Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2012

THỜI ĐÀM (XXII): TIN Ở HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH!


Mùa phim hè 2012 ở Việt Nam xảy ra vụ việc hiếm gặp đó là khi bộ phim “Bẫy cấp 3” của đạo diễn Lê Văn Kiệt bị cấm trình chiếu dưới mọi hình thức. Quyết định do Cục Điện ảnh ban hành sau khi Hội đồng duyệt phim Quốc gia không thông qua bộ phim này. Quyết định nói trên lại không hề gây tranh cãi khi đại diện MegaStar-đơn vị phát hành bộ phim “Bẫy cấp 3” tôn trọng ý kiến kết luận của Hội đồng duyệt phim Quốc gia. Về phía khán giả thì qua một khảo sát cho thấy, lượng khán giả ủng hộ quyết định cấm phát hành phim “Bẫy cấp 3” chiếm hơn 50% số người được hỏi.

Sở dĩ “Bẫy cấp 3” bị xếp xó vì bộ phim này có nội dung không lành mạnh khi mô tả rất thô thiển khát khao “chuyện ấy” của các cô cậu tuổi học trò; mặt khác, phim thể hiện sự thù hận của một nam sinh do chấn thương tâm lý từ nhỏ đã ra tay giết người dã man, mất nhân tính, mang tính kích động bạo lực. Xét về luật, phim không được phổ biến là những phim vi phạm điều 11 Luật điện ảnh và điều 9 nghị định 54/2010/NÐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều trong Luật điện ảnh và Luật sửa đổi, bổ sung Luật điện ảnh về những hành vi bị cấm trong hoạt động điện ảnh đó là: “Hình ảnh, âm thanh, lời thoại, chữ viết thể hiện cảnh đánh đập, tra tấn, giết người dã man, khuyến khích tội ác, trừ trường hợp nhằm phê phán, lên án cái ác gắn với nội dung phim”.

Cần nhấn mạnh rằng, không biết bao nhiêu lần dư luận phê phán ảnh hưởng xấu của các bộ phim “đen” như là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội, bạo lực học đường, tội phạm vị thành niên. Ai dám chắc sau khi xem phim “đen” tất cả người xem đều có thể tự chủ để không hành động như trong phim? Không chỉ riêng “Bẫy cấp 3” mà nhiều bộ phim “đen” khác sẽ xuất hiện trong tương lai đều được thanh minh là không có dụng ý xấu. Nhưng giữa tính nghệ thuật và những cảnh phim “đen” là ranh giới hết sức mong manh. Sự non tay trong nghề nghiệp sẽ khiến những cảnh “nóng” mất tác dụng nghệ thuật, trở nên thô thiển, dung tục và phản nghệ thuật; nhưng có khi chính các nhà sản xuất lại cố tình làm một bộ phim “nhạy cảm” để câu kéo khán giả đến rạp.

Chính vì vậy, việc tồn tại Hội đồng duyệt phim Quốc gia là cực kỳ cần thiết. Những thành viên của Hội đồng duyệt phim Quốc gia đều đã có thành tựu trong nghề, những người chuyên môn cao nên họ dễ dàng phân biệt đâu là phim “đen” đâu là phim nghệ thuật hơn hẳn khán giả không có chuyên môn chỉ nhận xét theo cảm tính. Và trường hợp cần cắt một số cảnh “nhạy cảm” không phù hợp trong phim, Hội đồng cũng sẽ biết cắt cảnh gì và cắt như thế nào để phim vừa không còn dung tục nhưng đồng thời cũng không làm mất kết cấu hay mạch tự sự trong phim.

Không chỉ trong lĩnh vực điện ảnh mà ở trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật khác, các hội đồng thẩm định cũng sẽ có ích ở nhiều việc khác nhau. Còn nhớ, cách đây vài năm, một nhạc sĩ trẻ sáng tác nhiều ca khúc khá hay. Tuy nhiên, một bài hát của nhạc sĩ này bị dư luận cho là đạo nhạc. Lẽ dĩ nhiên, nhạc sĩ này chối bay chối biến. Các fan hâm mộ nhạc anh ta thì chăm chăm bênh thần tượng cho rằng có ai ghen ghét nên mới tung tin đạo nhạc. Sự việc chỉ kết thúc khi Hội đồng nghệ thuật của Hội nhạc sĩ địa phương nơi nhạc sĩ kia đang hoạt động chính thức vào cuộc để thẩm định tác phẩm. Kết luận của Hội đồng nghệ thuật là nhạc sĩ kia đã đạo nhạc. Sau khi có kết luận, chẳng ai còn bênh nhạc sĩ kia nữa vì Hội đồng toàn là các nhạc sĩ “cây đa cây đề”.

Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp một số Hội đồng có chức năng kiểm duyệt các các phẩm văn học nghệ thuật lại tập hợp một số người không có chuyên môn. Điều này dẫn đến việc những người trong hội đồng không nhìn thấy những cách tân độc đáo đằng sau những cách diễn đạt tưởng chừng rối rắm hoặc không nhận ra những ẩn dụ sâu sắc đằng sau những hình ảnh “nhạy cảm”... Vì vậy, đội khi lại cấm phát hành nhầm tác phẩm hay, gây ra sự mâu thuẫn không đáng có với giới sáng tác.

Dù có những quyết định đúng hay sai thì không nên trách các hội đồng thẩm định. Nhưng để nâng cao úy tín, về cơ bản, các Hội đồng thẩm định nghệ thuật cần phải nâng cao trách nhiệm tránh để lọt những tác phẩm độc hại ra thị trường; và cần có tiếng nói kịp thời và có trọng lượng để định hướng dư luận biết thưởng thức nghệ thuật đúng đắn, tránh những tranh cãi trái chiều không cần thiết. Ở chiều ngược lại, công chúng cũng cần đặt niềm tin vào các hội đồng thẩm định nghệ thuật-những người hết lòng bảo vệ sự lành mạnh của văn học nghệ thuật nước nhà.

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG   

CÙNG BÀN LUẬN (XII): CÁI GIÁ CỦA LIÊN KẾT XUẤT BẢN


Sau khi nhà thơ Vũ Từ Trang phát hiện ra cuốn sách “Nghề cổ đất Việt” của ông bị “tác giả” Hồ Châu “luộc” dưới tên “Hỏi đáp về nghề truyền thống Việt Nam” (NXB Thời đại liên kết với Nhà sách Thành Nghĩa, 2010), NXB Thời đại mới tá hỏa thẩm định lại nội dung cuốn sách đã cấp phép. Khi việc “đạo văn” được chứng minh, NXB Thời đại đã công khai xin lỗi và đề nghị được trả nhuận bút cho nhà thơ Vũ Từ Trang; đồng thời yêu cầu phía Nhà sách Thành Nghĩa không tái bản cuốn sách đã vi phạm bản quyền.

Vụ “đạo văn” đã kết thúc nhanh chóng và êm đẹp khi hai bên “tự xử” mà không cần tòa án can thiệp. Tuy nhiên, vụ xì-căng-đan mới nhất trong lĩnh vực xuất bản, một lần nữa cảnh báo lỗ hổng trong liên kết xuất bản. Lỗ hổng này bắt nguồn từ năng lực yếu kém, độ ì lớn của các NXB khi không thể tự làm và tự kinh doanh sách do không làm tốt các khâu từ tổ chức bản thảo, mua bán bản quyền cho đến phát hành... Nhiều NXB hiện nay ra đời và tồn tại là nhờ bán giấy phép xuất bản (còn gọi là “bán cái”) cho đơn vị làm sách tư nhân. Trừ một số ít NXB có lương tâm là chỉ đồng ý cấp phép sau khi thẩm định lần cuối, đa số các NXB phó mặc hoàn toàn bản quyền lẫn nội dung cho các đơn vị liên kết.

Sự dễ dãi trong “bán cái” sẽ dẫn đến nhiều hệ quả đáng lo ngại. Ngoài việc vi phạm bản quyền, sẽ không khó dự đoán rằng nhiều cuốn sách “đen”, sách kém chất lượng... dễ dàng đến tay người đọc nhờ sự bắt tay của “cặp đôi hoàn hảo” là NXB thiếu trách nhiệm quản lý và đơn vị tư nhân thu lời tối đa sẵn sàng làm ẩu.

Liên kết xuất bản là xu hướng tất yếu của một ngành xuất bản chuyên nghiệp vì không tổ chức nào có thể đủ nhân lực, vật lực và thời gian để hoàn thành các khâu từ A đến Z. Vì vậy, có những nhà xuất bản tên tuổi cũng bị đối tác liên kết dễ dàng qua mặt để cho ra đời những cuốn sách có nội dung thiếu lành mạnh. Trong nhiều trường hợp, các nhà xuất bản đều đá “quả bóng” trách nhiệm cho phía đối tác. Khi các nhà xuất bản còn tiếp tục đổ lỗi mà không nhận thiếu trách nhiệm, đúng hơn là đã không thực hiện nghiêm túc các quy định về bản quyền và xuất bản thì những vụ việc tương tự chắc chắn vẫn tiếp tục xảy ra.

Thiết nghĩ, cần có thêm những quy định về vấn sát với thực tiễn liên kết xuất bản hiện nay; trong đó, tập trung vào trách nhiệm “bán cái” của các NXB. Tất cả phải nhằm mục tiêu buộc các NXB phải có hành động mạnh mẽ, thiết thực để đảm bảo định hướng xuất bản, tránh việc bị đối tác lợi dụng trong liên kết xuất bản. Và các quy định cũng nên tăng mức phạt và kiên quyết mạnh tay xử lý những vi phạm mới có thể chấn chỉnh lại công tác liên kết xuất bản đang nhốn nháo.

Muộn còn hơn không, và nếu còn chưa nhận thức đầy đủ tác hại của liên kết xuất bản thiếu lành mạnh thì càng ngày nó sẽ dẫn đến tác động góp phần làm bần cùng hóa những tri thức làm sách, khiến các đơn vị làm sách nghiêm túc dần nản lòng. Và quan trọng hơn, chịu thua thiệt trực tiếp đương nhiên là người đọc, nhất là thế hệ trẻ. Họ bỏ tiền ra để mong thưởng thức cái hay, cái đẹp và những điều bổ ích từ những trang sách nhưng không ngờ lại vớ phải những cuốn sách nội dung nhảm nhí, thậm chí độc hại. NXB “bán cái” kiểu “sống chết mặc bay” một lần với giá khá rẻ chỉ vài triệu đồng, nhưng nếu đa số NXB nào cũng “bán cái” và lặp đi lặp lại việc đó hàng nghìn lần thì thì sự trì trệ của văn hóa đọc, sự méo mó thẩm mỹ và nhận thức của người đọc thì cái giá phải trả lại quá đắt!

HÀM ĐAN

Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012

CÙNG BÀN LUẬN (XI): ĐỐI THOẠI THƯỜNG XUYÊN VỚI DÂN


Vụ việc tiểu thương chợ Bỉm Sơn đòi UBND thị xã Bỉm Sơn (Thanh Hóa) phải hủy quyết định bàn giao chợ Bỉm Sơn cho Tổng công ty Thương mại và Xây dựng Đông Bắc (TP Thanh Hóa) do chưa bàn bạc với các hộ kinh doanh đã kéo dài nhiều tháng. Sự việc diễn biến theo chiều hướng xấu khi các tiểu thương tụ tập trước trụ sở Tỉnh ủy, UBND tỉnh đòi chính quyền tỉnh Thanh Hóa phải giải quyết rốt ráo việc này. Trước tình hình đó, mới đây, đồng chí Mai Văn Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa đã chủ trì buổi đối thoại với các tiểu thương chợ Bỉm Sơn nhằm giải quyết dứt điểm vụ việc, sớm đưa chợ Bỉm Sơn trở lại hoạt động.

Tại cuộc đối thoại, đồng chí Mai Văn Ninh đã đi xuống phía người dân ngồi và  lần lượt giải đáp các khúc mắc của người dân. Đồng chí Mai Văn Ninh khẳng định: UBND tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo UBND thị xã Bỉm Sơn quyết định hủy bỏ việc bàn giao chợ cho Tổng Công ty thương mại và xây dựng Đông Bắc. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu kiểm điểm Ban Thường vụ Thị ủy, UBND thị xã Bỉm Sơn và một số đơn vị liên quan trong quá trình thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý chợ Bỉm Sơn không đúng với tinh thần của Chính phủ và của UBND tỉnh. Cũng trong cuộc đối thoại, đồng chí Mai Văn Ninh cũng phân tích cái sai của các tiểu thương là tụ tập nhiều ngày gây mất an ninh trật tự. Sau buổi đối thoại trên, các tiểu thương đều hài lòng với giải pháp nhanh chóng, minh bạch của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy; bày tỏ sự đồng tình với chủ trương chuyển đổi mô hình quản lý chợ Bỉm Sơn nếu có sự bàn bạc, thỏa thuận, đi đến thống nhất giữa chính quyền thị xã, chủ đầu tư và các tiểu thương.

Vụ việc chợ Bỉm Sơn là bài học cho việc các quyết định hành chính không hợp lòng dân, đi ngược lại lợi ích nhân dân sẽ phản tác dụng gây ảnh hưởng đến tình hình kinh tế-xã hội trên địa bàn. Điều đáng trách là khi xảy ra tình huống bất đồng của người dân với quyết định hành chính, UBND thị xã Bỉm Sơn đã không có hướng xử lý dứt điểm. Song, cái kết của vụ việc chợ Bỉm Sơn có thể xem là có hậu khi các tiểu thương đồng tình và dư luận hoan nghênh cách giải quyết thấu tình đạt lý của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa.

Nhiều người sẽ đặt câu hỏi: Một việc đáng lẽ phải xem là bình thường, đã là người lãnh đạo phải gặp gỡ người dân, lắng nghe những tâm tư nguyện vọng của người dân để đưa ra những hướng giải quyết hợp lòng dân lại trở thành một hiện tượng được xem là đáng quý?
Thiết nghĩ, không chỉ chờ đến khi nảy sinh những vụ việc phức tạp, chính quyền và người lãnh đạo mới tổ chức đối thoại với người dân; mà việc làm này cần phải tiến hành thường xuyên. Nếu nhân rộng những cuộc đối thoại minh bạch như cách làm của Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa vừa qua, không chỉ để dịp hứa hẹn nhằm an lòng nhân dân mà đây có thể xem là cơ hội “vàng” để các cấp chính quyền kiểm tra các quyết sách có hợp lòng dân hay không để có phương án xử lý sớm, tránh những mâu thuẫn nảy sinh đến mức phức tạp.

Và xét cho cùng, việc thường xuyên đối thoại với nhân dân chính là một hành động cụ thể, thiết thực để học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Học tập tấm gương Bác Hồ không chỉ là học tập tư tưởng, đạo đức mà còn phải học cả phong cách của Người: Luôn giản dị, gần dân và nguyện làm người đầy tớ trung thành của nhân dân.

          HÀM ĐAN

Thứ Hai, 21 tháng 5, 2012

CÙNG BÀN LUẬN (X): ĐỘC HÀNH NGHÌN DẶM VÌ DU LỊCH VIỆT



Trần Hùng John (Giôn) - chàng trai 23 tuổi người Mỹ gốc Việt chuẩn bị đi bộ gần 1.800km từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh mà không mang theo một xu nào. Anh đã quyết định bỏ luôn công việc hiện tại là MC truyền hình để toàn tâm thực hiện kế hoạch này.

Kế hoạch khá “dị” của Trần Hùng John xuất phát từ việc có một số bài viết từ bên ngoài cho rằng Việt Nam không phải địa điểm du lịch lý tưởng bởi thiếu an toàn và những người bản xứ không mấy thân thiện. Để chứng minh người Việt Nam nhiệt huyết, tốt bụng, Trần Hùng Giôn quyết thực hiện chuyến phiêu lưu từ Bắc vào Nam không cần tiền mà chỉ dựa vào sự hiếu khách và lòng tốt của những người Việt Nam gặp trên đường.

Mới đây, nhà báo người Đức Mai-cơn Goai-gơ đã đi vòng quanh thế giới với tổng cộng hơn 40.000km mà không mang theo một xu trong túi. Nhưng mục đích chuyến đi của Mai-cơn Goai-gơ là thực hiện ước mơ đặt chân lên Nam Cực và để viết một cuốn sách kể về cuộc hành trình. Còn chuyến độc hành của Trần Hùng Giôn thì nhằm mục đích khám phá về du lịch Việt Nam. Chuyến đi không hề mang dụng ý “đánh bóng” bản thân mà để khẳng định thế hệ trẻ Việt Nam không chỉ sống hưởng thụ ích kỷ, mà muốn đem sức lực và bầu nhiệt huyết để làm những việc ích nước, lợi nhà.

Lâu nay, việc quảng bá du lịch Việt Nam ra nước ngoài thường đi theo một số cách như tổ chức các ngày văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, quảng cáo về du lịch Việt Nam trên những kênh truyền hình nổi tiếng…Thực tế cho thấy những cách quảng bá này chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn vì thiếu sự mới mẻ, thú vị và na ná cách quảng bá du lịch của một số nước đang phát triển khác.

Kế hoạch đi bộ nghìn dặm của Trần Hùng John có thể chưa mang lại hiệu quả quảng bá du lịch ngay tức thì, song  ý tưởng và việc làm này chắc chắn sẽ thu hút sự quan tâm của các phương tiện truyền thông và công chúng trong nước cũng như nước ngoài. Không cần bỏ tiền ra giới thiệu nhưng những danh thắng, khu du lịch nổi tiếng… theo dọc cung đường từ Bắc vào Nam mà Trần Hùng Giôn đi qua sẽ được nhắc đến, kèm theo đó là những câu chuyện khám phá thú vị.  Chuyến độc hành cũng giúp xóa đi những câu chuyện tiêu cực mà một số phương tiện thông tin bên ngoài không mấy thân thiện vẽ ra, giúp cho bạn đọc hiểu đúng bản tính mến khách, “thương người như thể thương thân” của con người Việt Nam. 

Hy vọng, trong  chúng ta, nhất là các bạn trẻ cũng có thể tìm tòi, sáng tạo ra kế hoạch cụ thể, thiết thực nhằm góp phần tích cực vào  sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, trước hết là truyền tải những thông điệp đúng về Việt Nam đến bè bạn trên khắp thế giới./.

          HÀM ĐAN

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

NỖI ÁM ẢNH MANG TÊN HÀ NỘI


“Ở Nhà hàng Luna d’Autunno (78 Thợ Nhuộm) đang có triển lãm tranh của William P. Badger, Jr. Đẹp lắm, đến đi nhé!”

Từ dòng tin ngắn ngủi của người bạn, đành lại nhờ cậy trí nhớ: William P. Badger, Jr là ai? Trong số các họa sĩ nước ngoài có tiếng đang hoạt động ở Việt Nam hình như không có cái tên này. Nhưng nếu là họa sĩ mới và tranh anh ta đẹp thì lại càng đáng để đến xem triển lãm.  
         
Đến nơi, chưa kịp xem tranh đã gặp ngay nhân vật chính: William P. Badger, Jr. Đó là một người đàn ông đến từ nước Mỹ có dáng đậm và nói tiếng Việt bằng giọng Hà Nội chuẩn nhờ đã ở Việt Nam 15 năm. William nói thẳng, hội họa là một sở thích chứ không phải là nghề nghiệp. Hồi trẻ, anh học nhạc và nghề nghiệp hiện giờ chẳng liên quan gì đến nghệ thuật đó là Giám đốc marketing của Tập đoàn Bitexco. Chuyện trò mới biết, triển lãm lần này có tên “Cái nhìn thoáng qua” gồm 16 bức tranh được William sẽ trong vòng 2 năm. Và đây đã là triển lãm cá nhân thứ ba của anh.

Những bức tranh của anh đều tập trung chủ đề về Hà Nội, cụ thể là khu phố cổ. Dễ dàng nhận ra những ngõ nhỏ, những hàng cây lẻ bóng, những cầu thang uốn lượn... đặc trưng của quang cảnh khu phố xưa. Duy có điều, William không mô phỏng lại khung cảnh Hà Nội nên thơ theo kiểu “soi gương”. Bố cục bức tranh của Willam đầy ắp mảng khối kiến trúc khuyết thiếu; đôi khi chỉ còn lại không gian bỏ ngỏ với những vệt mầu sắc uốn lượn. Một phong cách đặc trưng chủ nghĩa biểu hiện (expressionism) kiểu như bức tranh “Tiếng thét” của danh họa Na Uy Edvard Munch (1863-1944) vừa mới đạt kỷ lục đấu giá 119,9 triệu USD. Đem sự so sánh nói trên hỏi William thì anh chỉ cười mà không tỏ vẻ đồng tình hay phản đối. Thế mới biết thế nào là “dại miệng”, đã là người sáng tạo thì đều không thích được (bị) so sánh với những người sáng tạo khác dù cho người đó là bậc thầy!  

Với William, đơn giản Hà Nội đã hút hồn anh, trở thành một đề tài dồi dào cảm hứng sáng tạo. Anh chọn vẽ phong cảnh và chỉ giữ lại hình thể để đem lại cho cho phong cảnh khả năng biến đổi bất ngờ. Sự biến đổi ấy dựa trên “cái nhìn thoáng qua” nhưng ấn tượng nhất về phố cổ Hà Nội mà anh có thể ghi sâu trong ký ức nay chợt hiện về. Anh lấy tâm trạng nội tâm thay đổi mang tính chủ quan để bóp méo những hình thể bên ngoài nên đường nét khung cảnh trông như ảo ảnh trong một giấc mơ. Vì thế, phải chăng William đã không đặt cho những bức tranh những cái tên cụ thể thay vào đó là những con số thứ tự?
   
Với số ít những tranh cắt dán, từ cái nhìn của một người sống lâu năm ở Hà Nội và cả sự tinh quái trong chọn lọc, William đã chọn ra tấm vé số, những từ ngữ “đặc biệt”, “thơm ngon”... lấy từ biển quảng báo, mảnh báo cũ ghép lại thành bức tranh mô tả được chiều sâu về đời sống Hà Nội mà không cần có sự góp mặt của con người trong thành phố.

Nhà văn Nguyễn Tuân từng ước trở thành họa sĩ vì các bức tranh không phải mất công dịch như văn chương. Nhìn tranh của William cũng có thể cảm nhận ngay tình yêu Hà Nội sân sắc trong một con người đến từ một đất nước xa xôi. Với William dù Hà Nội mai này sẽ biến đổi như thế nào, Hà Nội vẫn có vẻ đẹp riêng; và vẻ đẹp ấy tồn tại trong cái nhìn, cái cảm của mỗi người đã trót yêu Hà Nội. 

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

ROMAIN GARY-THÁP BAYON BỐN MẶT


Giải Goncourt-giải thưởng văn chương uy tín nhất của nước Pháp chỉ trao cho mỗi nhà văn một lần duy nhất. Nhưng có một lần quy định trên bị phá vỡ bằng một vụ “gian lận” nổi tiếng mà chủ trò là nhà văn Romain Gary (1914-1980). Lần đầu, R. Gary đoạt giải với tiểu thuyết “Rễ trời” vào năm 1956; 19 năm sau, ông lại là chủ nhân giải Goncourt với tiểu thuyết “Cuộc sống ở trước mặt” với bút danh Émile Ajar.

R. Gary đã sắp đặt để người cháu Paul Pavlowitch nhập vai Émile Ajar khiến mọi người tưởng rằng nước Pháp lại có thêm một tài năng văn chương. Trò đùa với giải Goncourt chỉ là hệ quả tất yếu một con người đa nhân cách quá từng trải. Dù viết bằng tiếng Pháp nhưng chủng tộc của R. Gary lại là người Do Thái sinh ở Vilnius-thủ đô Lít-va với tên khai sinh Roman Kacew. 14 tuổi đến Pháp, sau đó R. Gary học luật nhưng Đệ nhị thế chiến nổ ra, ông trở thành phi công. Hòa bình lập lại, ông hoạt động trong ngành ngoại giao và làm phim tại nhiều quốc gia. Và tất nhiên không thể quên, ông là tác giả của 37 tác phẩm văn chương.

Sau “Rễ trời” đầy vinh quang, R. Gary vẫn tiếp tục viết nhưng không ít nhà phê bình thiếu thiện cảm với các tác phẩm của R. Gary vì cho rằng chẳng có gì mới mẻ. Một phần nguyên nhân coi thường tác phẩm của R. Gary lại bắt nguồn từ thói ghen ghét từ bề ngoài đỏm dáng rất “kịch” của một “siêu sao văn chương”, cùng với đủ các danh hiệu khoác lên người ông: Huân chương Giải phóng, Bắc Đẩu Bội tinh, giải Goncourt, Tổng Lãnh sự Pháp ở Mỹ... “Ngôi sao” R. Gary dần dần bị người đời lãng quên. Chính lúc cô đơn và ẩn dật, ông khởi sự cuộc phiêu lưu cuối cùng và ngoạn mục nhất với 4 tiểu thuyết dưới bút danh Émile Ajar.

Chặng đường sáng tạo nước rút này, R. Gary đã cách tân bút pháp gần như cách lìa hẳn những tác phẩm trước. Xuất sắc hơn cả trong số các tác phẩm cuối đời là kiệt tác “Cuộc sống ở trước mặt” (Hồ Thanh Vân dịch, NXB Hội Nhà văn & Nhã Nam, 2010). Bộ phim chuyển thể cùng tên của đạo diễn Moshé Mizrahi đã đoạt giải Oscar cho phim nước ngoài hay nhất năm 1978.

Tiểu thuyết “Cuộc sống ở trước mặt” được kết cấu dựa trên một chuỗi độc thoại của cậu bé Mohammed (tên thân mật là Momo). Momo là đứa con ra đời không mong muốn của một gái điếm người Ả-rập ở Pháp. Do không có điều kiện nuôi, bà mẹ Momo chi tiền để gửi cậu cho Madame Rosa-một gái điếm người Do Thái đã giải nghệ giờ chuyển sang nghề trông nom những đứa trẻ vô thừa nhận. Bù lại thiếu thốn vật chất, Momo luôn hạnh phúc bởi được che chở bởi tình yêu thương của Madame Rosa. Momo cũng dành tình cảm cho bà sâu nặng một kiểu “tình yêu tinh thần” (Platonic). Nhưng cuộc sống không thể tiếp tục như vậy vì khoảng cách hơn nửa thế kỷ tuổi tác; một ngày rất gần Madame Rosa sẽ không còn trên cuộc đời. Thế rồi Madame Rosa mất, Momo cô đơn đối diện với cuộc sống ở trước mặt với lời hứa với Madame Rosa sẽ trở thành người tử tế.

Cốt truyện trên nếu rơi vào tay của một nhà văn hiện thực hồi đầu thế kỷ XX nhiều khả năng tác giả sẽ bi kịch hóa hoàn cảnh của Momo biến cậu thành một tay du côn trẻ con bị hoàn cảnh tha hóa. Với một tài năng sáng tạo vô bờ bến như R. Gary không thể để câu chuyện dễ nắm bắt như vậy. R. Gary đã phát triển cốt chuyện thành nhiều chủ đề khác nhau khiến người đọc có thể hiểu “Cuộc sống ở trước mặt” là câu chuyện tình thương giữa người với người, ẩn ý về sự hòa hợp chủng tộc (ở đây là Ả-rập và Do Thái) nhưng có lẽ trên hết là sự phản kháng những bất công đã an bài của số phận.     


Momo ở một chiều kích nào đó là một tự họa đầy ẩn ý của R. Gary, một kiểu “tự hư cấu” (autofiction). Ông đã sử dụng lối chơi chữ, làm lệch chuẩn cú pháp, cắt xét ngôn từ hay lặp đi lặp lại hiệu ứng khôi hài để biểu đạt tất cả sự phức tạp của tính cách Momo: Sống trong môi trường “thiếu lương thiện” nhưng lại hành xử tử tế; tiếp xúc nhiều với cuộc đời nhưng suy nghĩ vẫn còn trẻ con... Trên hết, R. Gary đã ngầm “viết lại” (rewrite) đề tài trước đây. Đoạn cuối tiểu thuyết “Cuộc sống ở trước mặt”, Momo bướng bỉnh không chấp nhận việc cái chết của bà mẹ nuôi nên cậu vẫn tô màu lên khuôn mặt tử thi của Madame Rosa như một cách phản kháng tuyệt vọng cho một tình yêu không bao giờ đạt tới. Đề tài này thực chất đã có từ năm 1960 với tác phẩm “Lời hứa lúc bình minh” (Nguyễn Duy Bình dịch, NXB Văn học & Nhã Nam, 2009) nhưng không được ai thời đó công nhận là một kiệt tác. Hành động của “gian lận” của R. Gary cũng là cách chống lại sự lãng quên, đùa cợt cuộc đời không thừa nhận tài năng đích thực của mình.

Trò đùa của R. Gary chấm dứt vào ngày 2-12-1980 khi ông kết thúc cuộc đời bằng cách bắn vào đầu không lâu sau vụ tử tự của người vợ là minh tinh điện ảnh người Mỹ Jean Seberg. R. Gary đã kịp tiết lộ ông chính là Émile Ajar. Những hành động sau cùng này chỉ như là cái kết của một cuộc đời kỳ lạ không kém những kiệt tác của R. Gary-một con người có nhiều căn cước đầy mâu thuẫn gợi nhớ những câu thơ của Chế Lan Viên: “Anh là tháp Bayon bốn mặt/ Giấu đi ba, còn lại đấy là anh/ Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc/ Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình”.

          HÀM ĐAN

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

CÙNG BÀN LUẬN (IX): CHĂM SÓC TRẺ EM NGÀY NẮNG NÓNG

 Mấy ngày qua, do tiếp tục chịu ảnh hưởng của rãnh áp thấp bị nén kết hợp với hiệu ứng phơn mạnh nên tình trạng nắng nóng duy trì trên diện rộng với nhiệt độ cao nhất phổ biến từ 36 đến 39 độ C, có nơi lên tới 43 độ C. Hệ quả của đợt nắng nóng đang diễn ra là nhiều người phải nhập viện, đặc biệt là trẻ em - đối tượng có sức đề kháng yếu.
Ở trong gia đình, đa số các bậc phụ huynh đều có ý thức chủ động phòng, chống nắng nóng cho con trẻ như: Bổ sung nước, nâng cao chất lượng bữa ăn, mặc đồ thoáng mát và giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ... Tuy nhiên, thời gian học ở trường chiếm phần lớn, nên việc chăm sóc sức khỏe cho các em trong những ngày nắng nóng đặt lên vai nhà trường. Chương trình học vốn đã nặng nề, trường lớp nhiều nơi tuềnh toàng, có khi bị nắng chiếu trực tiếp vào phòng học, nhiều lớp đông học sinh khiến không khí ngột ngạt, giờ giải lao các em mải chơi, mồ hôi, bụi bặm... những nguyên nhân đó khiến nhiều trẻ mệt mỏi, ốm và gây quá tải cho bệnh viện mấy ngày qua.
Đối phó với nắng nóng, một số trường học đã lắp đặt máy điều hòa nhiệt độ, chủ yếu ở trung tâm các thành phố lớn. Để mở rộng việc lắp đặt máy điều hòa không thể trông chờ hoàn toàn từ kinh phí nhà trường và túi tiền phụ huynh mà cần xã hội hóa nhờ sự chung tay của các doanh nghiệp và các nhà hảo tâm. Vấn đề là các nhà trường có quan tâm tới các em và khơi đúng mạch nguồn nhân ái hay không? Tất nhiên, có máy điều hòa nhiệt độ rồi, việc sử dụng sao cho hợp lý để tránh lợi bất cập hại cũng là vấn đề cần quan tâm.
Trước mắt, những ngày nắng nóng, các nhà trường cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm quản lý học sinh. Hạn chế các hoạt động vui chơi ngoài trời khi thời tiết nắng nóng trên 37 độ C. Đồng thời, nhà trường cũng cần bố trí hợp lý các các hoạt động khác như: Thể dục, ngoại khóa, vệ sinh môi trường... tránh để trẻ em tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng quá lâu. Với những trẻ học bán trú ăn trưa ở trường, cần tăng cường giám sát công tác phục vụ ăn, ngủ của các cháu, tránh tình trạng phó mặc cho các cơ sở dịch vụ.
Chúng ta đang thực hiện mô hình gia đình ít con, vì thế sự quan tâm lo lắng của các bậc cha mẹ đến con cái là rất lớn. Đặc biệt các gia đình quân nhân, gia đình công chức, không có nhiều thời gian và nhân lực chăm sóc con cái thì việc các thầy cô giáo phát huy trách nhiệm, đề cao nhân ái chăm lo các cháu thay cha mẹ là những việc làm tốt, góp phần ổn định xã hội. 

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

THỜI ĐÀM (XXI): HY VỌNG GÌ Ở TIỂU THUYẾT TƯƠNG TÁC?

Tiểu thuyết tương tác (Interactive novel) là hình thức tiểu thuyết vẫn còn khá mới mẻ trên thế giới nhưng đã có mặt ở Việt Nam khi NXB Dân trí thuộc Hội Khuyến học Việt Nam đứng ra thực hiện tiểu thuyết tương tác mang tên “Lựa chọn”.

Nói một cách vắn tắt, tiểu thuyết tương tác là hình thức hư cấu thông qua trang web, vì thế mà có người dùng thuật ngữ “wovel” (viết tắt web novel). Tiểu thuyết hình thành dựa trên một số chương mở đầu do một người viết, sau đó đăng tải trên trang web. Từ một khởi đầu câu chuyện và nhân vật cho sẵn, bất cứ ai cũng có thể viết thêm phần bổ sung để phát triển cốt truyện. Chính người khởi thảo câu chuyện hoặc một nhóm người sẽ lựa chọn những đoạn ưng ý nhất, sau đó ráp lại thành một tiểu thuyết.

Cách làm của NXB Dân trí không có gì khác biệt. Nhà văn Tô Hải Vân-tác giả tập truyện ngắn độc đáo “Bỗng dưng có một ngày” (NXB Hội Nhà văn, 2007) viết hai chương mở đầu tiểu thuyết “Lựa chọn” về hai nhân vật cậu bé Hoan và cô bé Hà. Hai chương tiểu thuyết trên đã đăng trên hai trang web: http://nxbdantri.com.vnhttp://vanhien.vn/. NXB gợi ý các phần tiếp theo hình thành câu chuyện phải “đầy nhân văn, thấm đẫm tình người, rất Việt Nam, không chấp nhận bạo lực, ám chỉ, và những điều mà Luật Xuất bản nghiêm cấm”; “khuyến khích cách viết và kỹ thuật viết mới mẻ, sáng tạo”. Cây bút nào muốn thử tài có thể gửi phần tiếp nối về địa chỉ email: tuongtaccungdantri@gmail.com. Ban Biên tập NXB Dân trí sẽ lựa chọn phần viết thích hợp nhất nối vào tác phẩm và công bố tiếp lên hai trang web nói trên. Cứ như vậy, tác phẩm được hoàn thiện với sự đóng góp của nhiều tác giả. Cuối cùng, tác phẩm sẽ được in thành sách. Các tác giả có phần viết được lựa chọn sẽ được ghi tên tương ứng với phần viết của mình, hưởng nhuận bút theo quy định.

Xét về bản chất, tiểu thuyết tương tác nằm trong dạng sáng tác tập thể, rất gần gũi với văn học dân gian. Văn học dân gian phổ biến thông qua hình thức truyền miệng, tác phẩm gốc đầu tiên sẽ được nhiều người thêm thắt để tạo ra các phiên bản khác tùy theo quan điểm của từng cá nhân. Sau đó, phiên bản nào được nhiều người dùng nhất sẽ xem là bản chính thức, những phiên bản khác gọi là dị bản. Tiểu thuyết tương tác có khác một chút là môi trường tương tác được tạo dựng nhờ internet nên những cây bút muốn đóng góp các phần tiếp theo sẽ dễ dàng theo dõi câu chuyện đang được phát triển và sẽ tự điều chỉnh ý tưởng mới.  

Nếu nhìn sự việc theo bề nổi, hẳn nhiều người sẽ hy vọng tiểu thuyết tương tác sẽ cho ra đời tác phẩm chất lượng. Nhưng thực tế chứng minh, việc nhiều người tham gia cùng viết tiểu thuyết nói chung hay thể loại hư cấu nói riêng chưa bao giờ thành công! Lý do rất đơn giản, mỗi người viết có nền tảng văn hóa khác nhau, lối viết văn khác nhau…; nhiều người cùng viết một tiểu thuyết sẽ gây ra nghịch cảnh là tác phẩm không còn là một chỉnh thể nghệ thuật. Chỉnh thể nghệ thuật là sự thống nhất các yếu tố như: Nội dung, hình thức, ngôn ngữ, giọng điệu, cấu trúc… Sự thống nhất này phải đạt đến độ không thể tách rời, đến mức chỉ có thể dùng một kiểu ngôn ngữ và giọng điệu mới có thể biểu đạt tối đa nội dung; nói nôm na như câu: “Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo”. Cũng vì lý do trên mà người ta luôn cho rằng: Kiệt tác văn chương ra đời là do thiên tài của cá nhân!
         
Dĩ nhiên, hình thức tiểu thuyết tương tác vẫn có thể cho ra đời một tiểu thuyết không quá kém. Yếu tố quyết định ngoài tài năng của các cây bút, giá trị tiểu thuyết tương tác còn phải nhờ vào “con mắt” biên tập, định hướng nghệ thuật của ban biên tập dự án. Nếu cốt truyện tiểu thuyết phát triển một cách tự phát, các yếu tố còn lại ban biên tập có thể uốn nắn để theo một chiến lược nghệ thuật đã vạch sẵn nhằm hình thành một tác phẩm chí ít ở mức độ “đọc được”. Nhưng như vậy, có thể những bước đột phá cực kỳ bất ngờ mang tính thiên khải nhiều khả năng sẽ không được sử dụng; đồng thời cũng giảm đi nhiều bản chất tương tác.

Ở thời điểm khi tác phẩm vẫn đang hoàn thiện, chưa thể đánh giá hiệu quả của hình thức tiểu thuyết tương tác. Tuy nhiên, một dự án ít tốn kém và cho phép các cây bút thỏa sức sáng tạo, hình thức tiểu thuyết tương tác chí ít cũng thành công khi tạo ra “sân chơi” kết nối những người yêu tiểu thuyết lại gần với nhau.

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2012

NGÀY HỘI SÁCH VÀ VĂN HÓA ĐỌC 2012: CHẤT LƯỢNG CHƯA XỨNG TẦM


Với chủ đề “Sách-chìa khóa của thành công” và thông điệp “Đọc sách cho cuộc sống tốt đẹp hơn”, “Ngày hội sách và văn hóa đọc 2012” (gọi tắt là Ngày hội sách) đã trở thành hoạt động văn hóa mang tầm Quốc gia với sự tham gia hưởng ứng của nhiều địa phương. Nhưng dư âm Ngày hội sách năm nay vẫn còn đó nhiều băn khoăn về chất lượng chưa đuổi kịp quy mô.

Mở rộng quy mô
       
Hưởng ứng “Ngày sách và bản quyền thế giới” (World Book and Copyright Day) 23-4, năm nay, với tên gọi “Ngày hội sách và văn hóa đọc 2012”, Ban tổ chức (BTC) đã quyết định mở rộng quy mô Ngày hội sách ở tầm Quốc gia để trở thành hoạt động thiết thực chuẩn bị cho kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII sẽ thông qua Luật Thư viện; song, mục tiêu quan trọng nhất là Ngày hội sách sẽ nâng cao nhận thức của người dân đặc biệt là lớp trẻ về tầm quan trọng của việc đọc sách, khuyến khích đọc sách, đưa văn hóa đọc lan tỏa rộng rãi tới người dân.

Địa điểm chính của Ngày hội sách 2012 vẫn được tổ chức ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám (Hà Nội). Rút kinh nghiệm từ lần trước, do lượng người tham dự đông và có nhiều hoạt động nhưng chỉ diễn ra trong một ngày nên xảy ra tình trạng “quá tải”; BTC đã quyết định ngày hội sẽ diễn ra trong hai ngày 21 và 22-4. Các hoạt động của Ngày hội sách năm nay cũng nhiều hơn năm ngoái với tổng cộng 14 hoạt động.

Có thể kể ra hoạt động đáng chú ý như: Chương trình giao lưu, tọa đàm giữa các nhà quản lý, nhà nghiên cứu khoa học là GS-TS Chu Hảo-Giám đốc NXB Tri thức; bà Lê Thị Bích Hồng-Phó vụ trưởng Vụ Văn hóa, Văn nghệ, Ban Tuyên giáo Trung ương; nhà văn Nguyễn Quang Thiều-Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam... với công chúng xung quanh các vấn đề nâng cao văn hóa đọc. TS Nguyễn Mạnh Hùng (Giám đốc Công ty sách Thái Hà) - một diễn giả lâu năm về văn hóa đọc đã thuyết trình về vấn đề “Sách-chìa khóa của thành công” khi ví von tri thức có được nhờ đọc sách là thứ “của cải” vô giá không thể bị phá hủy. Với những độc giả nhí, Ngày hội sách năm nay trở nên sôi động khi có “sân chơi” là thi vẽ tranh theo sách, tô màu theo tranh, chơi trò chơi trí tuệ... Các hoạt động hoàn toàn mới của Ngày hội sách năm nay thu hút sự chú ý của người dân tham dự nhất là trình diễn thơ và văn xuôi của các cây bút trẻ như: Thụy Anh, Mai Anh Tuấn, Vũ Anh Vũ, Vũ Thiên Kiều...; và một điều đặc biệt của năm nay là mỗi người đến tham dự Ngày hội sách đóng góp sách để BTC chuyển đến các vùng nông thôn nhằm góp phần chung tay xây dựng nông thôn mới.

Ngoài địa điểm Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Thư viện Quốc gia (31 Tràng Thi, Hà Nội) cũng đã tổ chức triển lãm “Sách hay, sách đẹp, sách quý” giới thiệu các sách hay đoạt Giải thưởng sách Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2011; các sách quý, sách cổ, sách trên những chất liệu đặc biệt, sách có kích thước to nhất, nhỏ nhất...

Không chỉ sôi động ở Hà Nội, Ngày hội sách năm nay còn diễn ra tại hơn 30 địa phương trong cả nước bởi sự chủ động hưởng ứng của các thư viện tỉnh. Điển hình như tỉnh Bắc Kạn - một địa phương còn gặp nhiều khó khăn, vẫn tổ chức Ngày hội sách với chủ đề “Tuổi trẻ đọc sách cho ngày mai” khá sôi động với các chương trình: Tặng sách giờ vàng, tặng quà cho độc giả làm thẻ thư viện…

Mới qua hai lần tổ chức mà đã có tới hơn 50% số địa phương trên cả nước hưởng ứng Ngày hội sách thì có thể lạc quan tiên đoán Ngày hội sách sẽ có sức sống bền bỉ, trở thành một hoạt động văn hóa không thể thiếu với người dân.

Vẫn còn những băn khoăn

Một hoạt động vì cộng đồng như Ngày hội sách nhưng công tác quảng bá chưa được tốt, dẫn đến chưa kêu gọi sự hưởng ứng hết mình của người dân. Điển hình như: Chỉ còn 4 ngày diễn ra khai mạc nhưng BTC mới loan tin việc kêu gọi người dân đóng góp sách xây dựng nông thôn mới, nên không có nhiều người mang sách khi đến với Ngày hội sách. 

Hoạt động quảng bá thương hiệu và bán sản phẩm ở các quầy sách của các NXB và nhà sách không sôi động như năm ngoái. Mặc dù các công ty sách, các NXB tích cực níu chân khán giả như tạo hình nhân vật hoạt hình, lưu lại nét bút của khán giả làm kỷ niệm hay xếp sách nghệ thuật... nhưng không ít bạn đọc đến với Ngày hội sách tỏ ra thất vọng bởi các gian hàng sách vẫn còn nhỏ lẻ, sách nhiều nhưng không có nhiều sách hay và mới. Các NXB và công ty sách uy tín cũng không tham dự đầy đủ… Vì vậy, người đến với Ngày hội sách cũng chỉ đến một ngày cho biết.
Nhiều người trong giới xuất bản cũng chưa thực sự hài lòng vì BTC chưa có hoạt động cụ thể nào đề cập tới vấn đề bản quyền. Cần nhắc lại, ngày 23-4 hằng năm không chỉ có việc tôn vinh văn hóa đọc mà còn có vấn đề bản quyền. Hiện nay, câu chuyện vi phạm trắng trợn bản quyền sách đang là vấn đề “nóng” ở nước ta. Rất khó để có dịp tập hợp người yêu sách đông đảo như Ngày hội sách, lẽ ra BTC cần tận dụng sự kiện này để tuyên truyền người dân “nói không” với sách lậu.

Một vấn đề khác mà BTC cần rút kinh nghiệm là mỗi Ngày hội sách nên tập trung vào một hoạt động trọng tâm, tránh tình trạng đưa ra một chủ đề chi phối chung chung. Nỗi băn khoăn nói trên không phải không có cơ sở vì đã qua hai lần tổ chức, các hoạt động dù hay đến đâu thì lâu ngày cũng sẽ mang đến cảm giác nhàm chán cho người dự. Thiết nghĩ, không chỉ đổi mới từng hoạt động tại địa điểm chính là Hà Nội mà mỗi địa phường, tùy theo hoàn cảnh cũng cần tích cực sáng tạo các hoạt động để thu hút người dân tham dự Ngày hội sách  trong những năm tới.

HÀM ĐAN

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

TITANIC-A CENTURY LATER: CÁI KẾT CÓ HẬU CỦA MỘT BI KỊCH


Ngày 14-4 năm nay là tròn một thế kỷ con tàu Titanic bị đắm, cướp đi sinh mạng của 1.514 người. Thời gian càng lùi xa nhưng huyền thoại Titanic vẫn vẹn nguyên gắn với những câu chuyện nhân văn lay động lòng người trong hơn hai tiếng tàu chìm dần vào lòng đại dương sâu thẳm.

1. Một câu hỏi của nhiều người là tại sao một thảm họa hàng hải lại chiếm trọn sự quan tâm của nhiều thế hệ, trở thành chất liệu cho các loại hình văn học nghệ thuật suốt một thế kỷ qua?

Lý giải câu hỏi đó, cần phải hiểu “đẳng cấp” tàu Titanic ở thời đại con tàu ra đời. Titanic là con tàu lớn nhất (dài 269m, rộng 28m ở sườn ngang, nặng 46.328 tấn) và sang trọng nhất thời bấy giờ. Titanic không đơn thuần chỉ là đỉnh cao kỹ thuật đóng tàu mà còn là sản phẩm kết tinh của trí tuệ, tính thẩm mỹ của châu Âu hùng mạnh nói chung và văn minh nhân loại nói riêng. Sau tai nạn, xảy ra một chấn thương tâm lý cho cả một thế hệ: Một kỳ công nhân tạo tưởng không bao giờ chìm lại “thua” một hiện tượng tự nhiên là một núi băng trôi. Nhiều người nhận ra: Số phận con người quá mong manh; con người đã phải trả giá khi xem thường sức mạnh tự nhiên. Nhiều người còn xem vụ chìm tàu Titanic là một trong những sự kiện chấm dứt thời đại hưng thịnh và lạc quan của châu Âu để bước vào thời kỳ lụi tàn khi Thế chiến thứ nhất (1914-1918) nổ ra hai năm sau đó.   

Ám ảnh trực tiếp từ vụ chìm tàu Titanic do các nguyên nhân bị che lấp dẫn đến thảm họa. Do hạn chế của khoa học cộng với việc bưng bít của chủ tàu nên các cuộc điều tra đã không có kết luận cuối cùng. Ngay cả chuyện rất đơn giản là con tàu thực sự đã chìm như thế nào? Nhiều nhân chứng đã xác nhận con tàu vỡ làm đôi, nhưng nhiều người muốn hướng dư luận tin rằng con tàu chìm nguyên vẹn để tránh bi kịch hóa vụ đắm tàu! Màn sương bí ẩn bao bọc quanh vụ đắm tàu đưa Titanic trở thành một huyền thoại. Không ít nhà “Titanic học”, họa sĩ, đạo diễn... thành danh kể rằng tuổi thơ của họ đã dành trọn cho nỗi đam mê muốn khám phá những bí ẩn về Titanic. Đến năm 1985, nhà hải dương học người Mỹ Robert Ballard đã phát hiện xác tàu Titanic ở độ sâu 4km. Sau đó, nhờ các công nghệ hiện đại và đội ngũ “Titanic học” hùng hậu, người ta mới dần giải mã những bí ẩn.

Thảm họa Titanic là tổng hợp từ sự bất cẩn của con người và phần lớn là bất lợi do tự nhiên đem đến; song kỳ lạ ở điểm, tất cả mọi yếu tố bất lợi đều tập trung cùng thời điểm khiến khối người mê tín tin rằng, chính Chúa đã làm chìm tàu. Thời điểm đầu hè 1912, lượng băng tan nhiều bất thường, gấp đôi các năm khác. Trong đêm định mệnh, tàu Titanic đã đi vào vùng giao nhau giữa hai dòng hải lưu nóng và lạnh, sự chênh lệch nhiệt độ quá lớn dẫn đến khúc xạ ánh sáng gây ra hiện tượng “chân trời ảo” (còn gọi là “ảo ảnh gương”) khiến hoa tiêu dù tập trung cũng không nhìn ra núi băng có trọng lượng gấp 6 lần Titanic đang ở rất gần. Cũng chính hiện tượng trên mà thuyền trưởng tàu California là Stanley Lord chỉ cách Titanic khoảng 16km (mất nửa tiếng di chuyển) không nhận ra con tàu trong tầm nhìn ống nhòm là Titanic. Có người còn tin rằng, khoảnh khắc mà S. Lord quan sát là thời điểm phần mũi tàu Titanic đã ở dưới mặt nước nên ông tưởng chỉ là con tàu cỡ nhỏ. Sáng hôm sau, S. Lord mới biết Titanic bị chìm ngay trước mắt và ông bị mang nỗi oan “thấy chết không cứu” cho đến hết đời.

Vẫn là tàu California, lúc 23 giờ (40 phút trước thảm họa), Cyril Evans-nhân viên điện tín duy nhất của tàu này đã gửi cảnh báo về núi băng cho Titanic, nhưng do hai tàu quá gần nhau nên tín hiệu từ tàu California làm Jack Phillips-nhân viên điện tín Titanic, suýt thủng màng nhĩ. Mệt mỏi vì phải gửi điện tín cho khách, J. Phillips đã không tiếp nhận lời cảnh báo. Trong lúc tàu chìm, J. Phillips đánh điện cầu cứu nhưng khi đó C. Evans đã đi ngủ!

          Về nguyên nhân từ con người là do trong quá trình đóng tàu Titanic, người ta đã không lường được độ yếu của 3 triệu đinh tán trên vỏ tàu. Thử nghiệm khoa học chứng minh, do pha nhiều xỉ vào sắt khiến các đinh tán yếu và cú va quệt vào mạn phải Titanic dư sức làm gãy đinh tán và nước tràn vào gây chìm tàu.     



2. Những phát hiện khoa học đã “hồi sinh” lại Titanic, nhưng để Titanic bất tử trong văn hóa đại chúng phải nhờ bộ phim “Titanic” (1997) của đạo diễn James Cameron. Trong phim có nhiều chi tiết không đúng như thực tế, ví như độ nghiêng đuôi tàu không quá lớn từng khiến người xem phim hãi hùng. J. Cameron quyết không sửa lại trong bản 3D phát hành tháng 4 này, vì điều quan trọng là tính ẩn dụ của bộ phim vẫn còn giá trị thời sự. Tàu Titanic như một thế giới thu nhỏ, nếu không cẩn trọng dễ gặp thảm họa ngay trước mắt mà không thể tránh nổi, như chuyện thời sự biến đổi khí hậu trẻ em cũng biết. Một khi thảm họa xảy ra, chỉ có những người thuộc tầng lớp dưới lãnh đủ như trong phim hành khách vé hạng 2 và 3 không kịp đi lên thuyền cứu sinh.

Phim “Titanic” để lại ấn tượng sâu đậm nhờ mối tình lãng mạn giữa chàng Jack và nàng Rose, nhưng rút cuộc chỉ là hư cấu; nhưng ở vụ đắm tàu Titanic, tồn tại nhiều câu chuyện nhân văn gây xúc động được kể đi kể lại tận ngày nay. Titanic là một trong số ít tàu chìm có tỷ lệ phụ nữ và trẻ em được cứu sống cao hơn đàn ông và thủy thủ đoàn; nghĩa là việc ưu tiên phụ nữ và trẻ em trong điều kiện không đủ thuyền cứu sinh thay vì cảnh chen lấn thường thấy. Những người thợ máy sẵn sàng chết để cố gắng thoát nước giúp con tàu không bị chìm nhanh, nếu không số người sống chắc ít hơn 710 người. Ban nhạc 7 người trên tàu Titanic đã chơi bản thánh ca như lời cầu nguyện lúc tàu dần chìm. Và không thiếu những câu chuyện chia ly rơi lệ: Rất nhiều người vợ đã nhìn chồng lần cuối sau khi xuống thuyền cứu sinh, có người đàn ông chết mà không biết rằng vợ mình đang mang thai đứa con đầu lòng...



Tất cả các yếu tố hợp lại khiến Titanic có một lượng fan khổng lồ, và có thể Titanic lại “chìm” lần nữa do quá được yêu mến. Một tờ giấy ghi thực đơn bữa ăn cuối cùng trên tàu Titanic của một hành khách sống sót sau một thế kỷ có giá gần 2,5 tỷ đồng Việt Nam thì những di vật của tàu Titanic dưới biển còn đắt gấp bội. Nguy cơ bọn săn cổ vật làm hỏng xác tàu là điều hiển nhiên. Chưa kể, việc các tàu lặn phục vụ tham quan đáp xuống xác tàu cũng khiến xác tàu hư hại nhiều. Nhưng may mắn là trước thời điểm 100 năm Titanic bị đắm, xác tàu đã được đặt dưới sự bảo vệ của UNESCO thông qua Công ước bảo vệ di sản văn hóa dưới nước. Thêm vào đó, R. Billard-người phát hiện xác tàu đầu tiên đã đề nghị dùng những chú robot làm sạch vỏ tàu và dùng loại sơn đặc biệt chống ăn mòn. Những robot cũng sẽ làm nhiệm vụ bảo vệ khi các tàu lặn muốn tiếp cận xác tàu bất hợp pháp. Vậy là, sau một thế kỷ của bi kịch mang tên Titanic là một cái kết có hậu!

          HÀM ĐAN

Thứ Tư, 11 tháng 4, 2012

HỘI THẢO KHOA HỌC “NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ PHÊ BÌNH VĂN HỌC”: SÔI NỔI HIẾN KẾ


Hội thảo mang tầm chiến lược

Ngày 10-4, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương (LLPBVHNTTƯ) phối hợp cùng Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng, hiệu quả phê bình văn học”. Đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước đã tới dự. Đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương tới dự và chỉ đạo Hội thảo. Nhiều nhà phê bình văn học nghệ thuật trong nước tham dự và bàn luận về những vấn đề “nóng” của phê bình văn học hôm nay.

Phát biểu tại Hội thảo, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao việc tổ chức hội thảo quan trọng này. Chủ tịch nước gợi ý, Hội đồng LLPBVHNTTƯ cần sớm ra mắt tạp chí chuyên đề để làm diễn đàn trao đổi lý luận định hướng sự phát triển đúng hướng của văn học nghệ thuật đất nước theo tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết 23 về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới” của Bộ Chính trị khóa X. Các thành viên Hội đồng cần tập hợp ý kiến, mạnh dạn đề xuất những chính sách phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của văn học nghệ thuật nói chung và phê bình văn học nói riêng.

Về vai trò của phê bình văn học, đồng chí Đinh Thế Huynh nêu rõ: Phê bình văn học là một bộ phận cấu thành của đời sống văn học, của quá trình vận động và phát triển văn học. Phê bình văn học giữ vai trò vừa đồng hành với sáng tác để hiểu và đồng cảm với sáng tác, vừa góp phần rất quan trọng trong việc đánh giá, dự báo, góp phần định hướng cho sáng tác và cho dư luận. Phê bình văn học không chỉ là tiếng nói của các nhà phê bình, mà ở những tầm mức khác nhau, còn phản ánh thái độ, ý thức của công chúng xã hội đối với những giá trị và khuynh hướng văn học, nêu lên những đòi hỏi chính đáng của công chúng, của xã hội đối với các nhà văn, nhà thơ, với cả nền văn học và những tác phẩm văn học cụ thể.

Đánh giá của Hội đồng LLPBVHNTTƯ cho rằng: Hơn 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khóa X, nhiều cuộc hội thảo đã được tổ chức nhằm thảo luận những vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn để kiến nghị những giải pháp thiết thực nhằm góp sức thúc đẩy phê bình văn học có bước phát triển tích cực. Bên cạnh một số kết quả tích cực, phê bình văn học hiện nay còn nhiều mặt yếu kém. Điều này biểu hiện trên các phương diện: Phê bình văn học chưa bám sát được sự phong phú của đời sống văn chương sôi động, chưa định hướng cho độc giả tìm đến những tác phẩm có giá trị. Tìm ra nguyên nhân sự tụt hậu của phê bình văn học rất quan trọng, song trọng tâm của Hội thảo là tìm lời giải cho câu hỏi: Cần làm gì và và làm như thế nào để khắc phục thực trạng trên? Với mục tiêu như vậy, có thể xem Hội thảo lần nay là hội thảo mang tầm chiến lược giúp định hướng cho phê bình văn học phát triển đúng đắn.

Nhìn thẳng vào yếu kém

Việc chỉ ra nguyên nhân dẫn đến yếu kém của phê bình văn học hiện nay không khó. Ngay cả một người không chuyên môn cũng nhận ra đời sống tinh thần ở nước ta đang dần chuyển sang văn hóa đại chúng. Theo PGS, TS La Khắc Hòa (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), xu hướng nói trên là tất yếu bởi thời đại hôm nay văn hóa đại chúng ở vị trí trung tâm, nó sẽ đẩy những hoạt động như phê bình văn học sang vị trí ngoại vi.

Khó khăn khách quan nói trên không chỉ có ở Việt Nam mà đó là hiện tượng mang tính toàn cầu. Nguyên nhân chính khiến phê bình văn học yếu kém được các chuyên gia đồng tình là ở vấn đề con người. Đã đành, ở thời nào những người làm công việc nghiên cứu đều là “của hiếm” song chưa bao giờ số người làm phê bình văn học lại mỏng như hiện nay. Ngoài yếu tố đam mê, để trở thành nhà phê bình văn học cần một quá trình tích lũy kiến thức khá lớn không chỉ văn chương mà cả các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác. Sự khó khăn tự thân của phê bình văn học khiến nhiều cây bút trẻ nản lòng dấn thân vào nghề nghiệp. Điều đáng quan ngại hơn là chất lượng những người làm phê bình hiện nay, nhất là đội ngũ trẻ còn yếu. PGS, TS Phạm Quang Trung (Trường Đại học Đà Lạt) lấy ví dụ từ các bài phê bình văn học trên báo chí có chất lượng thấp do những người chịu trách nhiệm giới thiệu tác phẩm văn học hay nhìn nhận vấn đề văn học thường không có chuyên môn dẫn đến những bài phê bình cảm tính gây nhiễu loạn các giá trị thẩm mỹ.  

Các nguyên nhân khác cũng được đề cập đến như: Chính sách đãi ngộ cho những người làm phê bình văn học còn chưa tương xứng với công sức bỏ ra. TS Lê Thanh Nghị (Hội Nhà văn Việt Nam) còn chỉ ra một nguyên nhân khác là hiện tượng một số nhà phê bình có năng lực nhưng ngại va chạm, không muốn làm mất lòng người khác nên đứng ngoài cuộc trước những vấn đề bức xúc trong đời sống văn học.

Những nguyên nhân nói trên đã dẫn đến chất lượng khoa học và tính chuyên nghiệp của phê bình văn học bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính, thiếu một hệ thống tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm. Không thể một sớm một chiều giải quyết những bất cập của phê bình văn học hiện nay; song nếu không hành động ngay từ bây giờ, một nền phê bình văn học yếu kém sẽ trực tiếp làm giảm năng lực tiếp nhận cái hay, cái đẹp của người đọc.

Gợi mở nhiều giải pháp

Một trong những giải pháp lâu dài nhưng hết sức quan trọng được các chuyên gia lưu tâm là phải xây dựng một nền phê bình văn học có tính hệ thống thông qua việc dịch và giới thiệu các lý thuyết phê bình trên thế giới. Từ khi Đổi mới đến nay, nhiều lý thuyết phê bình văn học đã được giới thiệu ở Việt Nam như: Chủ nghĩa hình thức (Formalism), Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism), Phân tâm học (Psychoanalysis)..., đã thay đổi hệ hình phê bình khiến phê bình khoa học hơn, lý giải sâu sắc hơn các hiện tượng văn học mới mẻ và tái phát hiện đối tượng tưởng chừng đã cạn kiệt ý nghĩa. Bên cạnh tiếp tục giới thiệu các lý thuyết phê bình văn học tiên tiến của thế giới như: Nữ quyền luận (Feminism), Giải cấu trúc (Deconstruction), Tân duy sử (New Historicism), Hậu hiện đại (Postmodernism)...; còn cần phải dịch các công trình mang tính tổng kết các trường phái để người làm phê bình văn học có cái nhìn hệ thống tri thức một cách nhanh và hiệu quả, giúp cho lớp trẻ đi vào con đường phê bình văn học dễ dàng hơn; đồng thời, giúp phê bình văn học nước nhà khỏi nguy cơ tụt hậu ở cấp độ tư duy, nhận thức, tri thức. Khối lượng công việc khổng lồ nói trên cần có sự chung tay của các cá nhân và tổ chức dựa trên sự ủng hộ về tinh thần và vật chất của Nhà nước mới sớm trở thành hiện thực.

Việc quy hoạch đội ngũ, bố trí lực lượng phê bình văn học được chính những người trong cuộc xem là giải pháp đột phá cần giải quyết nhanh chóng. Đối tượng được tập trung ưu tiên là các nhà phê bình trẻ. Đa số các ý kiến đều cho rằng, nguồn nhân lực trẻ cho phê bình vẫn nằm ở trong các khoa ngữ văn ở các trường đại học. Trên cơ sở rà soát lại lực lượng, có kế hoạch đào tạo lại một cách có hệ thống thông qua hình thức cung cấp thông tin, vừa tiến hành thảo luận những vấn đề cơ bản, thời sự của văn học, bồi dưỡng lớp trẻ trở thành lực lượng nòng cốt trong tương lai. GS, TS Mai Quốc Liên (Tổng biên tập Tạp chí Hồn Việt) nêu ý kiến: Cần lựa chọn những người có am hiểu về văn học để phụ trách biên tập các trang, mục, chương trình liên quan đến văn học trên các phương tiện truyền thông đại chúng; đồng thời bồi dưỡng họ vững vàng về mặt chính trị giúp họ nâng cao trách nhiệm trong công việc.

Một giải pháp khác được các đại biểu nhất trí cao là phải hình thành Quỹ hỗ trợ phê bình văn học để trợ giúp các hội thảo và in ấn sách phục vụ công tác phê bình. Cần hỗ trợ cụ thể về kinh phí những công trình phê bình văn học nghiêm túc, có giá trị khoa học, có phát hiện mới mẻ để sớm đến được với công chúng.

Sau cuộc Hội thảo này, Hội đồng LLPBVHNTTƯ sẽ đưa các kiến nghị cụ thể đến các cơ quan chức năng như: Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, một số viện nghiên cứu, trường đại học... để các giải pháp nhanh chóng được thực hiện và phát huy hiệu quả giúp chấn hưng phê bình văn học nước nhà.

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

"BA ƠI, MÌNH ĐI ĐÂU?"


Có những tác phẩm văn chương chỉ nên đọc một lần, không phải vì chất lượng tác phẩm không đáng để lần giở lại mà vì sức ám ảnh quá lớn, không mấy người có dũng khí đọc lần thứ hai. Như tiểu thuyết “Ba ơi, mình đi đâu?” (Phùng Hồng Minh dịch, NXB Hội Nhà văn, 2009) của nhà văn Pháp Jean-Louis Fournier chẳng hạn; đọc xong, nhiều người sẽ để nó trên giá sách và chuyển sang đọc một cuốn sách khác để nhanh chóng tạm quên những ám ảnh mà cuốn sách đem lại.

Không ám ảnh sao được khi “Ba ơi, mình đi đâu?” là lời tự thuật của người cha viết cho hai đứa con trai bị bệnh thiểu năng và dị tật bẩm sinh khiến chúng vừa ngu ngơ vừa không thể vận động được. Người cha trong cuốn tiểu thuyết chính là tác giả J. L. Fournier vì ngoài đời thực ông có hai đứa con trai tật nguyền. J. L. Fournier là một nhà văn kiêm đạo diễn điện ảnh nổi tiếng; sau nhiều năm, ông mới viết về hai đứa con tật nguyền vì nghệ thuật làm bất tử hóa bất cứ hình tượng nào: “Một cuốn sách ba viết cho các con. Để không ai quên được các con, để các con không chỉ hiện hữu trên một bức ảnh trong tấm thẻ chứng nhận tật nguyền”.

Đọc tiểu thuyết mỏng hơn 150 trang này, khó ai có thể quên bi kịch giáng xuống nhân vật người cha J. L. Fournier mà ông phải tự nhận: “Tôi có tới hai ngày tận thế”. Đó là hai ngày mà Mathieu và Thomas ra đời, cả hai lần bác sĩ đều thông báo hai đứa trẻ vĩnh viễn không phát triển bình thường. Khi rơi vào bi kịch, theo bản năng người viết dễ sa vào giọng oán hờn; nhưng ngược lại “Ba ơi, mình đi đâu?” viết bằng giọng văn “hài hước đen” né tránh ủy mị. Đó là điều cốt yếu khiến cuốn tiểu thuyết trở nên độc đáo khi tác giả cười trên nỗi đau khổ của chính bản thân.

Gần như trong trang sách nào, J. L. Fournier đều kể lại những điều hài hước trong nhiều năm chăm sóc hai đứa con tật nguyền: “Mathieu luôn phát ra những tiếng “brừm-brừm” từ miệng. Thằng bé nghĩ mình là một chiếc ô tô... Đã nhiều lần tôi phải yêu cầu nó tắt ngay động cơ nhưng vô ích... Tôi không thể ngủ, ngày hôm sau tôi phải dậy sớm... Tôi tự an ủi mình bằng suy nghĩ ngay cả những đứa trẻ bình thường cũng khiến cha mẹ chúng mất ngủ. Thật đáng đời họ”. Thường thì cái cười là khởi điểm nhưng kết thúc của một tình huống lại là sự cay đắng cho người cha và cho chính người đọc: “Mới đây, tôi gặp một chuyện rất xúc động. Mathieu đã say sưa đọc một cuốn sách. Tôi lại gần, vô cùng hồi hộp. Nó cầm quyển sách ngược”.   

Sự lặp đi lặp lại một cách viết dưới cùng một góc nhìn không làm độc giả cảm thấy nhàm chán vì “Ba ơi, mình đi đâu?” là tiểu thuyết viết dưới hình thức thư. Hình thức thư đưa đến cho độc giả một nghệ thuật kể chuyện bông lơn và cách diễn đạt hóm hỉnh tinh tế. Hơn nữa, thư vốn là hình thức linh hoạt nên sẽ giúp người kể chuyện thoải mái trong suy nghĩ, vượt mọi khoảng cách về không gian và thời gian mà không làm tổn hại đến trình tự diễn biến của cốt truyện.


J. L. Fournier đã tiếp nối truyền thống các tiểu thuyết viết bằng thư từ các nhà văn trước như: “Nàng Héloise tân thời” của Jean-Jacques Rousseau (1712-1778), “Những mối quan hệ nguy hiểm” của Pierre Choderlos de Laclos (1741-1803), “Alexis hay thỏa ước của trận chiến vô nghĩa” của Marguerite Yourcenar (1903-1987)… Việc tìm đến với hình thức viết thư có thể xem là tất yếu trong lựa chọn “cái biểu đạt” cho nội dung “Ba ơi, mình đi đâu?” vì kỹ thuật viết thư cho phép mang lại sự hư cấu tưởng tượng một bề ngoài chân thực nói như nhà phê bình Thụy Sĩ Jean Rousset (1910-2002) trong tiểu luận “Hình thức và ý nghĩa” (1963): “Tiểu thuyết dưới hình thức thư làm cho người đọc gần gũi với tình cảm đã trải nghiệm đúng như người ấy đã sống”. Cho nên, dù là người ngoài và không tận mắt chứng kiến cuộc sống của người cha với hai đứa con tật nguyền nhưng chẳng ai sau khi đọc cuốn sách có thể nghi ngờ về sự tự nhiên trong cảm giác hài hước lẫn cay đắng hòa làm một của người cha trong tiểu thuyết.

Viết thư khiến người ta có thể suy ngẫm, và có thể sửa chữa những thiếu sót khuyết điểm của mình như nhân vật người cha sám hối với hai đứa con: “Thường thì ba không chịu đựng nổi các con, thật khó để có thể thương yêu các con. Với các con, cần phải có lòng kiên nhẫn vô tận của một thiên thần, mà ba thì không phải thiên thần”.   

“Ba ơi, mình đi đâu?” là một cuốn sách của những câu chuyện giản dị nhưng ý nghĩa khái quát sâu nhất của tác phẩm lại đụng đến câu hỏi bản thể muôn đời: Ta từ đâu đến? Làm gì? Đi đâu? Nó giống như câu hỏi thường trực của cậu bé tật nguyền Thomas hỏi người cha: “Ba ơi, mình đi đâu?”. Người cha chỉ còn cách im lặng: “Đến lần hỏi thứ mười “Ba ơi, mình đi đâu?” thì tôi không trả lời nữa... Ba cũng chẳng biết rõ chúng ta đi đâu, Thomas tội nghiệp của ba à”.

          “Một cuốn sách hướng con người đến cái thiện”-Christine Jordis (Trưởng ban giám khảo giải Fémina) đã phát biểu như vậy sau khi “Ba ơi, mình đi đâu?” được trao giải thưởng danh giá Fémina năm 2008. Không chỉ trở thành tâm điểm của mùa sách văn học Pháp 2008, mà kể từ khi ra đời, kiệt tác nhỏ đầy tính nhân bản này đã được đọc và được yêu thích khắp thế giới.

          HÀM ĐAN

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

CÙNG BÀN LUẬN (VIII): XÂY DỰNG QUY CHẾ CHẨN ĐOÁN VÀ CHỮA BỆNH TỪ XA

Trong phiên họp thứ 6 Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 13 mới đây, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến trả lời chất vấn cho biết: Phấn đấu đến 2015, việc giải quyết tình trạng quá tải bệnh viện sẽ có bước tiến rõ nét. Trong khi chờ lời hứa từ Bộ Y tế trở thành sự thực, một hy vọng góp phần làm giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên được mở ra khi Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Sở Y tế TP Hồ Chí Minh chính thức vận hành hệ thống chẩn đoán và chữa bệnh từ xa.

Hệ thống chẩn đoán và chữa bệnh từ xa được triển khai dựa trên thiết bị MCU (thiết bị hỗ trợ điều khiển hội nghị truyền hình đa điểm) và sử dụng đường truyền MegaWan của mạng MetroNet TP Hồ Chí Minh. Hiện tại, hệ thống này được lắp đặt tại 3 bệnh viện tuyến hỗ trợ gồm: Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Nhi Đồng 1, Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình. Các bệnh viện này sẽ hỗ trợ chuyên môn cho các tuyến cơ sở gồm: Bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi (TP Hồ Chí Minh), Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, Bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiểu (Bến Tre), Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang, Bệnh viện đa khoa Kiên Giang.

Trước đây, ở nhiều bệnh viện tuyến trên mới chỉ có hình thức chẩn đoán bệnh từ xa thông qua điện thoại nhưng hiệu quả không cao. Nay, thông qua hệ thống, các bác sĩ tuyến trên có thể xem trực tiếp hình ảnh của bệnh nhân để tư vấn, đưa ra hướng giải quyết chính xác. Điển hình cho hiệu quả hệ thống là Bệnh viện Nhi Đồng 1 đã giúp Bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiểu cứu sống một ca mắc bệnh tay chân miệng độ 4 không kịp chuyển lên bệnh viện tuyến trên.

Không chỉ giúp các bác sĩ tuyến cơ sở yêu cầu được tư vấn, hỗ trợ khi gặp bất cứ ca bệnh khó, vượt quá khả năng chuyên môn mà hệ thống cũng có thể sử dụng trong huấn luyện, đào tạo theo định kỳ hoặc đột xuất cho các đơn vị tuyến dưới để phục vụ tốt hơn bệnh nhân ở cơ sở. Qua đó, góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên tại TP Hồ Chí Minh khi mà hiện tại khoảng 30 đến 50% bệnh nhân điều trị nội trú là từ tỉnh khác chuyển lên.

Trong thời gian tới, hệ thống sẽ tiếp tục hoàn chỉnh và mở rộng, có thể nâng số bệnh viện hỗ trợ lên 11 và số tuyến nhận hỗ trợ lên 100 tuyến. Lợi ích hệ thống chẩn đoán và chữa bệnh từ xa đã rõ và có thể nhân rộng cả nước; tuy nhiên các cơ quan chức năng vẫn chưa xây dựng được cơ sở pháp lý quy định quyền lợi cũng như trách nhiệm của các bên liên quan. Người bệnh với những đặc tính sinh học vốn thay đổi nên khó đảm bảo tất cả các ca chẩn đoán, chữa bênh từ xa đều thành công mỹ mãn. Một ca mổ ở tuyến dưới, các bác sĩ ở tuyến trên nhìn qua màn hình chỉ đạo, nếu chuyện không may xảy ra thì trách nhiệm thuộc về ai? Vậy nên, song song với mở rộng hệ thống, các bên liên quan cần sớm xây dựng quy chế để trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt nhằm vận hành hệ thống hiệu quả nhất. 

HÀM ĐAN