắt cá, tự nấu cơm, ngủ trong những nhà sàn, đi chùa… Giả sử, dự án năm xưa được hoàn thành như mục đích đề ra thì có thể xây dựng quanh chùa Thầy một làng Việt cổ trở thành điểm du lịch sinh thái dân tộc học mà Indonesia đã làm được. Khi ấy, chùa Thầy sẽ là nơi níu khách ngoại quốc lưu trú dài ngày chứ không chỉ ở lại một vài giờ hay chỉ để những du khách Việt đến để cầu may hoặc… xem bói.

Quản lí tồi!

Dù quang cảnh chùa Thầy xưa chỉ còn trong hoài niệm nhưng trong tâm thức khách thập phương thì chùa Thầy vẫn là nơi để người ta tìm đến mong có được cảm giác bình an, thanh tịnh.

Thế nhưng, đến chùa Thầy vào ngày thường cũng khiến nhiều người cảm thấy bực mình. Mới đặt chân đến chân núi Thầy, chúng tôi bị một “đạo quân” mời mọc mua hương, thuê đèn pin để xuống hang Cắc Cớ. Sau khi đã hết lời từ chối, leo vội vàng lên khuôn viên chùa thì gặp ngay một đội quân khác với các “dịch vụ” xem bói, bán bùa túi, túi thơm, thẻ lộc… Đặc biệt hơn, họ còn “tự nguyện” làm hướng dẫn viên khi thao thao bất tuyệt về lịch sử của chùa mặc cho khách có muốn nghe hay không.

Ban quản lí không những không can thiệp vào tình trạng lộn xộn mà còn có những hành động vô văn hóa với khách tham quan đến mức khó tin. Ban quản lí chỉ thu phí khi có đoàn khách đến còn những khách riêng lẻ thì cứ lên chùa mà không trả đồng tiền nào; đã vậy, một người đàn ông của ban quản lí khi thu phí tham quan một đoàn sinh viên đến tham quan với giọng đe nẹt ngay trong khuôn viên chùa bằng những ngôn từ ở… vỉa hè. Thu phí (5 ngàn đồng/ người) nhiều nhưng không thấy đầu tư trở lại phục vụ du lịch, bằng chứng là rác ở các lối đi nhiều vô kể, không có lấy một thùng rác nào để những người còn có ý thức giữ gìn cảnh quan đựng rác. Khi ra về, chúng tôi còn để ý tấm biển chỉ dẫn đường vào chùa cắm ven đường cao tốc Láng – Hòa Lạc bụi mịt mù đã không còn nữa. Chỉ khổ những du khách chưa quen đường chắc sẽ mất nhiều thời gian để dò hỏi; hẳn họ sẽ tự an ủi: “Muốn đến cửa Phật phải qua… khổ nạn!”.

Ngày mùng 5 tháng ba âm lịch sắp tới, chùa Thầy lại mở hội. Với tình trạng như trên thì sẽ có bao nhiêu người quay lại vãn cảnh chùa? Chùa Thầy theo thời gian liệu có còn là một chốn linh thiêng trong lòng người?

Hàm Đan

Thứ Ba, 26 tháng 1, 2010

THƠ: SẮP CHẾT HAY CHỈ LÀ ... TRÒ BÁO TANG?

Có hai biểu hiện của thời sự thơ mà những người quan tâm vin vào để nói rằng thơ đang “xuống dốc”, đó là: mấy năm trở lại đây, hai giải thưởng văn học lớn của Hội nhà văn Việt Nam và Hội nhà văn Hà Nội thường xuyên bỏ trống ở hạng mục thơ; thứ hai là, không có tác phẩm thơ nào gây được chú ý. Phải chăng thơ sắp chết hay đó chỉ là trò báo tang đang thịnh hành?


Số lượng và chất lượng: tỉ lệ nghịch

Theo số liệu của thư viện quốc gia, có 857 tập thơ xuất bản trong năm 2008, tính trung bình là hơn 2 tập thơ/ ngày (đó là chưa kể số lượng khổng lồ thơ đăng báo không đưa vào sách!). Nếu về số lượng thì hoàn toàn có thể yên tâm về chuyện không có người sáng tác mặn mà với thơ. Nhưng chất lượng thì đúng như báo chí và một số người trong cuộc nhận xét: không có bước ngoặt nào đáng kể.

Đại đa số thơ ca chỉ quanh quẩn những đề tài lặp lại nhẵn mặt mang tính công thức. Chẳng hạn viết về tuổi học trò thể nào cũng có phượng, tà áo trắng, nắng sân trường…; viết về nông thôn là hình ảnh bờ đê, cây đa… được gói ghém trong những thể thơ “du dương” ru ngủ. Thực ra, thi liệu là điều không quan trọng. Vấn đề cốt lõi là thơ Việt chưa thoát hẳn khỏi ảnh hưởng nghệ thuật của thơ Mới. Hàng trăm nghìn bài thơ xuất hiện trên báo, truyền hình, phát thanh và cả sách giáo khoa cứ na ná nhau về cách biểu đạt của một tinh thần thơ ca có cách đây những hơn 70 năm.

Đã “lạm phát” lại còn cũ kĩ thì dễ hiểu vì sao các giải thưởng của thơ “thà không có còn hơn chọn bừa” theo kiểu đến hẹn lại lên. Vậy, không trao giải thưởng cho thơ như hiện nay là điều đáng mừng hơn là đáng lo.

Thơ không còn dành cho số đông

Năm năm trở lại đây, nếu chú ý theo dõi sẽ thấy năm nào cũng có tập thơ khá nổi lên so với biển thơ được xuất bản như: Hành trình (Hoàng Hưng), Gửi VB (Phan Thị Vàng Anh), Những câu phức (Như Huy), Màu tự nhiên (Hàm Anh), Ma thuật ngón (Trần Tuấn)... Các tập thơ này đại diện cho các xu hướng thơ khác nhau đôi khi còn “cãi” nhau.

Nhưng các tập thơ này sau khi xuất bản chỉ gây được dư luận ít ỏi với người trong giới chứ về số đông hoàn toàn không hề hay biêt. Đằng sau những sự biến mất “không một tiếng vang” là câu chuyện của PR và của phê bình báo chí nhưng nó chứa một nghịch lí khác đó là vẫn có thơ đáng đọc (thậm chí là hay) nhưng tại sao dư luận lại gào lên không có một tập thơ nào hay.

Muốn đọc được thơ ngày nay chứ chưa nói là cảm và hiểu được thơ để đánh giá một bài thơ hay/ dở cần phải có trình độ văn hoá, thái độ tiếp nhận tương ứng với nghệ thuật thơ. Đa số độc giả Việt Nam vẫn thích thơ có vần, dễ đọc, dễ hiểu hơn là thơ hiện đại mang tư duy thơ đứt đoạn. Nếu vô tình gặp được một bài thơ kiểu mới chắc chắn đa số người đọc sẽ chối bỏ vì cho rằng đoạn văn bản vừa đọc không phải là thơ. Đó là chưa kể một số nhà thơ Việt Nam đi theo khuynh hướng hậu hiện đại sử dụng nhiều yếu tố nhại lại và giễu nhại làm cho thơ mất đi vẻ trang nghiêm vốn thường trực trong thơ Việt.

Mặt khác, độc giả chưa có “duyên kì ngộ” gặp được thơ cách tân táo bạo. Hầu hết họ luôn nhầm tưởng toàn bộ nền thi ca Việt đang tồn tại ở dạng sách in hoặc trên phát thanh truyền hình mà không biết rằng có một bộ phận khác tồn tại chủ yếu ở internet và… photocopy chuyền tay. Tiếc thay phần thơ “dưới ngầm” (underground) này lại chứa đựng nhiều giá trị mới mẻ hơn. Như vậy, thơ Việt vẫn phát triển chỉ có điều nó không còn dành cho số đông nữa.

Box:

Nhà thơ, dịch giả Hoàng Hưng:

Thơ không phải là chuyện có thể tính từng năm như với các sản phẩm da giày. Vài năm chưa có một tập thơ đáng đọc cũng là bình thường. Còn giải thưởng ư? Ngay giải Nobel cũng chưa phải "chuẩn”, nữa là giải văn chương ở ta; vậy, không nên gắn kết bất kỳ giải thưởng nào với chất lượng của tác phẩm.

Ngày nay, người làm thơ "mới" vẫn lèo tèo. Mừng là cái mới không còn bị kỳ thị, đả kích vô lối như trước đây dăm năm. Làm được mới rất khó, phải có căn bản mới từ lối sống, cách thưởng thức cái đẹp, kiến thức văn hoá chung. Giáo dục vẫn thế thì lây đâu nghệ thuật mới? Chỉ một số ít rất quyết chí tự học, bản lĩnh cá nhân cao mới làm được cái gì mới. Bắt chước, học đòi thì chỉ ra vẻ mới mà không có sức sống. Nổi loạn cũng là một cách làm mới, nhưng "bạo phát bạo tàn".

Nhà thơ Trần Tuấn:

Đa số người viết trẻ đã và đang theo lối mới tuy đậm nhạt khác nhau. Không có một trật tự nào cho thơ cả. Và cũng chẳng cần ai tìm cách “chôn” ai cả. Bởi chắc chắc “cực mới” hôm nay sẽ là “cực cũ” ngày mai.

Không có thứ “mùa màng” nào nghiệt ngã như văn chương, suốt đời gieo mà gặt về không được mấy. Đó là quy luật của cả thế giới rồi. Nên nghĩ mỗi nhà thơ cũng chẳng có gì lo ngại, hốt hoảng hay sốt ruột. Tôi tròn 10 năm mới in một cuốn thơ. Suy tư về thơ, làm thơ trong tâm tưởng thật sâu trước khi in, đó là cách của riêng tôi.

Nhà phê bình Văn Giá:

Việc mà Hội nhà văn không trao giải hằng năm cho thơ năm vừa qua cũng không có nghĩa là thơ mất mùa hoặc không có thành tựu. Chứng cớ là, có một số đơn vị tư nhân đã đứng ra tổ chức các cuộc thi và họ được nhiều cây bút trẻ hưởng ứng, trong số đó có những tập rất khá.

Theo tôi nghĩ, chưa thể gọi thơ mới thơ cũ như cách gọi thời kỳ 1930-1945. Trong bối cảnh văn hóa đương đại hôm nay, khó có thể có cuộc cách tân thơ ca mang tính chất phong trào đột khởi và mạnh mẽ như thời thơ Mới.

Việc đang đổi mới, đang cách tân ngày hôm nay đã thấy rõ. Nhưng chưa thấy xuất hiện “thủ lĩnh” với những tuyên ngôn mỹ học sâu sắc và thuyết phục, chưa thành phong trào mạnh mẽ và đông đảo, chưa có thành tựu sáng giá để khẳng định và minh chứng. Người sáng tác và người phê bình đang trong tình trạng lúng túng, hoang mang. Thơ nằm trong vùng cách tân chưa có những thành tựu đỉnh cao thực sự thuyết phục. Thơ bị coi là truyền thống (cũ) vẫn còn đang đồng hành, chung sống và không ít bài vẫn hay.

Hàm Đan

Thứ Hai, 25 tháng 1, 2010

THƠ ĐẾN TỪ... ĐỐI THOẠI



Thơ đến từ đâu với văn giới đã không còn xa lạ bởi một số bài viết trong cuốn sách đã xuất hiện trên báo mạng từ mấy năm trước. Nhưng khi tập hợp thành sách nó vẫn tạo ra được dư luận trái chiều, đó là một điều hiếm có với một cuốn sách phi hư cấu và cũng không hề dễ đọc.

Hội tao đàn “giao lưu”…

Thơ đến từ đâu có thể ví như là một chiếu rượu để các nhà thơ Việt Nam đương đại họp mặt. Tác giả cuốn sách - người chủ trò là bác sĩ, nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, anh “mời” ai họp mặt là sự lựa chọn mang tính chất cá nhân của anh. Nhưng, nhìn vào danh sách 25 nhà thơ, ta thấy sự lựa chọn này có cân nhắc chứ không phải là việc làm ngẫu hứng.

Các nhà thơ góp mặt trong tuyển sách ở các thời kỳ lịch sử khác nhau như: nhà thơ Hoàng Cầm sinh năm 1923 trong khi nhà thơ Nguyễn Thế Hoàng Linh sinh năm 1982; không gian khác nhau: các nhà thơ như Du Tử Lê, Nguyễn Đăng Thường, Đỗ Kh., Trần Nghi Hoàng… sau năm 1975 ở hải ngoại. Nhưng quan trọng nhất là các nhà thơ trên là đại diện cho các những dòng thơ chủ đạo suốt một thế kỷ qua: Hoàng Cầm và Lê Đạt nổi tiếng trước năm 1954; Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo là nhà thơ – chiến sĩ tiêu biểu của thế hệ thanh niên chống Mỹ; Ngô Tự Lập, Lê Vĩnh Tài, Trần Hữu Dũng… lại nổi lên sau thời kỳ Đổi mới. Hiển nhiên, còn nhiều nhà thơ “đại gia” khác không góp mặt mà chính Nguyễn Đức Tùng thừa nhận là không có duyên gặp gỡ: “Ví dụ cách đây vài năm ở Sài Gòn, qua sự giới thiệu của anh Du Tử Lê, tôi định gặp và phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Duy, nhưng vào lúc ấy, tôi bận đi Hà Nội và nhà thơ thì bận đi Mỹ”. Thơ đến từ đâu đã phần nào phác thảo rất ngắn về thơ ca Việt chứ mục đích cuốn sách không phải là một tham vọng làm hợp tuyển như các cuốn tuyển tập bày trên giá sách vẫn nuôi ý định.

Điều thú vị cho những người đọc cuốn sách này là họ có thể tự dựng cho mình một hình dung về diện mạo của thơ ca Việt đương đại vốn đa dạng hơn nhiều trong ý nghĩ của nhiều người. Thơ Nam Dao có ảnh hưởng thơ Đường, thơ “bóng chữ” của Lê Đạt, thơ tân hình thức và thơ “ảnh” của Đỗ Kh.,thơ lục bát của Nguyễn Thế Hoàng Linh… là những xu hướng thơ tồn tưởng chừng như “cãi” lẫn nhau nhưng thực tế chúng chung sống một cách bình đẳng, không một xu hướng nào vượt lên làm chủ đạo.

Đằng sau một catalogue về thơ Việt hôm nay, theo nhà thơ Nguyễn Thụy Kha thì Thơ đến từ đâu là “một cách tự hóa giải”hay nói như nhà thơ Lê Đạt là: “Tôi chủ trương cần có sự hòa thuận giữa người VN ở miền Bắc và ở miền Nam, người trong nước và người ở hải ngoại”. Nhưng “hòa thuận” không có nghĩa là thiếu tinh thần giúp đỡ, kích thích sự sáng tạo bởi theo nhà thơ Lê Đạt thì “chỉ có tranh luận và dân chủ (chỉ trong lĩnh vực văn chương - PV) thì mới có tiến bộ” như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo nói về thơ Nguyễn Quang Thiều: “Thơ Thiều chứng tỏ một sức vóc vạm vỡ giàu chất văn xuôi hiện đại, giàu hình ảnh, nhưng ít gặp ở anh những bài thơ, câu thơ xuất thần, thảng thốt… thơ Nguyễn Quang Thiều không có bài kém và cũng hiếm bài thật hay”.

Không chỉ họp mặt, mà Thơ đến từ đâu thực sự đã là một diễn đàn cho các nhà thơ nói về về thơ mình, thơ bạn một cách thẳng thắn trên tinh thần đối thoại tích cực.

… và đàm luận

Nhan đề cuốn sách là một câu hỏi mang tính bản thể luận, nghĩa là lời hỏi chỉ là một, nhưng lời đáp thì có thể là nhiều. Đây là con đường thích hợp cho việc “thăm hỏi” chuyện kĩ thuật, lí luận… thơ ca một cách dễ chịu đối với các nhà thơ.

Nếu nhìn vào hình thức của các văn bản trong cuốn sách, dễ nhầm đây là một tập phỏng vấn các nhà văn. Thực ra, các bài trong Thơ đến từ đâu là thể loại đàm luận (t.Pháp: entretien) chứ không phải là phỏng vấn (interview). Trong các giáo trình báo chí, có phân biệt rõ hai thể loại này. Nếu trong phỏng vấn, phóng viên đi khai thác thông tin là chính, nhân vật trung tâm là người trả lời; thì trong đàm luận, cả phóng viên cũng đưa ra quan điểm, chính kiến của mình trao đổi với người khác, vị trí đàm luận là ngang bằng.

Vì là thể loại đàm luận nên Thơ đến từ đâu không khai thác khía cạnh đời tư, những giai thoại để “kiếm chuyện làm quà” mà chỉ chú trọng đến chuyện “bếp núp” nghề thơ và sinh hoạt thơ. Đã đi theo hướng chuyên sâu thì hiển nhiên sức thu hút với người đọc phổ thông sẽ nhanh chóng chấm dứt bởi đơn giản không phải ai cũng được trang bị kiến thức đủ để hiểu các vấn đề được bàn luận. Ở điểm kết thúc “khoái cảm” đọc của độc giả phổ thông cũng là điểm bắt đầu công việc đọc với những “siêu độc giả”. Thơ đến từ đâu chứa nhiều giá trị học thuật vượt xa các cuốn sách dưới dạng “hỏi đáp” từng xuất hiện trước đây như: Hỏi chuyện các nhà văn của Nguyễn Công Hoan, Nhà văn nói về tác phẩm của Hà Minh Đức, Tác giả nói về tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều… Cho nên, có thể xem Thơ đến từ đâu là một cuốn sách nghiên cứu văn học dưới dạng đàm luận.

Để hoàn thành cuốn sách nghiên cứu văn học theo bằng một cách làm đàm luận đòi hỏi người thực hiện phải là người am hiểu về thơ ca nói chung, lẫn am hiểu phong cách thơ của từng nhà thơ được phỏng vấn mới có thể đưa ra những câu hỏi “sát sườn” nhằm làm lộ ra “tướng tinh” của thơ và một phần nào là tính khí của nhà thơ đó. Nguyễn Đức Tùng tỏ ra xứng đáng làm người nối kết cuộc “giao lưu” thơ ca hiếm hoi này. Được bảo hiểm bởi kiến thức rất vững về thơ nên anh điều khiển cuộc “hỏi đáp” một cách chủ động, linh hoạt. Anh không chỉ hỏi, gợi mở để người được hỏi trở thành nhân vật chính mà chính anh với tư cách là người hỏi cũng đưa ra quan điểm, chính kiến của mình nên vị trí của anh ngang bằng với người trả lời.

Có người e ngại Thơ đến từ đâu sẽ lại là một thất bại về thương mại cho một cuốn sách giá trị về nội dung lẫn đẹp mắt về cách thức trình bày. Nhưng, thương mại không phải là mục đích của tác giả lẫn những người tham gia cuốn sách. Mục đích chính của cuốn sách “tử tế” này là chốn giao lưu giữa các nhà thơ, để tìm hiểu một cách sâu sắc về suy nghĩ của nhà thơ hôm nay về thơ ca, nhân sinh và phần nào kích thích sự sáng tạo giữa các nhà thơ Việt. Vậy nên, sẽ không quá lời khi cho rằng Thơ đến từ đâu là một hiện tượng văn học đầu tiên của năm 2010 ở nước ta.

Hàm Đan

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2010

TOP TEN ... OF MINE


Top ten films:

1. In the mood for love
2. The silence of the lambs
3. The hours
4. Hidden (Caché)
5. One flew over the cuckoo's nest
6. Farewell my concubine
7. The pianist
8. Schindler's List
9. Rashomon
10. Modern Times




Top ten books:

1. Soul mountain
2. One hundred years of solitude
3. Ficciones
4. Waiting for Godot
5. In Search of Lost Time
6. Desert
7. Mythologies
8. Tristes Tropiques
9. Immortality
10. The Metamorphosis

(continue)
.............................

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2009

TẢN MẠN "QUÀ NGOẠI"



Qua mấy ngày Tết, khi đã no nê với bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành… người Hà Nội xuống phố hưởng lại cái thú ăn quà thanh nhẹ quanh năm vẫn dùng. Nhưng, mấy năm gần đây, nhiều người lại chọn cho mình những thứ quà có nguồn gốc nước ngoài để “khai khẩu” đầu năm. Chợt nghĩ, sao không thử lượm lặt những chuyện “quà ngoại” hiện thời ở vùng đất mà chuyện “ăn” luôn gắn với chuyện “chơi”.

Người đầu tiên viết về những món “quà ngoại” ở Hà thành mà nhiều người đọc còn nhớ là nhà văn Thạch Lam. Trong thiên tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường, ông nhắc đến mấy món quà ngoại một cách tự nhiên như thể chúng được sản sinh ra ở Hà Nội vậy. Thời Thạch Lam sống, “quà ngoại” chỉ quẩn quanh mấy món ăn Tàu và Pháp; chẳng biết có phải vì thế mà ông nhắc đến khá sơ sài làm cho lớp hậu sinh muốn tìm hiểu ẩm thực tò mò về chuyện giá cả, cách chế biến… các món thời ấy. Nay, tìm hiểu thông tin ăn uống rất dễ dàng. Muốn ăn sushi vừa ngon vừa rẻ ư? Hay nguồn gốc của spaghetti? Cứ nhờ “ông google” thì sẽ rõ.

“Quà ngoại” giờ mọc ra như nấm. Riêng fastfood đã có ba nhãn hàng là KFC, BBQ và Lotteria cạnh tranh khốc liệt. Nhưng đại gia lớn nhất là McDonald's thì vẫn chưa vào nước ta. Chỉ mong “ông” ấy vào sơm sớm vì ai chả biết các hãng cạnh tranh thì khách hàng được lợi. Cái thời toàn cầu hóa sướng là thế! Nghĩ lại mà thương thời bao cấp, một hôm nổi hứng, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Tô Hoài và Huy Cận đến nhà hàng Phú Gia; Xuân Diệu chỉ dám gọi một đĩa bít tết mà cứ phải tính toán: “Một món ở đây nó thiến bằng cả tháng thịt chó”. Bít tết bây giờ lại còn rẻ hơn cả thịt chó! Hiển nhiên, bít tết thì không phải hàng nào cũng ngon. Người Hà Nội rất ghét bít tết được bán trong quán café như một món ăn nhanh vì chất lượng rất tệ; thêm nữa bít tết mà dùng như dùng fastfood thì hỏi làm sao mà ngon được nữa. Người ta kháo nhau: thứ bít tết đó chẳng khác nào phở được bán trong hiệu phở gộp chung với cơm bình dân và các món xào. Người sành ăn vẫn tìm tới những nhà hàng chuyên bít tết với tâm lí: “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”; mà thực tế chứng minh, phải chuyên nghiệp mới mong đạt đến đỉnh cao. Mấy nhà hàng dù “mặt tiền” có bắt mắt đến mấy mà trưng biển các món Âu, Á; hoặc món ăn Việt và châu Á ắt thua xa những nhà hàng tuy bề ngoài thường thường bậc trung nhưng biết “tập trung chuyên môn” vào một thực đơn của một nước.

Bài toán bán gì được giải xong lại có bài toán khác là bán cho ai nên mới sinh chuyện: cùng một ông chủ nhưng hai nhà hàng pizza cùng tên lại bán cho hai loại khách hàng khác nhau. Một nhà hàng mà thực ra một cửa hiệu lụp xụp với loại pizza cỡ nhỏ bán cho các “thượng đế cà tàng”; một nhà hàng đặt ở “đường nghìn tỷ” bán cho các “thượng đế VIP”. Chuyện này là thường vì phân khúc khách hàng phải đẻ ra hai nhà hàng. Với nhà hàng phục vụ pizza cho VIP ăn nên làm ra nhưng quán pizza bình dân một năm sau phải đóng cửa. Hỏi ra, không phải vì nội thất, khách hàng bỏ đi vì thái độ phục vụ quá kém trong khi chất lượng pizza cũng “thường thôi” vì tiền nào của nấy. Hóa ra, dù ở thời nào và với món gì, người Hà Nội vẫn khó tính, chất lượng lên hàng đầu và bây giờ là cả thái độ phục vụ nữa. Chuyện “bún mắng”, “cháo chửi” mới đắt hàng chẳng qua là chuyện được (hay bị?) mấy nhà báo nói vống lên chứ nếu món ăn mà không ngon thì cửa hiệu chỉ có nước sập tiệm.

Mấy thứ quà đặc Việt Nam như bún hay cháo rất dễ để biết thế nào là ngon hay không ngon; còn quà ngoại thì tiêu chí nào để đánh giá? Một câu hỏi tưởng là dở hơi nhưng tìm câu trả lời thì lại khó. Anh đầu bếp thì bảo: cứ theo thầy hoặc sách dạy chế biến đúng kỹ thuật thì món ăn sẽ ngon thôi. Khách hàng lắc đầu: không hợp với khẩu vị chúng tôi. Các ông chủ mới ngớ ra một triết lí: không phải cứ “nhập khẩu” “nguyên đai nguyên kiện” là đắt hàng vì mỗi nước có khẩu vị riêng. Tây ghét mắm tôm, ta ghét pho mát thối dù cả hai đều… “khó ngửi”, đó là ví dụ. Để dung hòa, các ông chủ bèn lệnh phải nghiên cứu làm sao các món hợp với thị hiếu người Việt. Vì thế mà, sủi cảo ở ta nhân thập cẩm với phương châm “càng nhiều càng tốt” theo một nguyên tắc… khó hiểu gồm có thịt nạc, tôm tươi, xá xíu, trứng gà luộc, gan lợn, nấm hương, hành, hẹ; trong khi “sủi cao nguyên thủy” thì nhân chỉ có thịt, cùng lắm là tôm. Lạ lùng, những viên sủi cảo bán ở Việt Nam được cho vào một bát nước dùng ninh xương gà, xương lợn, một số vị thuốc bắc và vỏ tôm. Khi ăn kèm thêm cải xanh nhúng vào nước nóng và một con tôm càng. Canh sủi cảo này khá giống với bát bánh đa riêu cua và bún mọc; trong khi “sủi cảo nguyên thủy” ít khi thả vào nước mà thường hấp thành viên ăn kèm với xì dầu. Chính vì tình trạng tam sao thất bản, nên mấy anh bạn Mĩ hay than trời là ở Việt Nam không tìm ra được hàng hamburger ngon. Hỏi dò: “Có phải thiếu cái không khí như bên Mĩ?”. Trả lời: “Không. Vì bánh hamburger thôi”. Trở lại với sủi cảo, gần đây, có hiệu sủi cảo trên phố cổ Hà Nội quyết trở lại với “sủi cảo nguyên thủy”; nhân chỉ có tôm hoặc thịt, đoạn tuyệt với nhân thập cẩm lại được người sành ăn hưởng ứng nhiệt tình. Nhà hàng đang làm một công cuộc PR hoành tráng, đại để tuyên bố hùng hồn với thực khách Hà thành rằng: sủi cảo ở cửa hàng mới là “hàng hiệu” vì là “gia truyền” bên Trung Quốc trăm phần trăm.

Có lẽ, đây là lần đầu một nhà hàng chuyên thức ăn ngoại dám trưng hai chữ “gia truyền”. Trước, không có nhà hàng ngoại nào dám treo biển có chữ “to gan” “gia truyền” đầy tự hào truyền thống như phở hay bún chả ở ta vì đơn giản các ông chủ đa số là người Việt Nam, đầu bếp cũng người Việt Nam nốt. Treo thế e “nổ” quá chăng? Ông chủ Tây chính cống thì dại dột không biết người Hà Nội rất thích chữ “gia truyền” nên các biển hàng thường khiêm nhường: A little Italian, Le Petit Bruxelles … Ý muốn nói cơ ngơi thường thôi, nhưng đúng “chất”, vào đi! Hoặc ghép tên nhà hàng với một thứ gì đó không liên quan đến ăn uống cho lắm như: Sakura, Kimono, Đèn Lồng Đỏ, Khazaana Indian, Lotus, Vijit Thai… Người Hà Nội vốn tính thật thà, từ thật thà dẫn đến cả tin cũng gần nhau, thấy biển báo đồ ăn ngoại là vào thử nhưng nhiều khi ăn phải quả lừa khi thức ăn chẳng ra gì. Một số khác, nhất là những người trên bốn mươi thường càu nhàu: gà gì mà bở thế, về ăn gà ta thích hơn. Rõ là một điều buồn cười, gà Mỹ nuôi nhốt ở Việt Nam để làm gà rán thì không thể giống gà ta đi bộ cả ngày được, vả lại mốt ăn gà chọi, gà già ở đất Bắc vẫn đang thịnh sau khi mốt gà tơ, gà non lui vào dĩ vãng. Nhưng có những món mà nếu có thời gian và chịu khó thì tự làm ở nhà còn ngon hơn ăn ở tiệm như gimbap, spaghetti, rau trộn mayonnaise của Nga chẳng hạn.

Câu chuyện một công dân thủ đô tự hào khoe với bạn bè sáng nào cũng ăn một bát phở bò chín ở của hiệu gần nhà suốt bốn mươi năm giờ đây chắc chỉ còn chuyện đùa. Đơn giản, quá nhiều lựa chọn cho thực khách. Cái gì ăn mãi cũng chán dù cho có ngon, bổ, chứa đựng tinh hoa văn hóa dân tộc đi nữa. Rút cuộc, người ta cần thay đổi. Người Hà Nội càng ngày càng cả thèm chóng chán; ngay đến món ăn nước ngoài giờ cũng đã bão hòa. Hết KFC rồi đến sushi, lẩu Thái, sủi cảo, gimbap… có dạo rộ lên mốt ăn côn trùng như bên Thái Lan, Lào rồi lại chán. Không biết chừng sang năm mới có thêm nhà hàng thịt cừu, thịt cá voi… làm người sành ăn lại có phen náo động bởi người Hà Nội quen ăn tinh nhưng cũng thích khám phá món ăn năm châu như một thú chơi.

Nghĩ cho cùng, bản thân đất Hà Nội không sinh ra được một món ăn nào xứng danh một “thương hiệu” nhưng Hà Nội là nơi hội ngộ những món ăn từ những xứ lạ. Chúng dần hòa vào ẩm thực bản địa để một ngày trở thành quen thuộc đến độ giờ đây một em bé Hà Nội mà không chịu đọc sách có lẽ không biết món cà ri vốn là một món của Ấn Độ.

Hàm Đan

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2009

ĐỌC “TIỀN ĐỊNH” CỦA ĐOÀN LÊ


Khi đọc một tác phẩm văn chương nào đó, mỗi người đọc đều có thể thu được một ích lợi nào đó tùy thuộc theo sở thích, thói quen… Với tiểu thuyết Tiền định, điều đầu tiên mà bất cứ ai cũng dễ dàng thu lượm được là sự hiểu biết thêm về bối cảnh (context) của thời bao cấp đã lui vào dĩ vãng. Đó mới chỉ là bề mặt chất liệu như việc đọc truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài biết thêm về phong tục miền núi chẳng hạn. Điều thứ hai, quan trọng hơn là thân phận người phụ nữ trong một thời kỳ xã hội chặt. Nhân vật Chín và các nhân vật nữ khác trong Tiền định trở thành những con người chức năng được xã hội quy định do tàn tích của tư tưởng Nho giáo. Nhưng bề sau hay thực chất số phận của họ chứa đựng là sự bất hạnh mang tính định mệnh; không phải như nhân vật tên Tiếc bị đặt tên chỉ vì suýt nữa được đem cho, mà đúng hơn là sinh ra trong một thế giới được đàn ông định nghĩa và đã bị định nghĩa như cách nói của Simone de Beauvoir trong The second sex. Bởi thế mà, trở thành người đàn bà phải được sự thừa nhận của người đàn ông: “-Em… Em có biết em đã thành đàn bà rồi không?” (trang 98).

Trong một xã hội chặt như thế, hiển nhiên bản thân nhân vật cũng có những mặc cảm về thân phận “hạng hai” của mình đến mức như nhân vật Chín ghét luôn cơ thể của mình và sợ hãi về sự va chạm xác thịt: “Cái thân thể mười bảy chưa có kinh nghiệm va chạm, co rúm lại vì bỗng nhiên đau xé. Cô không tưởng tượng được sự xâm phạm ấy mới ê chề làm sao, dơ dáy làm sao! Sau việc vừa xảy ra, cô không thể nhìn mặt con người đó mà không cảm thấy bị xúc phạm…” (trang 97). Nhưng dù bị cấm đoán và tự cấm đoán đến mấy, những ham muốn dục tính thầm kín nhưng mạnh mẽ vẫn tìm cách thoát khỏi sự kiểm soát hữu thức thông qua những giấc mơ hay những cảm giác vô thức: “Đang giữa giấc, bỗng mình cảm thấy ai đó nằm lên người mình” (trang 71). Những lần như thế thật hiếm hoi, bản thân nhân vật Chín – một nhân vật nữ sống lệch chuẩn so với thời đại mình sống; con người phiêu lưu trong tình cảm và công việc nhưng vẫn là hiện thân cho một tâm lý lệ thuộc trong xã hội truyền thống khi tự nhủ: “Dù sao mình vẫn còn có Hòa bên cạnh cơ mà” (trang 108); từ đó “…trước mỗi khúc ngoặt của cuộc đời, nàng đều hết sức do dự…” (trang 276).

Đó chính là định mệnh cho thân phận người phụ nữ, cho cuộc sống con người thời bao cấp như tư tưởng chính của tiểu thuyết này. Một triết lý không mới mẻ. Tiền định không phải là tác phẩm mang tiếng nói nữ quyền (feminism) hay để nhận thức lại lịch sử một giai đoạn mà tự do con người bị xã hội toàn trị kìm hãm. Tiền định đơn giản chỉ tìm cách xới xáo lại những kỷ niệm, tạo ra một hế thống nhân vật thế tục của thời quá khứ buồn thảm. Đặc biệt hệ thống nhân vật nữ xoay xung quanh nhân vật Chín. Cho nên, khi sử dụng chất liệu về đời sống thời bao cấp, nhà văn không tìm cách say sưa cường điệu hóa chất liệu mà chỉ kể lại các câu chuyện, sắp xếp chúng theo quy luật mang tính chất lặp nhằm nhấn mạnh cái triết lí về “tiền định”.

Cũng vì thế mà cuốn tiểu thuyết không thể thăm dò sâu hơn những góc khuất tâm lí thầm kín của các nhân vật bằng các thủ pháp hiện đại như độc thoại nội tâm chẳng hạn. Cũng là điều dễ hiểu, bởi nếu đi ngả rẽ đó kết cấu phối hợp của tiểu thuyết lập tức tan vỡ. Kết cấu phối hợp có đặc trưng là số phận của một nhân vật trùng với một độ dài tồn tại nhất định của xã hội. Tâm lí của cả nhóm người, những định mệnh song song cùng khẳng định một sự việc. Tác giả thường dàn dựng một số rất đông các nhân vật mà những số mệnh song song của họ đôi khi cũng trùng lặp nhau; họ bị ảnh hưởng bởi những sự kiện diễn ra trong xã hội. Một khi kết cấu phối hợp không còn thì sự nhấn mạnh vào tính chất định mệnh của số phận nhân vật trong tiểu thuyết cũng sẽ không đứng vững được.

Để đạt đến mối quan tâm về tiền định, tiểu thuyết đã phải chấp nhận đi theo những lối mòn, những “khái niệm lỗi thời” (Alain Robbe-Grillet) của tiểu thuyết. Chẳng hạn như cốt truyện. Tiền định thuộc vào một cốt truyện khuôn sáo: một loạt thử thách, nhân vật đương đầu với những biến cố nhưng vẫn không nhụt chí. Cốt truyện xoay quanh những chuỗi sự việc nghĩa là những hành động liên tiếp móc nối với nhau một cách logic. Thỉnh thoảng, tác giả tìm cách phá vỡ sự logic bằng giấc mơ, sự huyền ảo, tính bội trương… Nhưng tất cả đều không triệt để, không được theo đuổi một cách nghiêm túc. Tất cả những nhược điểm ấy bộc lộ ở đoạn kết tiểu thuyết. Một kết thúc bi kịch đột ngột nhấn mạnh thêm về tính chất định mệnh nhưng hiệu quả thẩm mỹ bởi những câu hỏi treo là không cao bởi cả cuốn tiểu thuyết tính nặng của cuộc sống đã chất đầy.

Người đọc có thể cảm động trước những câu chuyện về thời bao cấp nhưung với kỹ thuật viết tiểu thuyết cũ như thế này hứng thú đọc tiểu thuyết cũng giảm đi phần nào. Và nhất là chưa tìm cách nâng tầm chất liệu trong cuốn tiểu thuyết lên một bậc.

Hàm Đan

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2009

Truyện ngắn Việt: “Giậm chân tại chỗ”!



Dù đã có nhiều thành tựu, nhưng truyện ngắn vẫn là “mảnh đất” đầy triển vọng để nhà văn Việt Nam vừa nói lên tiếng nói về thời đại và nhân sinh, vừa là nơi thể nghiệm những cách tân nghệ thuật độc đáo.

Các tác phẩm văn chương gây được chú ý, các giải thưởng văn chương quốc gia và quốc tế mà nhà văn Việt Nam nhận được từ trước đến nay hầu hết đều dính dáng đến truyện ngắn. Nối tiếp thành công của các bậc tiền bối, các nhà văn trẻ vẫn đang đua nhau sáng tác truyện ngắn một cách mệt mài. Nhưng nhìn lại, thành tựu truyện ngắn từ năm 2000 trở lại đây lại tỉ lệ nghịch với số lượng.

“Đầu tàu” văn chương

Các nhà phê bình ngày nay thường than vãn rằng: họ không còn đủ sức theo dõi các truyện ngắn in trên báo để phát hiện kịp thời một truyện ngắn hay, một tác giả có phong cách riêng; lí do là truyện ngắn được các cây bút Việt Nam sản xuất một cách vô độ, ngang tầm các nền văn chương hàng đầu thế giới. Tìm một tờ báo không đăng truyện ngắn (như tờ Người đô thị!) là việc rất khó. Đó là về số lượng, còn về chất lượng thì chẳng ai phản đối nếu nói rằng thành tựu lớn nhất của văn chương Việt Nam chính là truyện ngắn trong khi các nước khác là tiểu thuyết. Vì vậy, truyện ngắn là một ví dụ hoàn hảo cho chủ nghĩa “mình thì khác” của văn chương Việt Nam.

Có được điều này là do truyện ngắn đã hình thành một truyền thống và đáng tự hào hơn là sớm có thành tựu với Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ (?-?), Thánh Tông di thảo của Lê Thánh Tông (…………)…; đặc biệt là kiểu truyện ngắn mini trong tập Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng (1374 - 1446). Điều thứ hai, sâu xa hơn, có nhà nghiên cứu đã táo bạo nói rằng truyện ngắn là sở trường người Việt Nam là do “tạng” người Việt hợp với dung lượng thể loại này, chỉ làm tốt những gì “nhỏ mà đẹp”. Một lí do khách quan là truyện ngắn vốn được xem là “bài tập” cho bất cứ ai nuôi mộng trở thành nhà văn.

Ở những giai đoạn sau, đặc biệt là khi tiếp xúc với văn chương phương Tây, truyện ngắn Việt phát triển một cách vượt bậc ngang tầm thế giới với tên tuổi của Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân… Sau năm 1975, truyện ngắn lại đi đầu trong việc đổi mới văn chương sau một thời gian bị “hãm” do chiến tranh. Công đầu thuộc về các cây bút như Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Trần Trung Chính, Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Nguyễn Bản, Y Ban, Trung Trung Đỉnh…

Rõ ràng, nếu cần dự báo “an toàn” nhất ở thời toàn cầu hóa, thì truyện ngắn có thể xem là “đầu tàu” kéo văn chương Việt tiến lên.

Truyện ngắn đương đại: “Soạn văn”!

Nguyễn Huy Thiệp từng nói các nhà văn như Tô Hoài, Nguyễn Khải và thế hệ nhà văn chống Mỹ đang “soạn văn” nghĩa là những tác phẩm mới của nhà văn này chỉ viết dựa trên kinh nghiệm trong mấy chục năm cầm bút mà không có một tác phẩm nào mang tính cách tân cho văn chương. Nhận xét này cũng đúng nếu dành cho truyện ngắn.

Điều đáng buồn hơn là các nhà văn sung sức bây giờ ở thế hệ 7X và 8X, kì lạ thay lại mắc bệnh “soạn văn”. Số lượng người viết truyện ngắn vô cùng đông đảo nhưng các truyện ngắn này lại ná ná nhau cho dù chất liệu hoàn toàn khác nhau. Các nhà văn tập trung khai thác chất liệu mà cuộc sống hiện đại cung cấp như: tình dục, đồng tính, tính vô cảm, lối sống nhanh, bày tỏ cái tôi… Nhưng nghệ thuật viết truyện ngắn thể hiện ở các cấp độ như: lối viết, ngôn ngữ, cấu trúc, hình tượng chưa được chú ý. Ngay đến cả những tác phẩm làm “nổi sóng” dư luận 5 năm trở lại đây như: Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu…, nếu xem xét nghiêm túc sẽ nhận ra nghệ thuật kể truyện trong các truyện ngắn vẫn “giậm chân tại chỗ”.

Một nhà văn nhận xét: các nhà văn trẻ đang “díu” vào nhau. Một nhân xét đầy hình tượng và rất trúng. Hầu hết các nhà văn trẻ rơi vào “cái bẫy” do chất liệu bày ra. Họ quá tham lam khi khai thác những chất liệu mới. Điều này khiến các truyện ngắn rất gần với báo chí khi chủ yếu là kể lể nhằm phản ánh hiện thực khách quan để giống như ngoài đời. Đã thế, họ trở thành cái “loa” tuyên ngôn một cách trực tiếp cho chất liệu với những lời bình, lời kêu gọi, lời nhận xét ngay trong tác phẩm. Chẳng hạn, về vấn đề tình dục, họ lên tiếng tự do tình dục một cách trực tiếp tưởng rằng sự phản kháng ấy là mới mẻ, là khiến cho truyện ngắn ấy hay. Đó là chưa kể những “cái bẫy” của thời đại thông tin giăng ra khi mà sự nổi tiếng, tính đại chúng có thể khiến bất cứ ai “ngã lòng” khi cố công khai thác những đề tài “nóng” gây “sốc”.

Một nhà phê bình lên tiếng bênh vực: toàn là lỗi “khi người ta trẻ”, hãy ghi nhận những nỗ lực sáng tạo của họ. Hiển nhiên, trong số những người viết truyện ngắn hiện nay có rất nhiều người nỗ lực cách tân truyện ngắn như: Hoàng Long, Nhật Chiêu, Đặng Thân, Phan Việt, Nguyễn Nguyên Phước… Nhưng đại đa số đang “ăn sẵn” tài năng trời cho rất chóng hết và chất liệu cuộc sống. Lấy ví dụ về chất liệu đồng tính, nhiều người vẫn coi đồng tính là không bình thường nhưng không đến nỗi ghê tởm, tránh như tránh AIDS khoảng chục năm trước. Trong tương lai, đồng tính sẽ được xem là bình thường; vậy khi đó các cây bút truyện ngắn chuyên tìm cách kể lể, khai thác nó như cái bất bình thường như hiện nay sẽ không có “đất sống”.

Quên đi cốt truyện

Ngày nay, đa phần các nhà văn đi theo con đường kĩ thuật viết truyện ngắn phương Tây. Với dung lượng hơn 1250 từ một chút, truyện ngắn có dung lượng nhỏ nên điều quan trọng với các nhà văn là đầu tư vào cấu trúc. Truyện không kể theo cấu trúc tuyến tính, mà theo cấu trúc phân mảnh là chính với nhiều mảng trần thuật, giọng điệu, điểm nhìn khác lẫn vào nhau. Đó là chưa kể những cấu trúc xoắn ốc, mê cung, vòng tròn… của các “đại gia” truyện ngắn như Jorge Luis Borges, Julio Cortázar, Annie Saumont… chưa được các nhà văn Việt Nam thể nghiệm. Một số khác viết theo lối viết mà ở đó hình tượng nổi lên, đặc biệt mang tính chất tượng trưng được chú ý. Ở Việt Nam, nhà văn Nhật Chiêu với tập truyện Người ăn gió và quả chuông bay đi có những truyện mang biểu tượng Phật giáo đáng chú ý. Một số khác sử dụng cách viết dụ ngôn mang hơi hướng các truyện ngắn của Italo Calvino như Tô Hải Vân với Bỗng dưng có một ngày. Dù các ngả đường cách tân khác nhau song các nhà văn hiện đại ở ta lẫn Tây đều không mấy quan tâm đến cốt truyện nữa, đó là một khái niệm “lỗi thời” (Alain Robbe-Grillet). Chạy theo cốt truyện chỉ dẫn đến cách kể tự nhiên hoặc hiện thực nhàm chán như hiện nay.

Các tiểu thuyết gia Việt Nam rất khó khăn trong sáng tạo khi không có cái nền để giúp công việc họ đi nhanh hơn. Truyện ngắn với cái nền vững chắc lại đang trở về với những ấu trĩ ban đầu mà quên đi nhiệm vụ đưa truyện ngắn phát triển bằng những khám phá nghệ thuật. Có nền mà không biết bật lên phải chăng là quá lãng phí?

Hàm Đan

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2009

ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM: ĐẦU TIÊN PHẢI XÂY MÓNG



Tin vui cho điện ảnh VN trong năm nay là bộ phim Chơi vơi của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên đoạt giải của Hiệp hội Phê bình điện ảnh quốc tế (Fipresci Prize) tại LHP Venice 2009 trong khi tham gia LHP này ở hạng mục Orizzonti (Chân trời). Mừng vì phim nước nhà lâu lắm rồi mới đoạt giải quốc tế. Nhưng thành công của Chơi vơi liệu có phải được hình thành từ một cái nền điện ảnh vững chắc để từ đó những thành công như Chơi vơi không phải là hiếm? Câu trả lời là không!

Một thực tế mà nhiều người làm phim VN luôn chấp nhận dù không vui vẻ là điện ảnh VN chưa bao giờ được xem là một nền điện ảnh chuyên nghiệp. Điện ảnh quốc doanh hàng chục năm không thay đổi cơ chế bao cấp; trong khi điện ảnh tư nhân đang đi những bước đầu tiên. Con đường chuyên nghiệp của điện ảnh VN tuy còn xa nhưng đường hướng để đi đã có thể nhìn thấy ở phía điện ảnh tư nhân.

NHƯ CÁI ĐÈN CÙ

Vài năm trở lại đây, những bộ phim do nhà nước sản xuất vẫn đi theo con đường kinh điển của hàng chục năm nay đó là làm phim xong trình chiếu trên toàn quốc một vài tuần rồi rút lui “không một tiếng vang”. Dư âm sót lại là khi tên của những bộ phim đó được xướng lên tại Lễ trao giải Cánh diều vàng để cuối năm được ghi trong bản cáo cáo thành tích của ngành điện ảnh. Chấm hết. Hình ảnh ví von hay nhất với điện ảnh quốc doanh có lẽ là cái đèn cù: vẫn chuyển động nhưng rút cuộc chẳng có gì mới.

Về doanh thu, chưa bao giờ những bộ phim của nhà nước sản xuất cùng thời điểm lại đứng đầu bảng xếp hạng, đơn cử như phim Ký ức Điện Biên kết thúc 6 ngày rưỡi chiếu ở TP.HCM bán được... 24 vé, doanh thu 700 ngàn đồng. Sự yếu kém của hãng phim nhà nước báo chí đã mổ xẻ không phải nhiều mà là quá nhiều; từ việc thiếu chuyên nghiệp trong khâu sản xuất, cơ chế làm phim vẫn không thay đổi mấy so với thời bao cấp cho đến khâu quảng bá phim kém… Nếu ngày xưa, các hãng phim còn đổ cho việc thiếu tiền, thiếu máy móc thì nay tiền đã có (tuy chưa nhiều nhưng vẫn còn nhiều hơn nền điện ảnh đang gây ảnh hưởng khắp thế giới là Iran), máy móc đắt tiền đã nhập về. Có lẽ điều mà các hãng phim nhà nước đang lúng túng không phải là việc sẽ làm phim như thế nào mà là lấy lí do gì để biện minh cho việc phim làm xong rồi chỉ để…xếp kho. Đã đến lúc điện ảnh nhà nước nhìn thẳng vào bản chất vấn đề chứ đừng nói mãi điệp khúc “hát không hay là do sân khấu”!

Vấn đề chính nằm ở đâu? Câu trả lời không hề khó. Vòng luẩn quẩn của hãng phim nhà nước nằm ở chỗ các bộ phim này làm ra chủ yếu để tuyên truyền chứ không nhắm vào mục đích nâng cao chất lượng nghệ thuật. Các bộ phim lớn đầu tư hoành tráng thời gian gần đây đều là phim về chiến tranh. Trở lại mục đích chính của các bộ phim này, hơn chục tỉ đồng để làm phim Giải phóng Sài Gòn sẽ là không uổng phí nếu giúp cho lớp trẻ nâng cao hiểu biết lịch sử dân tộc nhưng hình như mục đích này đã phá sản khi mà mỗi kì thi tốt nghiệp và đại học chúng ta thường xuyên đọc được những bài thi “cười ra nước mắt” bởi sự lẫn lộn kiến thức về chính chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Rút cuộc, giới trẻ vẫn thuộc lịch sử nước Tàu và Hàn Quốc hơn chính lịch sử VN. Và nếu làm một cuộc thăm dò có lẽ bộ phim tài liệu 4 tập Đại thắng mùa xuân sẽ được nhiều người muốn xem lại hơn so với bộ phim nhựa Giải phóng Sài Gòn.

Bức tranh điện ảnh VN có lẽ sẽ là màu đen kịt nếu chỉ là màn độc diễn của hãng phim nhà nước nhưng may mắn thay sự xuất hiện của các hãng phim tư nhân đã khiến những người đau đáu cho điện ảnh nước nhà bớt bi quan.

CON ĐƯỜNG DUY NHẤT

Liên tiếp những bộ phim tư nhân sản xuất như Gái nhảy 1 và 2, Đẻ mướn, Dòng máu anh hùng, Nụ hôn thần chết, Giải cứu thần chết, Đẹp từng centimet…kéo khán giả Việt đến xem phim Việt vào mỗi mùa phim hè hoặc Tết. Quang cảnh đó là điều không tưởng với những ai hay đi xem phim khoảng 10 năm về trước. Những phim tư nhân gàn đây người ngoại đạo đều hiểu đây là những bộ phim thuộc dòng phim giải trí. Mục đích của phim giải trí là kéo càng nhiều khán giả đến rạp nên họ luôn sử dụng những chiêu thức câu khách như diễn viên là người nổi tiếng như ca sĩ, người mẫu; truyện phim phải thực sự dễ hiểu và có đôi chút giật gân, những cảnh “nóng”, hài hước hoặc bạo lực. Chính điều này, khiến phim tư nhân gặp nhiều sự phê phán là phim rẻ tiền. Điều này không sai nhưng thử nhìn lại lịch sử các nền điện ảnh thế giới như Mỹ, Hong Kong, Bollywood đều bắt đầu từ những phim rẻ tiền thậm chí là cả phim cấp 3. Người Mỹ nổi tiêng với phim cao bồi, hành động nhưng nếu họ làm phim nghệ thuật như The hours thì cả thế giới đều phải ngả mũ. Tương tự, điện ảnh Hong Kong nổi tiếng với phim kiếm hiệp, xã hội đen nhưng với Days of being wild, In the mood for love, Rouge… thì đã đứng hàng đầu về phim nghệ thuật trên thế giới. Chính từ những bước khởi đầu làm phim giải trí mà họ tích lũy được vốn, quy trình làm phim, đội ngũ hành nghề để nâng tầm chuyên nghiệp và tiến tới sản xuất dòng phim nghệ thuật.

Với hoàn cảnh điện ảnh nước ta chia làm hai con đường thì phim tư nhân rõ ràng có nhiều triển vọng đưa điện ảnh VN phát triển. Nếu ai đó còn kì vọng ở phim nhà nước thì đó là niềm tin mù quáng. Nếu không thay đổi cung cách quản lí, điều hành, tổ chức, đào tạo và quan điểm làm phim tuyên truyền rút cuộc phim nhà nước sẽ chẳng thể nào đưa điện ảnh nước nhà đi lên vì vừa không thể kéo khán giải đến rạp vừa không thể mang phim đi thi thố quốc tế để gây tiếng vang. Nhiều người kì vọng đến một bộ phim na ná như Đời cát. Phim Đời cát đoạt giải thưởng tại liên hoan châu Á - Thái Bình Dương vì ban giám khảo đánh giá cao bộ phim chạm vào thân phận tình yêu cá nhân đi qua cuộc chiến chứ không phải là cảnh chiến trường hay tuyên truyền chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nếu làm phim chiến trường và với quan điểm ta thắng địch thua một chiều chúng ta không thể bì được với Giải cứu binh nhì Ryan.

Sẽ là thiếu sót nếu không kể đến thành tựu của những nhà làm phim độc lập như Trần Anh Hùng, Nguyễn Võ Nghiêm Minh. Xích lô và Mùa len trâu là hai bộ phim đáng xem nhất của điện ảnh VN từ năm 1990 trở lại đây. Nhưng điện ảnh VN không nên vơ vào hai phim này vì chúng có cách làm phim khác hẳn cái nền thấp kém, lạc hậu trong nước. Mặt khác, con đường của phim nghệ thuật này chông gai và khác hẳn cách đưa phim Việt truyền thống đến các LHP. Đầu tiên, họ phải kiếm đủ tiền để có thể thực hiện dự án phim. Tiếp theo đưa trình chiếu ở các LHP quốc tế để lọt vào mắt xanh một nhà phát hành phim nào đó hy vọng có thể nghĩ đến chuyện thu lời, nếu không tối thiểu cũng xin một Mạnh Thường Quân nào đó tài trợ cho phim sau.

Điện ảnh VN có thể hy vọng về những phim kiểu như Chơi vơi nhưng điều cần phải làm trước tiên là “nội địa hóa” điện ảnh. Xây dựng một nền điện ảnh cũng giống như xây nhà. Đầu tiên phải xây móng. Cái móng ở đây chính là phim giải trí để người Việt xem phim Việt, lấy phim giải trí để nuôi phim nghệ thuật. Và cuối cùng phim nghệ thuật sẽ hòa với phim thị trường để phim thị trường cũng sẽ tự nâng cao trình độ lên một bước tránh những phim quá say sưa cảnh giật gân và “nóng” ngây ngô. Đó là viễn cảnh tương lai nhưng sẽ không xa nếu nhìn vào một ví dụ từ điện ảnh Hong Kong. Phim Vô gian đạo lấy bối cảnh xã hội đen nhưng tâm trạng của kẻ tội phạm và cảnh sát khi lọt vào hàng ngũ đối phương khiến bộ phim này trở nên mang tính nghệ thuật khi diễn tả chiều kích tâm lí nhân vật sâu sắc. Đến nỗi, Hollywood cũng làm lại điệp vụ nội gián này bằng phim The departed.

Hàm Đan

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2009

PHIÊU CÙNG “NHẠC MỚI”



Vào cuối tháng 10 này, tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, diễn ra đêm nhạc I am me thuộc chương trình Hanoi new music meeting của 12 nghệ sĩ trong và ngoài nước. Buổi diễn đầu tiên diễn ra tại nhà hát Tuổi Trẻ (11 Ngô thì Nhậm - HN) nhận được lời tán thưởng nồng nhiệt. Những tác phẩm âm nhạc thể nghiệm lần này đã thực sự khiến người nghe thủ đô “mãn nhĩ” và giúp họ bước đầu biết thưởng thức những loại hình nghệ thuật đương đại đầy mới mẻ và độc đáo.

MỚI LẠ VÀ ĐỘC ĐÁO

Tác phẩm mở đầu là tiết mục Nhạc ồn (Noisy music) của Nguyễn Hồng Giang. Nghệ sĩ trẻ đến từ Sài Gòn này lựa chọn những âm thanh rè, gắt như âm thanh của tàu hỏa, máy bay - những tiêng ồn nơi đô thị. Ấn tượng hơn là sự trình diễn của chính nghệ sĩ khi vào cúi gằm mặt xuống bàn, những cánh tay cử dộng như robot liên tục động chạm với những đồ chơi bày biện trên bàn cộng tiếng gào thét của nghệ sĩ. Một tác phẩm khác hình thành từ những tiếng vào những tiếng ồn là A Em 15 của Vũ Nhật Tân và Nguyễn Mạnh Hùng. Tác phẩm của Nguyễn Hồng Giang không có tên còn tác phẩm của Vũ Nhật Tân là một ký hiệu; cả hai tác phẩm đều không có một diễn giải nào từ phía tác giả nên người nghe phải tự diễn giải tùy theo cách hiểu của mỗi người. Nhưng hầu như người nghe nào cũng nhận ra lớp nghĩ đầu tiên: đơn giản nó diễn tả nỗi bất an nội tâm của con người trong cuộc sống đô thị quá nhanh và gấp.

Ấn tượng nhất trong số nghệ sĩ Việt Nam là màn trình diễn của một người quen trong những chương trình âm nhạc thể nghiệm - nghệ sĩ Kim Ngọc. Tác phẩm Tố nữ của chị có tính liên kết các biểu tượng văn hóa rõ rệt. Với người Việt Nam, mấy ai lại không biết đến hình tượng bức tứ bình tố nữ. Trong bộ áo dài nâu truyền thống, Kim Ngọc lần lượt nhập vai vào từng khuôn hình được khoắt rỗng trong tấm bình phong. Lần lượt, bốn lần chị nhập vào tố nữ nhưng chị không trình diễn các nhạc cụ truyền thống. Chỉ dùng hơi thở khi khẽ, khi rõ rệt và cuối cùng dùng tiêng hét để biểu đạt tâm trạng của mình. Người xem đã thực sự ngạc nhiên khi chỉ bằng hơi thở, đạo cụ biểu diễn đã trở thành một tác phẩm âm nhạc thực sự đa nghĩa cho số hiểu khác nhau: người thì nghĩ ngay đến thân phận người phụ nữ bị bó buộc trong khuôn khổ mà xã hội hay áp đặt cho họ, người thì nghĩ ngay đến thân phận người nghệ sĩ… Cách hiểu không thống nhất lại là điều đáng mừng bởi một tác phẩm nghệ thuật không bao giờ dừng lại ở một ý nghĩa trên bề mặt đơn giản.

Về phía nhạc sĩ nước ngoài, Pippa Murphy đem đến tác phẩm Những dòng chảy trái đất. Tác phẩm này là ví dụ sinh động cho tính ứng tác rất rõ. Ngoài một bản thu âm tiếng động có sẵn Pippa Murphy hòa thêm âm cho bàn nhạc sẵn ngay lúc biểu diễn. Trong khi một bản nhạc êm đềm, dễ chịu như nghe như tiếng thu nước chảy từ biển Caspian thì đột nhiên xuất hiện những tiếng động lạ khiến người ta liên tưởng ở việc sự sống đang nảy sinh dưới đại dương, sức mạnh của những con sóng… Nhờ có tính ngẫu hứng này mà sự sinh động mang lại tính biểu cảm trong tác phẩm tăng lên.

Simon Rummel từ nước Đức đem đến người nghe một màn trình diễn độc đáo. Hiện lên trên màn hình là một danh sách 25 bản nhạc. Có hai chiếc điều khiển từ xa được khán giả chuyền tay nhau giúp chuyển bài. Ở trên sân khấu, Simon Rummel sẽ chơi piano để phục vụ. Vì thế mà tác phẩm được anh đặt tên là Hòa nhạc từ xa. Hẳn nhiên anh không chơi đàn thật mà chỉ đánh đàn “nhép”, những động tác ngẫu hứng, hài hước khi trình diễn trên chiếc piano nghiêm ngắn khiến cho tinh thần giễu nhại của nhạc mới có sức thuyết phục hơn.

ĐÔNG TÂY KẾT HỢP

Ba tác phẩm còn lại trong chương trình là sự kết hợp hay nói đúng hơn là một cố gắng dung hào âm nhạc cổ truyền Việt nam với âm nhạc hiện địa phương Tây. Nghệ sĩ đàn tranh Nguyễn Thanh Thuỷ hoà tấu cùng nữ nghệ sĩ saxophone Lotte Anker người Đan Mạch tác phẩm Những phong cảnh thoáng qua. Sự hoà tấu còn tiếp tục trong tác phẩm Trong khi thành phố ngủ của Staffan Storm dưới sự thể hiện qua tiếng đàn bầu của Ngô Trà My và đàn tì bà của Stefan Ostersjo (người Thụy Điển). Đầu tiên là sự gay gắt được có nghệ sĩ cố tình tạo ra. Âm thanh mềm mại đi sâu vào lòng người của đàn tranh dừng lại là lúc tiếng Saxphone ngẫu hứng không theo tiết tấu vang lên nhưng cuối cùng nó lại có thể hòa vào nhau tạo ra một bản nhạc mang âm vị “liêu trai”.

Sụ kết hợp các nhạc cụ không còn mới, điều quan trọng là đằng sau những âm thanh từ hai nền văn hóa khác nhau nó cần phải tạo ra những chủ đề ban đầu đi theo hai hướng khác nhau nhưng lại có thể xoắn quyện vào nhau tạo ra một sự biểu đạt nhuần nhuyễn. Yêu cầu từ lâu của số ít khán giả khó tính trên rất đáng lưu tâm. Thật trùng hợp, trong chương trình âm nhạc thử nghiêm này đã làm thảo mãn phần nào đòi hỏi trên, đó là tác phẩm: Một gương mặt số 4 của Sơn X. Nghệ sĩ Sơn X cũng là cái tên đi tiên phong trong âm nhạc mới Việt Nam khi làm nhạc cho chương trình múa của nghệ sĩ múa Thủy Ea Sola.

Mở đầu tác phẩm là một cô gái ăn mặc tân thời nhưng lại ca… cải lương về mối tình Lan và Điệp, kết thúc lời ca là tiếng nôt lớn như tiếng sét. Sau đó là mấy phút triền miên nhạc nổi lên. Bản nhạc tuy không ồn như của Vũ Nhật Tân nhưng không mấy “nên thơ” để người ta có thể liên tưởng đến chuyện tình Lan và Điệp. Song song với nhạc và màn hình video hiện lên những nét vẽ thủy mặc không rõ hình hài để có thể gắn với khung cảnh bến nước con đò, ngôi chùa, làng quê quen thuộc của vở cải lương nổi tiếng. Có một lần, trong bvaif giây đồng hồ, những nét vẽ tạo nên một hình vuông như một khung cửa , bên trong khung vuông mà ánh sáng chập chờn léo lên rồi tắt như là tia chớp. Khi tác phẩm đi đến hồi cuối, những đường vẽ nghệch ngoặc kia mới hiện lên. Hóa ra, đó là là cách nhìn gián tiếp của một tòa nhà cao tầng, cái khung vuông kia thực chất là một khung cửa sổ của một tòa nhà chung cư. Nhìn vào trong không thấy bóng người nào nhưng lại có tiếng “Nam mô a di đà Phật” vang lên, chậm dần rồi tắt hẳn. Khi tác phẩm này kết thúc, những ràng vỗ tay không ngớt vang lên vì một điều đơn giản là Một gương mặt số 4 đem đến cho người ta một cảm thức thực sự mới về nghệ thuật thời hậu hiện đại.

Hàm Đan

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2009

VĂN HÓA ĐÔ THỊ: BỨC TRANH NHIỀU MÀU SÁNG


Đô thị Việt Nam đang mảnh đất màu mỡ để văn hóa đại chúng (pop culture) phát triển. Bức tranh văn hóa mới chưa thật rõ hình hài nhưng những gam màu sáng đang chiếm ưu thế.

Cách đây vài năm, vào mỗi dịp hè, việc một thiếu nữ mặc áo hai dây và quần soóc đi dạo trên đường bị “săm soi” bằng ánh mắt… e ngại hoặc ngạc nhiên là phổ biến; nay, nếu vào dịp hè mà vẫn ăn mặc “kín cổng cao tường” để đi chơi thì mới là điều lạ. Nhưng điều lạ đằng sau sự việc này là những người ăn vận lẫn những người quan sát đều thay đổi ý kiến chỉ sau một thời gian ngắn.

THAY ĐỔI BẢNG GIÁ TRỊ

Không chỉ có mỗi chuyện ăn mặc mà nếu nhìn rộng ra các hiện tượng khác của văn hóa thì chưa bao giờ văn hóa lại biến đổi nhanh đến vậy. Người ta thường nói một thế hệ cách nhau 20 năm nhưng hình như ngay trong bản thân thế hệ 8X cũng đã có sự khác biệt quá nhiều. Một người sinh đầu những năm 1980 rõ ràng là “lạc hậu” hơn nhiều so với đứa em sinh cuối thập niên. Người ta có cảm giác rằng đó là là hai thế hệ hoàn toàn khác nhau.

Sự biến đổi lạ lùng ấy là hệ quả tất yếu của việc mở cửa thị trường và tốc độ phát triển kinh tế nhanh của nước ta. Ngày hôm nay, người Việt Nam đã biết thưởng thức những sản phẩm văn hóa cùng lúc với thế giới như blog, fast food, truyền hình vệ tinh, giải trí… Có được những sản phẩm văn hóa ấy là nhờ công nghệ thông tin, mạng lưới bán lẻ mà có cơ hội xuất hiện. Việc tiếp nhận thông tin và văn hóa của thế giới thì sẽ dẫn đến việc giới trẻ sẽ suy nghĩ ở tâm thế mới khác hẳn với thế hệ trưởng thành ở thời chiến tranh, bao cấp – thời kỳ đóng cửa với thế giới. Những việc như: sống thử trước hôn nhân, sống độc thân, nhận con nuôi, thích đi làm trong ngành giải trí hơn là học đại học… được lớp trẻ xem là bình thường thì rõ ràng là một sự thay đổi lớn so với quan niệm khuôn thước của các bậc phụ huynh. Tóm lại, bảng giá trị về văn hóa cơ bản đã thay đổi.

Một số người lớn tuổi không tán đồng với hiện trạng văn hóa hiện nay. Phản ứng bức xúc trước những hiện tượng văn hóa mới mẻ ùa đến sau một thời gian đóng của là điều có thể hiểu được. Tâm lý người Việt là thường dị ứng với cái mới; thêm vào đó, mặc cảm hậu thuộc địa khiến người Việt ghét những sản phẩm văn hóa của các nước thực dân. Bây giờ, người ta ghét nhảy Hiphop như 70 mươi năm trước ghét khiêu vũ cổ điển. Về ăn mặc, trước năm 1945, các nhà Nho đã phản đối kịch liệt chiếc áo dài Le Mur (tiếng Pháp có nghĩa là Cát Tường – tên người họa sĩ người Việt cách tân áo dài); và gọi những chiếc áo dài mà bây giờ chúng ta xem là quốc phục của phái đẹp là quần áo “đĩ thõa” của bọn “gái tân thời”. Một ví dụ khác, những năm 1960, ở miền Bắc, những cán bộ ngành văn hóa phê phán lối sống các nước Âu Mỹ là nhàm chán và thiển cận khi nhìn đời qua cái hộp sắt (tức là ti vi), di chuyển trong cái thùng nhôm (tức là ô tô) thì giờ đây “cái hộp sắt” ấy là vật không thể thiếu của mỗi gia đình, còn “cái thùng nhôm” lại là ước mơ của nhiều người Việt.

Việc ai đó thích hay không thích hiện trạng văn hóa hôm nay không còn quan trọng vì văn hóa ở đô thị sẽ tiếp tục phát triển theo hướng đại chúng hóa và toàn cầu hóa như là quy luật tất yếu của lịch sử nếu như nước ta hội nhập với thế giới. Ngược lại, nếu đóng cửa biên giới, kinh tế và bưng bít thông tin thì biểu tượng tiên tiến của văn hóa và là người bạn của chúng ta sẽ là đài radio.

"LỨA QUẢ ĐIẾC"

Thế hệ 8X là thế hệ thuộc về văn hóa mới. Họ lớn lên khi tiếng súng đã yên và công cuộc đổi mới bắt đầu thu được những kết quả tốt. Chính thế hệ này vừa tiếp nhận và nuôi dưỡng văn hóa đại chúng ngay tại Việt Nam. Nền văn hóa đại chúng là vận hội không thể tốt hơn cho sự “thay máu” về văn hóa để tiến tới trở thành những công dân toàn cầu của giới trẻ Việt Nam. Từ đó, mới đưa nước ta hội nhập và cống hiến trở lại với văn hóa thế giới. Đó là trên lý thuyết nhưng thực tế thì y như câu nói cửa miệng của người Sài Gòn: “nói dzậy mà không phải dzậy”!

Bản thân việc tiếp thu văn hóa mang tính mô phỏng chứ chưa có sáng tạo nổi bật. Nhìn ở các bức hình graffiti ở Việt Nam vừa không có gì mới so với nước ngoài đã thế mô phỏng lại còn xấu hơn. Các hoạt động giải trí vừa thiếu chuyên nghiệp vừa kém tính giải trí. Sự tiếp thu văn hóa mới hết sức lỗ mỗ, thiếu hệ thống mang tính hình thức bên ngoài mà chưa thật sự sống, suy nghĩ và hòa nhập với văn hóa mới. Vì thế ở Việt Nam mới có cảnh đi ăn fast food mất 2 giờ vì mải buôn chuyện, nhân dịp lễ Noel thì tổ chức ăn nhậu… Nhiều người lớn tiếng phê phán mặt trái của văn hóa đại chúng. Nhưng sự thực lỗi không thuộc về bản thân văn hóa đại chúng mà lỗi thuộc về những người tiếp nhận. Không khó để liệt kê các nguyên nhân: tâm lý tiểu nông, cơ chế, giáo dục… Ví dụ, nếu được giáo dục ý thức về sinh hoạt công cộng tốt như ở các nước phương Tây thì không bao giờ những nam thanh nữ tú của thủ đô lại ngang nhiên vặt trụi hoa anh đào đem từ nước Nhật xa xôi.

Xét cho cùng, trong tâm lý thế hệ 8X vẫn đang bị giằng xé giữa hai hình thái văn hóa mới và cũ khiến cho sự hình thành một mẫu người văn hóa trong con người họ trở nên bất bình thường như lứa “quả điếc” không bao giờ chín.

TẠO LẬP MỘT "BỘ LỌC" MỚI

Việc thu nhận văn hóa của các nước khác trên thế giới chỉ làm giàu cho văn hóa Việt Nam. Nhưng nhiều người e ngại sẽ làm văn hóa truyền thống dân tộc bị mai một, thế hệ trẻ sẽ thành những người “mất gốc”. Điều này sẽ dẫn tới hai trạng thái tâm lý đầy mâu thuẫn: vừa muốn bảo tồn vừa muốn cách tân vì chủ nghĩa dân tộc đòi hỏi sự thuần khiết và tính truyền thống trong văn hoá, trong khi chủ nghĩa hiện đại lại đòi hỏi sự cách tân triệt để và chống lại truyền thống.

Sự thực là đã có nhiều nước trên thế giới làm được cả hai việc này một cách thành công. Lấy ví dụ là Hàn Quốc – một nước khá gần gũi với chúng ta. Họ làm khá tốt việc gìn giữ các giá trị văn hóa vật chất lẫn tinh thần văn hóa truyền thống biến nó trở thành sản phẩm của ngành du lịch và phương thức PR của đất nước. Bằng chứng là mấy cô gái Việt Nam một dạo tết tóc truyền thống hàn Quốc theo nàng Dae Chang Kum, cũng mặc thử bộ Hanbok… Hàn Quốc cũng như các nước Á Đông khác khi bước vào toàn cầu hóa phải đối mặt văn hóa đại chúng từ phương Tây. Nhưng thái độ của họ phải khiến chúng ta suy ngẫm. Họ tuyên bố: “Người Hàn Quốc không cần sợ bị mất bản sắc văn hoá của mình. Tốt hơn, họ nên sợ mất cơ hội thưởng thức các văn hoá khác”. Họ đã biết vận dụng phương tiện truyền thông, kỹ năng tổ chức giải trí của văn hóa đại chúng để tạo ra “làn sóng Hàn Quốc” thống trị châu Á trên lĩnh vực ca nhạc và điện ảnh. Nhờ phim ảnh, ca nhạc những giá trị văn hóa truyền thống Hàn Quốc mới được biết đến sâu rộng như vậy. Rõ ràng, truyền thống văn hóa không mất đi mà còn có cơ hội đi ra khỏi biên giới đất nước.

Khi mà nỗi lo lớn nhất là sự xung đột truyền thống và hiện đại trong văn hóa được gỡ bỏ thì việc cần làm là tạo dựng một “bộ lọc”. “Bộ lọc” đó sẽ tạo nên ý thức hòa nhập chứ không chịu hòa tan của trao đổi, học hỏi và tiếp thu văn hóa phải trong tinh thần bình đẳng bởi toàn cầu hoá lại bao hàm ý nghĩa giới thiệu đến nhau và tiếp thu từ nhau những đặc trưng văn hoá dị biệt, một cách tự giác và bình đẳng. Mài sắc bản lĩnh cá nhân tạo ra cá tính riêng biệt để cống hiến, sáng tạo trong lĩnh vực tham gia chứ không phải dựa vào chủ nghĩa cá nhân để ngụy biện cho những hành động vô chính phủ như đua xe, đánh nhau, sử dụng ma túy…

Không những tốt cho văn hóa mà nếu xét về kinh tế, một người trẻ có ý thức cá nhân cao, biết rõ giá trị của mình để phấn đấu làm việc khẳng định bản thân đã đồng thời gián tiếp tạo ra vật chất cho xã hội tránh dựa dẫm vào nguồn sữa tài chính được bao cấp từ gia đình. Ngày hôm nay, chúng ta thấy nhiều người trẻ vừa đi học vừa đi làm stylish, make up, chụp ảnh, viết báo tự do, dịch sách… có thể tự nuôi sống bản thân và đi kèm là một cuộc sống năng động, hiện đại. Đó là những chủ nhân tích cực của văn hóa đô thị mà chúng ta còn cần số lượng nhiều hơn nữa.


Hàm Đan

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2009

TÍNH DỤC TRONG NGƯỜI TÌNH CỦA DURAS: MỘT DIỄN NGÔN VỀ SỰ NGĂN CÁCH CỦA CHỦNG TỘC VÀ GIAI CẤP




Nhắc đến Marguerite Duras (1914 - 1996) là nhắc đến một tượng đài đứng độc lập trong nền văn chương Pháp hiện đại. Vị trí của bà đối với Việt Nam cũng hết sức đặc biệt. M. Duras là nhà văn Pháp hiện đại được dịch nhiều nhất ở Việt Nam, thậm chí có hai cuốn sách nghiên cứu về bà cũng được dịch. Thêm vào đó, bà sinh ra ở Sài Gòn và sống ở đây cho đến năm mười tám tuổi. Nam Bộ luôn là khung cảnh trở đi trở lại trong những cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của bà. Nhưng có điều đáng tiếc là bà không được nhiều người đọc Việt Nam chú ý.

Lấy cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất là Người tình (L’Amant) làm ví dụ. Cuốn sách là một best-seller quốc tế đã đoạt giải Goncourt 1984 và có một bộ phim được chuyển thể cùng tên của đạo diễn Claude Berri do nam tài tử Hong Kong Lương Gia Huy (Tony Leung Ka Fai) thủ vai. Chừng ấy, vẫn chưa đủ hấp dẫn với người đọc Việt Nam. Bằng chứng là Người tình luôn nằm ngoài các bảng danh sách sách bán chạy nhất ở thời điểm nó được phát hành rộng rãi ở Việt Nam (năm 2007).

Trừ những siêu độc giả ra, tất cả đều xem đây là một cuốn sách không có nhiều điều đặc biệt. Điểm đáng chú ý nhất trong câu chuyện là những lần quan hệ của một cô bé người Pháp mười lăm tuổi với một người đàn ông Trung Quốc gấp đôi số tuổi của cô. Những chi tiết của những quan hệ tình dục không trọn vẹn bị loãng bởi những câu chuyện khác về gia đình, trường học của người Pháp. Thêm vào đó, một câu chuyện chỉ nên thu gọn trong một khuôn khổ của truyện ngắn lại tãi ra thành một cuốn tiểu thuyết với những câu văn mang tính bình luận, diễn đật cảm xúc trùng lặp và …sến.



Gạt bỏ đi những chi tiết tiểu sử học xung quang cuộc đời M. Duras và cuốn tiểu thuyết Người tình mà chỉ chú trọng đến văn bản tiểu thuyết dễ tưởng rằng những lời nhận xét trên kia là đúng. Thử xét về vấn đề tính dục trong cuốn tiểu thuyết này thì rõ ràng, Người tình dường như đã được PR quá mức so giá trị thực của nó. Nhưng có một “mưu kế” nằm dưới câu chuyện sex giật gân bởi dù mang tính tự truyện cao nhưng Người tình lại nằm trong mạch văn bắt đầu từ Moderato Cantabile (1958), ở mỗi tác phẩm M. Duras luôn tìm cách “đánh lừa” độc giả khi cho câu chuyện đi tới cao trào rồi kết thúc mà không có điểm cởi nút cho kịch tính của câu chuyện.

Tính dục trong Người tình nằm ở mối quan hệ xác thịt của cô bé da trắng và người đàn ông Trung Hoa nhưng tính dục còn được chuyển di sang những đối tượng nằm trong taboo theo quan niệm không chỉ phương Đông mà cả phương Tây. Cô bé da trắng độc thoại: “Tôi bủn rủn người vì thèm muốn Hélène Lagonelle. Tôi bủn rủn người vì thèm muốn”. Đi cùng với điều này là một ý định “kì quái”: “Tôi muốn trao Hélène Lagonelle cho người đàn ông đã làm điều đó với tôi để đến lượt anh làm điều đó với cô ấy. Làm trước mặt tôi, sao cho cô ấy làm điều đó theo ước muốn của tôi, sao cho cô ấy dâng hiến. vậy là vòng qua thân thể Hélène Lagonelle, xuyên qua thân thể của cô ấy mà khoái lạc sẽ có thể truyền từ anh đến tôi, lúc ấy sẽ là niềm khoái lạc tột cùng. Có thể chết đi được vì điều đó”. Thậm chí, nhân vật trong truyện còn tự huyễn tưởng rằng mình là con gái và người đàn ông Trung Hoa kia là cha. Và suy mối quan hệ tình dục trên là loạn luân.

Sẽ là mất công nếu đi chuẩn đoán bệnh lí tâm thần cho một nhân vật giả hư cấu nhưng điều rõ ràng là bản năng chết (thanatos) hiện hữu trong cô gái người Pháp là điều rõ ràng. Xét từ môi trường gia đình: một bà mẹ gàn dở vì đã cảnh nghèo, một người anh cả nghiện thuốc phiện hung bạo, người anh thú yếu ớt; trường học của cô cũng không khá hơn đó là một trường nữ sinh khép kín, chỉ có cô và Hélène Lagonelle là học sinh da trắng ở nội trú với nỗi lo học xong sẽ đi làm y tá ở bệnh viện dành cho người hủi… Điều đặc hơn, chính là những chi tiết về hoàn cảnh sống của cô, một cô gái da trắng ở mộ xứ thuộc địa nhưng lại đi về nhà trên chiếc xe hàng với người bản xứ da vàng. Tất cả những điều này dẫn cô đến một quyết định là quan hệ tình dục với người đàn ông Trung Hoa xa lạ. Không chỉ đơn thuần là việc ham muốn nhục dục mà là đi tới chỗ tự hủy diệt thể xác, tâm hồn. Động lực cho điều này là một huyễn tưởng lai chủng tộc. Một nỗ lực cố gắng tác ra khỏi chủng tộc da trắng ốm yếu, nhàm chán để cố hòa nhập một cách tuyệt vọng vào phần da vàng thấp kém trong quan niệm thực dân.

M. Duras tả rất kĩ sự hoảng loạn, sự đau khổ, nỗi lo lắng của người đàn ông Trung Hoa với mặc cảm tình dục nhược tiểu, gánh nặng đạo đức và pháp luật ở trên vai trong mỗi cuộc làm tình. Anh ta thật thảm hại trong mắt một cô bé da trắng khi vừa quan hệ vừa run rẩy và khóc lóc. Ngoài vấn đề diễn ngôn về chủng tộc thì Người tình còn nhằm chứa một diễn ngôn về giai cấp đó hoàn cảnh của một co bé gia trắng cao quý về chủng tộc nhưng nghèo và một anh chàng Trung Hoa thấp kém chủng tộc nhưng giàu có. Không phải ngẫu nhiên mà M. Duras lại ra kĩ bộ trang phục, những đồ dùng cá nhân của hai người, điều này cho thấy mối ngăn cách về giai cấp quá rõ ràng. Bản thân cô gái cũng tự đánh đồng mình khi đối mặt về vấn đề giai cấp khi tự gọi mình là “con điếm nhãi ranh”. Chàng trai Trung Hoa luôn dùng tiền để che lấp mặc cảm về màu da nhất là khi đi ăn cùng với gia đình cô gái. Và cố dùng tiền để tìm kiếm một mối quan hệ lâu dài. Cô gái có thể thua kém về tiền bạc nhưng về lại là người làm chủ những cuộc truy hoan bởi cô tìm đến sự giao hoan thể xác không nhằm một mục đích có lợi cho mình, đồng nghĩa với sự tính toán mà là để kết thúc những bế tắc trong cuộc sống. Và sự kết thúc đến khi cô trở về Pháp: “Mười tám tuổi mà mọi thứ đã là quá muộn”

Nhưng ngay từ đầu, mối quan hệ này là phi vật chất nó chỉ là cuộc tự hủy diệt của cô gái để đào sâu vào những hoảng tưởng về chủng tộc mà cô tự vẽ ra. Người đàn ông Trung Hoa cũng không khá hơn, số phận anh ta gần giống những nhân vật nam người Hoa giàu có trong các cuốn tiểu thuyết thời hiện đại. Họ tiếp xúc với tự do nhưng không được sống tự do vì người Trung Hoa truyền thống gia tộc rất mạnh, quá giàu để thôi có khát vọng làm giàu trong máu người Hoa, điều quan trọng là tìm một ý nghĩa để sống nhưng tất cả đều bế tắc. Sự bế tắc hiện diện trong khung cảnh, ánh sáng, mù của căn nhà ở Chợ Lớn. Anh rơi vào một vòng xoáy không có lối thoát: sự quyến rũ nhục dục từ cô bé da trắng; mong ước về một sự dài lâu, bền chặt trong tình cảm nhưng đó chỉ là ảo tưởng; không phải vì bố anh ngăn cấm, không phải từ gia đình cô bé mà chính ở bản chất mối quan hệ này sẽ không dẫn đến hôn nhân mà là một sự khám phá bản thân của cô bé. Cô sẽ ra đi và điều này anh không thể níu giữ được. Kết thúc tất yếu của cuốn tiểu thuyết là sự chia tay của đôi tình nhân kì lạ để lại đằng sau những mối liên hệ bị ngăn cách còn dang dở. Một cái kết tưởng chừng như rất… sến khi người đàn ông Trung Hoa nói với cô gái sau bao nhiêu năm xa cách: “Anh nói rằng mọi việc ẫn như trước, rằng anh vẫn yêu cô, rằng anh không bao giờ có thể ngừng yêu cô được, rằng anh sẽ yêu cô cho đến chết”. Chính những điều còn dang dở từ sự khám phá những điều thầm kín, những điều chưa nói được về diễn ngôn bỏ dở của cuốn tiểu thuyết Người tình khiến cho đoạn kết này lại một lần nữa và cũng là lần chót “đánh lừa” người đọc.

Vì những diễn ngôn đằng sau đề tài tính dục nên chẳng ai phản đối khi người ta xếp M. Duras là một nhà văn của chủ nghĩa hậu thực dân hay nữ quyền luận. Ngay từ khi còn sống, bà đã không ưa những sự dán nhãn bà chỉ thích được gọi nhà văn viết về tình yêu vì bà cho rằng tình yêu điều đó là điều tuyệt vời nhất.

Hàm Đan

Tài liệu tham khảo:



1. Catherine Bouthors-Paillart: Duras: Người đàn bà lai, NXB Văn học 2008

2. Lydia Alix Fillingham & Moshe Susser: Nhập môn Foucault, NXB Trẻ 2006

3. Julie Rivkin & Michael Ryan: Literary theory: an anthology, Blackwell Publishers Inc, 1998

4. Đặng Thị Hạnh (chủ biên): Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XX, NXB ĐH QG HN 2005

5. Marguerite Duras: Người tình (Lê Ngọc Mai dịch), NXB Hội nhà văn, 2007

6. Marguerite Duras: Đập ngăn Thái Bình Dương (Lê Hồng Sâm dịch), NXB Văn học, 1997

7. Lê Hồng Sâm: Tình yêu và cái chết trong tiểu thuyết Duras, dẫn theo cuốn Chân trời có người bay của Đỗ Lai Thúy, NXB VHTT 2006

8. Liễu Trương: Tiếp cận văn học Pháp, NXB Văn học 2007


Thứ Hai, 28 tháng 9, 2009

NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG LẬP: BLOG CỦA TÔI LÀ CHIẾU RƯỢU VUI!




(POST lại bài cũ!!!)
Nguyễn Quang Lập nổi tiếng từ tiểu thuyết “Những mảnh đời đen trắng” đến các kịch bản phim như “Đời cát”, “Thung lũng hoang vắng… Mấy tháng nay, thế giới Blog sôi lên vì sự tham gia “nóng bỏng” của cây viết 5X này.

Nhà văn “tập tễnh” từ năm 1999 do một tai nạn giao thông. Chẳng bị tai nạn thì những “cơn vật” do chữ và … rượu cũng khiến anh yếu và mệt hơn trước rất nhiều. Khai trương blog bởi một học trò, rồi bỏ bẵng một thời gian, không ngờ, mấy tháng nay, thế giới blog nóng bỏng lên vì những entry hot mà anh nghiền ngẫm cho ra đời hàng đêm. Các blogger chăm lang thang trên mạng, từ hoa hậu, giáo sư tiến sĩ cho đến… học sinh cấp 2 thi nhau đọc và comment đối thoại với anh. Ngay cả bạn văn, bạn … báo, nhiều người không comment nhưng tuyên bố cứ sáng ra là phải mở blog ông Lập, đọc tâm sự mới, và rồi càng ngẫm càng cười rinh rích trước cái sự đời trong suốt cả ngày làm việc.

Phóng viên: – Chào nhà văn Nguyễn Quang Lập! Hơn ba tháng trở thành blog hot, lượng page view hiện nay của anh là bao nhiêu và tình trạng “phát triển” của Nguyễn Quang Lập’s blog đang như thế nào ạ?

Nhà văn Nguyễn Quang Lập: - Cho đến nay, mới chỉ có 160.000 lượt page view thôi, mọi người cứ đồn bảo triệu này triệu nọ chứ chẳng có đâu. Nhìn số lượng tăng hàng ngày từ 5-10 ngàn, tôi cũng vui, nhưng nói thật không lấy đó làm tự hào, vì blog không hề là niềm đam mê chính yếu của tôi.

- Trên blog của anh có đề “cái này (tức blog) do con ông Lập + trò ông Lập làm hộ” nghĩa là anh rất mù mờ về “computer” nhưng tại sao anh vẫn dùng blog làm phương tiện để ghi lại ký ức của mình mà không ghi nhật ký như cách các nhà văn vẫn thường làm?

- Thoạt kì thuỷ con gái tôi lập blog, sau học trò tôi sửa lại cho tôi dễ làm việc. Chúng nó ép viết thì viết thôi. Lúc đầu chẳng thấy hứng thú gì, bận việc quá bỏ bê luôn cả năm. Sau vào Sài Gòn, đi đâu cũng thấy anh em tán chuyện blog của nhau, mới nghĩ: a, té ra blog cũng có ngườì quan tâm, mới quyết định làm blog theo cách của mình. Mình ngồi ở nhà suốt ngày lắm khi rất cô độc, mới nghĩ ra trò kể chuyện vặt cho mọi người tới trò chuyện cho vui. Phàm là chuyện thì đều lấy ra từ kí ức. Tôi nghĩ blog cũng là dạng nhật kí, chỉ khác nó là thứ nhật kí có tương tác, có giao lưu. Cái này thú hơn nhật kí như ta vẫn làm, chỉ sướng lấy một mình, không có ai quan tâm.

- Khi mới viết blog anh có bao giờ nghĩ rằng tên anh sẽ là một trong những blog “hot” nhất Việt Nam như rất nhiều comment viết rằng họ đã bị “mắc nghiện” các entry của Nguyễn Quang Lập?

- Không hề. Tôi nghĩ chắc chỉ có học trò, bạn bè tôi đọc thôi, thế là sướng rồi. Không ngờ số lượng người comment cho tôi đủ cả già trẻ gái trai, đủ các ngành nghề, chứ không phải chỉ riêng lớp trẻ như anh bạn Phạm Xuân Nguyên của tôi nói trên báo Thể thao văn hoá đâu.

“Hot” nhất “hot” nhì đối với tôi không quan trọng, vì tôi thực sự không chú tâm lắm vào việc xây dựng một blog có thương hiệu, tôi còn nhiều việc phải làm. Chỉ thấy số lượng yêu mến mình ngày càng tăng lên thì mừng, vậy thôi.

- Anh có thể tự cắt nghĩa vì sao anh toàn viết về những chuyện thời chiến tranh, bao cấp và bạn bè 4X, 5X của anh mà vẫn được các bạn trẻ 8X, 9X ham đọc đến vậy?

- Tôi nghĩ con người thời nào thì nghĩ và sống như nhau cả thôi. Nếu mình nghĩ thật, nói thật thì mọi người đều hưởng ứng, bất kể 8x, 9x hay… 1x, 2x. Nếu mình nói phét thì trước sau người ta cũng chối bỏ. Nếu có lầm thì chỉ lầm một lần, ai người ta lầm mãi được. Tôi nhớ mãi anh Xuân Diệu dặn tôi ở Đà Nẵng 1983: “Sự chân chất em ạ, chính nó làm cho nghệ thuật trường tồn”. Với blog này tôi làm y sì lời dặn của anh Xuân Diệu.

- Sau vụ “rắc rối” entry “bạn văn 3” với nhà văn Xuân Đức anh có cảm thấy “sợ” khi viết đến những “người từng gặp” không?

- Mọi người không hiểu, cứ nghĩ tôi nói xấu anh Xuân Đức, họ nói thế nào mà chính anh Xuân Đức cũng nghĩ vậy. Tôi không hề có ý định bôi nhọ ai, tôi chỉ vẽ chân dung biếm hoạ. Có lẽ vì không nói trước ý định của tôi trong các bạn văn mà gây hiểu nhầm đối với rất nhiều người, không chỉ riêng anh Xuân Đức. Ngay cả anh bạn thân Phạm Xuân Nguyên tôi cũng nghĩ là tôi viết chân dung thuần tuý. Không, tôi vẽ chân dung biếm hoạ, chính xác là như thế. Mà đã biếm hoạ thì bao giờ người ta cũng tô đậm, thậm chí thổi phồng các nét buồn cười. Nếu hiểu như vậy thì chắc chắn sẽ không có vụ Xuân Đức làm ỏm tỏi lên đâu. Tôi hiểu anh Xuân Đức mà, chính anh ấy cũng rất thích biếm họa. Chúng tôi chơi thân nhau từ 1980, đến nay không hề có vụ việc gì làm sứt mẻ tình cảm cả. Hơn nữa, ở một khía cạnh nào đó, anh ấy là thầy sân khấu đối với tôi. Khi nào tôi sẽ làm 1 entry về việc anh Xuân Đức đã định hướng cho tôi vào sân khấu như thế nào, tất nhiên cũng biếm họa, hi hi (cười).

- Viết xong một bài về ai đó anh có cho người đó đọc trước rồi post lên blog không? Các “khổ chủ” phản ứng ra sao khi đọc chuyện về họ trên blog của anh?

- Không. Tôi đâu viết chân dung đăng báo để phải hỏi ý kiến trước, tôi chỉ viết nhật kí dạng blog thôi, vì thế tôi nghĩ thế nào thì viết thế ấy chứ không biên tập. Gửi trước nhất định có đề nghị biên tập, mất sướng. Trừ vụ Xuân Đức, còn hầu hết anh em không ai nói gì, có người sướng, có người không thích lắm nhưng cũng ráng cười, hì hì.

- Tất cả người đọc blog của anh đều thắc mắc không biết đằng sau mỗi câu chuyện có bao nhiêu phần trăm là thật bao nhiêu phần trăm là bịa? Nếu có chút bịa trong ấy liệu các hồi ức của anh có còn giá trị về mặt làm tài liệu để đánh giá chuyện và người trong quá khứ?

- Nó đã là kí ức thì nhất định không bịa rồi. Còn khi viết thì phải sắp xếp, gọt tỉa, thêm thắt chứ. Nếu tôi bê “trần truồng” các nguyên mẫu lên mọi người có thích không? Đảm bảo 100% là không. Tôi viết thế, ai tin thì tin, không tin thì thôi. Đến bây giờ tôi chán nghe những câu hỏi thật hay bịa lắm rồi, nó làm tôi mất hứng

- Khi làm blog chắc có nhiều chuyện khiến anh vui nhưng hẳn cũng không ít điều làm anh khó chịu? Anh có thể kể ra một vài điều vui buồn quanh chuyện blog?

- Chủ yếu là vui thôi, vì blog của tôi là chiếu rượu vui mà. Nhưng thỉnh thoảng có những comment dạy dỗ, suy diễn, ra vẻ ta đây hiểu biết lắm, làm tôi cáu. Nhưng tôi chỉ cáu chút rồi thôi.

Nhân đây tôi xin nói lại là tôi viết blog chỉ để vui, ngoài vui ra không hề có mục đích nào khác. Có nơi phỏng vấn, hỏi có phải tôi định làm như Người Trung Quốc xấu xí (cuốn sách của nhà văn Bách Dương phê phán thói hư tật xấu của người Trung Quốc – PV)? Tôi nói không, hoàn toàn không, tôi không có thời giờ và trình độ để làm việc đó, mặc dù tôi cũng thích đọc Người Trung Quốc xấu xí.

Tôi sợ nhất những comment đổ hồ chính trị cho tôi. Tôi bây giờ đã chán mọi nhẽ ở đời, chỉ mỗi ước mong là có sức khoẻ để tiếp tục sống, tiếp tục làm việc, nuôi các cháu nên người, ngoài ra không cần gì cả.

- Đặc điểm dễ nhận thấy nhất trong các entry của anh là rất hay dùng ngôn từ… “vỉa hè”. Điều này là từ con người anh hay là một cách để PR cho blog? Anh đã từng bị bạn đọc blog ghét vì điều này chưa?

- Đã nói tôi là nghĩ sao viết vậy, không biên tập mà. Tôi nghĩ phàm đã ngôn ngữ thì vỉa hè hay salon đều có giá trị của nó, vấn đề là mình có đặt đúng chỗ hay không thôi.

- Sau một các seri “bạn văn”, “người từng gặp”, “chuyện ma”, “say”… sắp tới anh định tung các seri nào khác? Nếu không có gì bí mật xin anh có thể tiết lộ?

- Sắp tới tôi vẫn sẽ viết, chợt nhớ cái gì thì viết cái đó thôi, không hề có mục đích trước, hay bí mật gì gì hết.


- Xin cảm ơn nhà văn Nguyễn Quang Lập!

Hàm Đan (thực hiện)