Thứ Hai, 17 tháng 10, 2011

NOBEL VĂN HỌC 2011: NHÀ THƠ CỦA NHỮNG THAO THỨC SIÊU HÌNH



1. Vào mỗi mùa trao giải Nobel, Nobel Văn học luôn là giải thưởng tạo ra nhiều sự tranh cãi. Ngoài lí do văn chương luôn có những đánh giá khác nhau dựa trên nhiều cách đọc; giải thưởng Nobel còn tạo hay trao cho những gương mặt quá mới mẻ như Cao Hành Kiện (Nobel 2000), Herta Muller (Nobel 2009) hoặc những người dính líu đến chính trị như Orhan Pamuk (Nobel 2006).  

Chính vì sự khó lường nên không chỉ được những người trong nghề theo sát từng giờ mà còn là dịp để… dân cá cược trổ tài! Hai ngày trước giờ công bố giải thưởng, nhiều người đã tin tưởng đổ tiền để đưa nhà thơ Adonis (Xi-ri) lên đầu bảng với tỷ lệ cá cược là 4/1. Adonis được đặt nhiều kỳ vọng vì từ lâu ông được đánh giá là nhà thơ viết bằng ngôn ngữ Ả-rập quan trọng nhất; mặt khác, Adonis được “tiếng thơm” khi lên tiếng phê phán chính phủ Xi-ri không nên đàn áp người biểu tình.

Một nhà văn khác luôn đứng đầu danh sách dự đoán là Haruki Murakami (Nhật Bản) với tỷ lệ 8/1. Tuy nhiên, tác giả tiểu thuyết Rừng Na Uy thuộc kiểu nhà văn ăn khách thường không được Viện Hàn lâm Thụy Điển để ý. Một dạng nhà văn khác cũng không được dân cá cược tin tưởng đó là những nhà văn cách tân mà đại diện là Thomas Pynchon-tác giả tiểu thuyết Cầu vồng của trọng lực.

Trường hợp nhà thơ Tomas Tranströmer của nước chủ nhà Thụy Điển được xem là có nhiều biến động kỳ lạ tại nhiều hãng cá cược. Lúc đầu, ông ở vị trí cao với tỷ lệ cá cược ở tầm 7/1. 10 tiếng trước khi công bố giải thưởng, ông bị văng ra khỏi tốp 5-điều mà chẳng mấy người ngạc nhiên vì quy luật trên đã diễn ra nhiều năm. Nhưng bất ngờ 7 giờ đồng hồ sau, dân cá cược khắp nơi dồn tiền vào cái tên Tomas Tranströmer khiến ông vọt lên đầu bảng. Và vào lúc 13 giờ (tức 18 giờ theo Việt Nam) ngày 6-10, Peter Englund-Thư ký thường trực của Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố: Tomas Tranströmer là người đoạt giải Nobel văn học 2011.

2. Dân cá cược dồn tiền vào cái tên Tomas Tranströmer sát giờ công bố giải xuất phát từ những suy luận logic: Giải năm nay đã được dự đoán sẽ trao cho một nhà thơ vì kể từ Wisława Szymborska (Nobel 1996) chưa nhà thơ nào được vinh danh. Nếu là nhà văn Thụy Điển thì kể từ năm 1974 khi bộ đôi nước chủ nhà là Eyvind Johnson và Harry Martinson ẵm giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển chưa trao cho những người đồng hương thêm một lần nào. Mặt khác, nếu trao giải cho Adonis, Viện Hàn lâm Thụy Điển gần như công khai ủng hộ làn sóng cách mạng “Mùa xuân Ả-rập” vẫn còn nóng bỏng, qua đó tạo ra những tranh cãi không cần thiết. Mấy yếu tố trên chỉ là phụ, cái chính là sự nghiệp thơ của Tomas Tranströmer đã được khẳng định với toàn thế giới khi thơ ông được dịch ra hơn 60 ngôn ngữ khác nhau và vô số các giải thưởng văn học quan trọng như: Giải Aftonbladets, Giải Bonnier cho thơ, giải Neustadt, giải Petrarca-Preis… Vì vậy, Nobel năm nay là một Nobel xứng đáng và sẽ không gây ra sự tranh cãi.

Tiểu sử cuộc đời của Tomas Tranströmer sẽ không làm nhiều người ưa chuyện giật gân thích thú. Ông không phải là mẫu nhà văn thích xê dịch như Jean-Marie Gustave Le Clézio (Nobel 2008) hay tham gia hoạt động chính trị như Mario Vargas Llosa (Nobel 2010)…, cả đời ông làm việc trong ngành tâm lý học (chuyên nghiên cứu tội phạm vị thành niên) và lặng lẽ sáng tác thơ. Đến ngay như quan niệm làm thơ của ông cũng rất giản dị: “Viết một bài thơ chẳng bao giờ dễ dàng, nhưng khi có thể viết được, thì đó là một thứ tâm trạng vui chơi nhưng đồng thời lại nghiêm túc”. 

Tomas Tranströmer sinh ngày 15-4-1931 tại thủ đô Stockholm, trong một gia đình trí thức (bố là nhà báo và mẹ là giáo viên). Ông bén duyên với thơ ca từ khi còn học phổ thông với nhiều bài thơ xuất hiện trên các báo. Thi tài của ông được khẳng định ở quê nhà ngay từ tập thơ đầu tiên mang tên 17 bài thơ (1954). Các tập thơ tiếp theo khẳng định Tomas Tranströmer là nhà thơ Bắc Âu vĩ đại nhất còn sống. Tên tuổi của ông cũng sớm vượt ra ngoài biên giới Thụy Điển nhờ bản dịch tiếng Anh của nhà thơ Mỹ Robert Bly và nhanh chóng được xem như như một bậc thầy thơ ca. Nhà thơ Joseph Brodsky (Nobel 1987) ca ngợi Tomas Tranströmer: “Nhà thơ có tầm quan trọng bậc nhất, có sự thông minh không thể tưởng tượng nổi… Tôi đã đánh cắp hơn một ẩn dụ của ông”.

Sức hút của Tomas Tranströmer sớm lan đến các nhà thơ-dịch giả Việt Nam biết đến từ những năm 1980. Đặc biệt, cuốn sách: Toàn tập thơ: Mười một tập (1954-1996) dày hơn 300 trang của Tomas Tranströmer đã được nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh (N.X.S) chuyển ngữ từ tiếng Pháp do NXB Văn học ấn hành năm 2000 với sự đồng ý của tác giả và sự tài trợ của Viện Thụy Điển ở Stockholm. Một số bài thơ trong cuốn sách này cũng được trichs trong cuốn Thơ Thụy Điển (NXB Hội nhà văn, 2009).

3. Thành thực mà nói, để nắm bắt đầy đủ nghệ thuật thơ Tomas Tranströmer phải là một người biết tiếng Thụy Điển. Do quá trình dịch thơ nên tính nhạc trong thơ Tomas Tranströmer bị mất đi rất nhiều. Tuy nhiên, những gì còn lại, nhất là cách ông nhìn con người và thế giới vẫn đủ giúp người đọc hình dung về một tài năng thơ ca hiếm có. Lời nhận xét của Viện Hàn lâm Thụy Điển có thể xem là một dẫn nhập hữu ích để tiến vào thế giới thơ Tomas Tranströmer: “Qua những hình ảnh súc tích và trong mờ, ông đưa chúng ta tiệm cận sự mới mẻ của hiện thực. Ông viết về những vấn đề lớn: Về cái chết, lịch sử, ký ức, thiên nhiên. Bạn không bao giờ cảm thấy nhỏ bé sau khi đọc thơ của Tomas Tranströmer”. Tuy hình thức thơ Tomas Tranströmer thay đổi theo thời gian nhưng tựu chung ông luôn là người đổi mới ngôn ngữ thơ ở hình tượng thông qua phép ẩn dụ. Nhờ vậy, mỗi hình ảnh được đổi mới sẽ gián tiếp giúp người đọc có cái nhìn mới mẻ, trong sáng, hồn nhiên và sống động trước một sự vật hay sự việc tưởng chừng đã được thấu hiểu.

Ở giai đoạn đầu sự nghiệp, nhất là tập thơ đầu tay, Tomas Tranströmer ưa thích hình thức thơ cổ điển có vần luật với sự miêu tả đầy lãng mạn, qua giọng thơ thể hiện sự chính xác của cảm quan, chẳng hạn như bài thơ Ostinato (Thuật ngữ âm nhạc chỉ sự lặp lại nhạc điệu giọng trầm):

Dưới cái điểm bất động của xác thuyền đắm giạt vào bờ, đại dương vung vẩy và gầm lên trong ánh sáng, mù quáng gặm hết dãy hàng rào cỏ biển, và thổi phả bọt sóng vào bờ.

Mặt đất tự bao phủ mình bằng lớp dày bóng tối đàn dơi bay đo chiều dài bằng tầm cánh bay. Xác thuyền đắm đứng im và tự biến thành ngôi sao. Đại dương tiến về phía trước vừa gầm rú vừa thổi bọt sóng vào bờ. (N.X.S dịch).

Song, ở những tập thơ tiếp theo, Tomas Tranströmer có sự chuyển đổi thi pháp theo hơi hướng của chủ nghĩa siêu thực (surréalisme) với những hình ảnh tân kỳ xuất lộ từ tiềm thức. Chủ nghĩa siêu thực được chủ soái của phong trào là nhà thơ Pháp André Breton (1896-1966) định nghĩa trong Tuyên ngôn chủ nghĩa siêu thực lần thứ nhất là: “Cơ chế tự động của tâm lý thuần khiết dùng để diễn đạt hoạt động đích thực của tư tưởng hoặc bằng ngôn từ, hoặc bằng chữ viết, hoặc bằng các cách thức khác. Được tư tưởng xui khiến, vắng mặt mọi sự kiểm soát của lý trí, ngoài mọi thành kiến mỹ học và đạo đức”. Vốn là nhà tâm lý chuyên nghiệp, Tomas Tranströmer thừa nhận ảnh hưởng từ tiềm thức đến công việc sáng tạo của mình: “Mọi thứ đều đến từ bên trong, từ tiềm thức. Đó là cái nguồn của mọi thứ. Tôi có nhiều phương tiện để đáp ứng với những gì tôi nhận được từ nội tâm, nhưng tôi không bao giờ bảo chính mình phải viết về một điều gì đó”. Đọc những câu thơ như: Tảng nước đá treo ở bờ mái nhà/ Băng giá: kiến trúc gôtic bị đảo ngược/Những con vật trìu tượng, những vú bằng kính. (bài thơ Sáu mùa đông, N.X.S dịch), dễ nhận ra một lối viết gần với lối viết tự động (écriture automatique) với sự liên kết tự do các ý tưởng, sử dụng các hình ảnh như là biểu tượng theo lối tư duy tiền logic. Song, dù có tân kỳ bao nhiêu, ông vẫn giữ được sự trong sáng, độ sâu sắc ba chiều hiếm có của hình ảnh rút ra từ cách nhìn sâu vào đối tượng. Và để diễn đạt hình ảnh từ trong tiềm thức khá khó khăn như lời ông tự nghiệm: “Có khi hình ảnh hiện rõ một điểm cố định với những con chữ chính xác để diễn tả. Nhưng đôi khi, nó đến như một hình ảnh mà ngôn từ bất lực và tôi phải vất vả để làm chữ”.

Cũng chính ở giai đoạn này, thơ của Tomas Tranströmer bắt đầu hình thành tư tưởng rõ rệt. Có thể xem, Tomas Tranströmer là nhà thơ của những thao thức siêu hình, tương tự như suy nghĩ của nhà triết học người Đức Immanuel Kant (1724-1804): “Hai điều tràn ngập tâm tư với sự ngưỡng mộ và kính sợ luôn luôn mới mẻ và gia tăng mỗi khi nghĩ đến, đó là: Bầu trời đầy sao trên đầu tôi và quy luật luân lý ở trong tôi” (Phê phán lý tính thực hành, NXB Tri thức, 2007). Đối với ông, con người là bí ẩn, tự nhiên là một dạng câu đố cần giải mã, cái thực và hiện tồn là những điều huyền bí. Như vậy, thơ của ông để chiêm nghiệm những vấn đề bản thể của con người và thiên nhiên.
          
Theo thông lệ trao giải Nobel, tháng 12 tới Tomas Tranströmer sẽ đọc một diễn từ, nhưng với di chứng của đột qụy từ năm 1990 ông liệt nửa người nên không thể tự mình nói lên suy nghĩ về văn chương và cuộc đời. Có thể, nhà thơ thuở thiếu thời ước mơ làm một nhạc sĩ sẽ chơi dương cầm bằng tay trái, thay vì đọc một diễn từ. Và lúc đó, ông sẽ lại đắm mình vào ký ức tuổi hai mươi-cái tuổi khởi đầu của 17 bài thơ êm dịu như những bản đàn!

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2011

CÙNG BÀN LUẬN (IV): "NHÀ TRƯỜNG THẤT BẠI THÌ CẢ XÃ HỘI THẤT BẠI"

Ngày 10-10 là hạn chót để các trường đại học, cao đẳng hoàn tất việc nhận hồ sơ xét tuyển nguyện vọng 3 đã trôi qua. Tuy nhiên, nhiều ngành học ở hàng loạt trường đại học, cao đẳng đã lâm vào tình trạng không tuyển đủ chỉ tiêu, dẫn đến việc phải đóng cửa.

Nguyên nhân dẫn đến thảm cảnh trên nằm ở cơ chế “một cửa” quá thông thoáng khiến việc mở nhiều ngành học mới quá dễ dàng. Thêm vào đó, khâu hậu kiểm còn “lỏng”, dẫn đến những kẽ hở để các trường đại học, cao đẳng không thực hiện đúng những cam kết về chất lượng đào tạo.

Trình trạng “cung đã vượt cầu” quá nhanh khiến ngày “sập tiệm” của một số trường đại học ngoài công lập đến sớm hơn, và các nhà đầu tư bắt đầu hiểu rằng: Giáo dục không phải là lĩnh vực dễ hốt bạc như tưởng tượng! Nhưng chịu thiệt thòi nhiều hơn là những sinh viên đã và đang học ở các ngành mới mở. Cơ sở vật chất của trường chủ yếu đều đi thuê nên không đảm bảo được khâu thực hành. Giáo trình được soạn một cách vội vàng, nặng tính lý thuyết mà không có tính ứng dụng, khiến cho các sinh viên ra trường không đủ năng lực để hoàn thành công việc. Cá biệt, nhiều sinh viên sau khi ra trường lâm vào tình cảnh thất nghiệp. Nhưng xét rộng ra, thiệt hại lớn nhất chính là đất nước đã bỏ lỡ một cơ hội để hình thành một đội ngũ nhân lực chất lượng cao, khiến cho việc phát triển kinh tế-xã hội sẽ gặp không ít khó khăn. Mối quan hệ nhân-quả này đã được nhà nhà nghiên cứu giáo dục Phạm Anh Tuấn chỉ rõ: “Nhà trường thất bại thì cả xã hội thất bại”.  

Mới đây, Bộ Giáo dục đào tạo đã ban hành Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT ngày 17-2-2011: “Quy định điều kiện, hồ sơ, quy trình mở ngành đào tạo, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng”. Thông tư này đã có những điều khoản bắt buộc để mở ngành đào tạo và có quy trình kiểm tra và xác nhận các điều kiện thực tế về độ ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và chương trình đào tạo. Đây có thể xem là bước sửa sai đúng lúc và đáng hoan nghênh nhưng vẫn chỉ là giải pháp mang tính tạm thời.

Về lâu dài, giáo dục đại học cần có một chiến lược lâu dài xuất phát từ một triết lý giáo dục phục vụ cộng đồng. Những người có ý định mở một ngành học mới cần phải tránh tư duy “thương mại hóa”. Giáo dục là để nâng cao trình độ nhân lực, góp phần phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước chứ bản chất của giáo dục không phải là một hoạt động kinh doanh thuần túy. Vì vậy, các trường đại học, cao đẳng cần phải khảo sát nhu cầu nhân lực mà các địa phương đang cần, tránh tình trạng đào tạo tràn lan kiểu “sống chết mặc bay” làm lãng phí nhân lực đã được đào tạo. Các trường đại học cần phải được phần tầng hợp lý để chia sẻ trách nhiệm đào tạo. Không thể để tình trạng một như ở tỉnh nọ, một ngành đã đủ biên chế ở địa phương là “sư phạm tiểu học” mà hai trường đại học trong tỉnh đó vẫn cứ tuyển sinh hàng năm, trong khi tỉnh đó lại thiếu các giáo viên mầm non, ngoại ngữ và tin học. Giáo dục đại học cần tập trung vào các ngành công nghệ cao, bởi dù có nhập công nghệ hiện đại nhưng không có người sử dụng thì hiệu quả sản xuất không thể đạt mức tối đa. 

Từ nay đến năm 2020-cái mốc hoàn thành mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không còn bao lâu, yếu tố con người là cái gốc của mọi thành công; chính vì vậy, nền giáo dục đại học cần có những thay đổi triệt, hoàn thành trọng trách đáp ứng đủ nhân lực chất lượng cao để giúp đất nước phát triển bền vững.

HÀM ĐAN

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

ĐẠI HỘI THÀNH LẬP HỘI KIỀU HỌC VIỆT NAM: "ĐƯỜNG XA NGHĨ NỖI SAU NÀY MÀ KINH"


Theo dự kiến, vào ngày 14-10 tới đây, Đại hội thành lập Hội Kiều học Việt Nam sẽ diễn ra tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam (Hà Nội) với sự tham gia của gần 300 hội viên sáng lập. Sự kiện này có thể xem một điểm sáng cho sinh hoạt khoa học văn chương vốn lâu nay trầm lắng.

1. Chúng tôi đến tìm nhà riêng TS Phan Tử Phùng (Trưởng ban vận động thành lập Hội Kiều học Việt Nam) ở số 2-Q37 Nguyễn An Ninh (Hà Nội) và được ông cho biết ngôi nhà này cũng là nơi đặt trụ sở tạm thời của Hội. Chưa có một trụ sở riêng với tiện nghi đầy đủ, có thể nhận ra sự khó khăn về kinh phí mà Hội đang gặp phải.

Tuy nhiên, TS Phùng tỏ ra lạc quan với vấn đề khó khăn tài chính bởi ông cho rằng khó khăn lớn nhất là Nhà nước cho phép Hội thành lập đã được giải quyết. Ông Phùng cho biết, Hội Kiều học được Bộ nội vụ cho phép thành lập theo quyết định số 1400/QĐ-BNV vào ngày 14-7-2011. Quyết định này chính thức kết thúc quá trình gần 3 năm ông Phùng cùng 13 người khác trong Ban vận động thành lập Hội làm hồ sơ xin phép Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch; và bổ sung thêm văn bản ý kiến của một loạt các cơ quan tổ chức là: Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Nội vụ, Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện Văn học, Viện nghiên cứu văn hóa dân gian, Viện Hán Nôm, Hội Nhà văn Việt Nam. Ông Phùng giải thích, sở dĩ phải mất nhiều thời gian để được pháp luật thừa nhận do nhiều các cá nhân và tổ chức chưa nhận ra sự cần thiết phải của một Hội nghiên cứu chuyên sâu (thay vì là một Trung tâm nghiên cứu); trong khi lại mô hình Hội nghiên cứu chuyên sâu lại rất phổ biến ở nhiều nước như: Tổ chức Quốc tế nghiên cứu Balzac (GIRB) của Pháp hoặc Hội Hồng học (Hội nghiên cứu tiểu thuyết Hồng lâu mộng) của Trung Quốc…

Dù “sinh sau đẻ muộn” nhưng có thể nhìn thấy trước triển vọng phát triển của Hội cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Trước tiên, Hội đã được các cơ quan chức năng công nhận để được hoạt động trong khuôn khổ các quy định của pháp luật, thêm nữa Hội còn có điều lệ cụ thể; cho nên, Hội sẽ có điều kiện phát huy ảnh hưởng của mình đối với hoạt động nghiên cứu Truyện Kiều trong nước và quốc tế một cách “chính danh”. Trong điều lệ của Hội Kiều học đã quy định hội viên của Hội có thể là bất cứ ai, miễn là người đó yêu mến Truyện Kiều và tuân thủ điều lệ của Hội. Vì vậy, sự lớn mạnh về số lượng và tầm ảnh hưởng đến dư luận chắc chắn sẽ được đảm bảo thay vì chỉ đặc tuyển hội viên là các nhà nghiên cứu.

Một điều nữa cần lưu ý, thước đo hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bất cứ một Hội nghiên cứu nào vẫn là chất lượng của các công trình nghiên cứu. Sự khả thi trong kết quả nghiên cứu của Hội Kiều học là rất cao vì đa số nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội-nhân văn nói chung và nghiên cứu chuyên sâu truyện Kiều ở nước ta đều là thành viên sáng lập Hội như: GS Nguyễn Đình Chú, GS Nguyễn Duy Quý, GS Vũ Ngọc Khánh, GS Trần Đình Sử, PGS-TS Trần Nho Thìn, PGS-TS Đỗ Lai Thúy, PGS-TS Trương Đăng Dung… Thêm vào đó, một kiệt tác như Truyện Kiều thì không bao giờ cạn kiệt ý nghĩa vì mỗi lý thuyết văn học đều có thể khai triển thêm các ý nghĩa mới từ văn bản Truyện Kiều.

2. Trong dự thảo chương trình hoạt động của Hội Kiều học trình đại Hội có tất cả 18 hoạt động. Đương nhiên vì đang là dự thảo nên thích “vẽ” ra bao nhiều hoạt động cũng chẳng làm sao, để đi vào các hoạt động thực sự được tiến hành còn cần phải được toàn thể hội viên biểu quyết thông qua.

Ngoài các hoạt động chuyên môn chỉ đang là… ước mơ và còn lâu mới có thể thực hiện như: Xây dựng dự án nhà lưu niệm Nguyễn Du ở nơi ông từng sống là Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Quảng Bình, Huế…; các hoạt động chuyên môn còn lại có tính thiết thực cao hoàn toàn tiến hành trong nay mai như: Tổ chức việc phục nguyên một bản Kiều Nôm đạt đến mức đồng thuận cao nhất về câu chữ của nguyên tác Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du (đã thất lạc), Hoàn chỉnh một bản Truyện Kiều quốc ngữ chính thức; Biên soạn và xuất bản cuốn Từ điển Truyện Kiều của Hội Kiều học trên cơ sở bổ sung, hoàn chỉnh cuốn Từ điển Truyện Kiều của học giả Đào Duy Anh (NXB Khoa học xã hội, 1974); Sưu tầm, sao chụp, in ấn những bản Kiều Nôm, Quốc ngữ và các bản dịch Truyện Kiều ra tiếng nước ngoài… Tuy thiết thực và cấp bách nhưng khó có thể thực hiện ngay vì ngoài khó khăn về vấn đề tài chính thì một điều hiển nhiên cần phải được lưu ý đó là rất khó để kêu gọi các nhà nghiên cứu chung tay hợp sức để nhanh chóng hoàn thành khối lượng công việc kể trên. Đơn cử, hiện tại, số lượng những người suốt đời nghiên cứu Truyện Kiều chỉ đếm trên đầu ngón tay; những nhà nghiên cứu văn học trung đại thì không ít nhưng họ còn có nhiều đối tượng nghiên cứu khác như: thơ Hồ Xuân Hương, Chinh phụ ngâm… Cho nên, Hội Kiều học rất dễ đi vào vết xe đổ là ôm đồm làm quá nhiều việc mà không hoàn thành được việc nào!

Thế nên, việc ra đời của Hội Kiều học Việt Nam là điều đáng mừng, nhưng với những công việc khó khăn của người trong cuộc thì những người ngoài cuộc cũng chỉ có thể nghĩ đến một câu Kiều để chia sẻ: “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”.  

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

VĨNH BIỆT NGƯỜI DIỄN VIÊN YÊU NGHỀ MÊ MẢI


Mỗi lần nhắc đến diễn viên, NSƯT Thu An, nhiều người trong nghề nói đùa: “U” Thu An sinh đúng ngày Quốc tế Lao động (1-5-1926), và phải chăng vì thế cả cuộc đời bà hiến dâng cho nghệ thuật thứ bảy và kể cả những công việc không tên khác? Như nhà thơ Xuân Diệu từng nhận xét về mẫu hình người đàn bà nông dân, Thu An đích thị là một nông dân từ trong bản chất, nghĩa là không bao giờ để mình trở thành một người “nhàn cư”. Cả đời bà không nề hà bất cứ vai diễn nào dù là vai chính hay vai diễn chỉ “lướt” qua màn hình, mỗi vai diễn đều được bà đầu tư thời gian nghiên cứu kĩ lưỡng. Đến khi tuổi đã cao bà lại chọn những công việc nhẹ nhàng là chăm cây cảnh và trông nom quán nước trà để vui thú tuổi già.

Nhưng dẫu là con người yêu lao động, tha thiết với sự sống cũng phải đến lúc nghỉ ngơi. Vào 19 giờ 30 phút ngày 3-10-2011, diễn viên, NSƯT Thu An đã rời bỏ dương thế ở tuổi 85, sau hơn nửa thế kỷ cống hiến cho nghệ thuật thứ bảy.

Bà vốn là con gái vùng chợ Bưởi-hồi ấy là ngoại thành Hà Nội. Bà tham gia cách mạng như bao thanh niên yêu nước cùng thế hệ với vai trò văn công của Sư đoàn 305. Năm 1956, bà bén duyên với điện ảnh bằng công việc của người lồng tiếng cho phim nước ngoài, rồi ít lâu sau bà chuyển sang đội ngũ diễn viên của Hãng phim truyện Việt Nam. Nói về sự nghiệp điện ảnh, có thể nhận xét NSƯT Thu An là người có “hậu vận” tốt. Với bất cứ ai theo đuổi nghệ thuật nói chung, hình như đều cảm nhận một sự thật là đôi khi sự nổi tiếng còn phải do có “số”! NSƯT Thu An không có “số” nổi tiếng từ những bộ phim đầu tay kiểu như NSND Trà Giang, NSƯT Thu Uyên, NSND Lan Hương, NSƯT Lê Vân…, mặc dù bà đều góp mặt ở các bộ phim kinh điển của Điện ảnh Cách mạng Việt Nam. Vai diễn đầu tiên của NSƯT Thu An là vai cô Cạn trong bộ phim đầu tiên của Điện ảnh Cách mạng Việt Nam: Chung một dòng sông (1959) và chính nhờ bộ phim này mà bà đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và được Bác thăm hỏi ân cần. Sau đó bà tham gia các cái vai diễn trong hàng loạt bộ phim như : Truyện vợ chồng anh Lực, Từ một cánh rừng, Những người đã gặp, Em bé Hà Nội, Làng Vũ Đại ngày ấy, Tướng về hưu… Nhưng đáng tiếc các vai diễn trên đều không phải là vai chính nên dấu ấn để lại khá nhạt nhòa.

Đến đầu những năm 1990, khi phim video bắt đầu xuất hiện, bà tham gia khá thường xuyên trong các phim: Đời mưa gió, Niềm tin của mẹ, Sum họp đêm giao thừa… và đặc biệt là vai chính trong phim Mẹ chồng tôi của đạo diễn Khải Hưng.

Mẹ chồng tôi là phim đầu tiên trong chương trình Văn nghệ chiều chủ nhật và bộ phim này có chỗ đứng trong lòng khán giả từ thủa phim truyền hình bắt đầu đến từng gia đình thông qua chiếc ti-vi, tất cả là nhờ vào tài diễn xuất của NSƯT Thu An. Chính nhờ vai diễn này mà bà mới thực sự được công chúng nhớ đến và được các bạn đồng nghiệp trẻ gọi với cái tên trìu mến: “U” Thu An hay “mẹ chồng tôi”. Có thể nói, bà sinh ra để diễn vai bà mẹ chồng này. Ngoại hình về già của NSƯT Thu An với nụ cười đôn hậu, ánh mắt hiền từ, mái tóc bạc dài như cước rất hợp với bà mẹ chồng giàu đức bao dung. Nhưng ngoại hình “trời cho” mà không có đầu tư về diễn xuất thì không thể có một vai diễn để đời. Vai diễn của bà là một bà lão nông dân, trong khi cả đời bà chưa bao giờ làm việc đồng áng, nói vậy để hiểu rằng từng cảnh dắt trâu, làm vườn, quét nhà… trong phim tưởng chừng đơn giản cũng khiến diễn viên phải kì công trong thể hiện, nhất là trong bối cảnh làm phim truyền hình thiếu thốn trăm bề cách đây gần 20 năm.

NSƯT Thu An không còn nữa, nhưng nhiều người sẽ nhớ một diễn viên yêu nghề mê mải quên cả tuổi già, và cao hơn đó là một người tốt. Giờ đây mỗi lần đi qua số nhà 672 đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội), người ta không còn nhìn thấy hình bóng của “mẹ chồng tôi” Thu An đang dõi mắt nhìn ra đường với ánh mắt bao đỗi hiền từ.

HÀM ĐAN

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

THỜI BÁO MÊ KÔNG RA SỐ ĐẦU TIÊN


 
(Một phút dành cho quảng cáo^^)

Thời báo Mê Kông cơ quan của Hội phát triển hợp tác kinh tế Việt Nam – Lào – Campuchia (Vlacaed) đã phát hành số báo đầu tiên vào ngày 4/10/2011 theo giấy phép xuất bản số 1144/GP-BTTTT (Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 25/7/2011). Trong quý 4/011, Báo ra hai tuần một kỳ, mỗi kỳ 32 trang, khổ 25,5 x 35,5cm.
Thời báo là một trung tâm thông tin các vấn đề về văn hóa, kinh tế - xã hội, khoa học giáo dục và các lĩnh vực khoa học về nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường và phát triển bền vững… trên mạng lưới thông tin khu vực tiểu vùng sông Mê Kông và Đông Nam Á. Giữ vai trò Tổng biên tập Thời báo là nhà thơ Trần Anh Thái, Phó tổng biên tập: Nhà báo Phạm Nguyên Bảng cùng Hội đồng biên tập và Ban biên tập. Trụ sở chính của Thời báo đặt tại Nhà số 4, ngõ 25A – Phan Đình Phùng – Hà Nội cùng các văn phòng đại diện tại: Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh,…
Số đầu tiên ra mắt bạn đọc, Thời báo Mê Kông chú trọng cập nhật, bình luận các thông tin, các vấn đề đang được dư luận quan tâm trên nhiều lĩnh vực. Trang Thời sự cận điểm, Thời báo đăng tải hai bài viết “Khi người Palestine tìm một chỗ đứng dưới ánh mặt trời” (Yên Ba) và “ASEAN một lần nhìn lên bản đồ thế giới” (Tạ Duy Anh). Đan xen giữa các thông tin kinh tế trong nước và quốc tế, trang Kinh tế & phát triển cũng đưa bài viết bình luận về Vụ án ở nông trường sông Hậu: Vì sao bà Sương “thà chết”? của tác giả Sáu Nghệ.
Bên cạnh đó, Thời báo Mê Kông hứa hẹn mang đến cho Quý độc giả nhiều góc nhìn thú vị bằng các chuyên trang về Thiên nhiên & môi trường với những hình ảnh hết sức sinh động, kì thú về nguồn tài nguyên thiên nhiên, và thế giới động vật ở vùng đất Mê Kông vừa thân thuộc mà vẫn đầy bí ẩn; Trang Pháp luật & đời sống giới thiệu bài viết về vấn đề Tội phạm trẻ hóa – một sự mất cân đối trong giáo dục và cũng là mặt trái của nền kinh tế thị trường với hàng chuỗi nguyên nhân đã tồn tại mà không được giải quyết; Trang ASEAN – lịch sử & sự kiện tiếp tục đưa đến các thông tin quan trọng về tổ chức ASEAN cũng như bài viết giới thiệu về tinh hoa văn hóa, kiến trúc độc đáo. Ngoài ra, Thời báo Mê Kông còn có các trang về Khoa học & giáo dục, Phương đông huyền kỳ, Thể thao & du lịch, Dân biết & Dân bàn, Thế giới hội nhậpKí ức Mê Kông…
Với phương châm: Thân thiện, hiểu biết, hữu nghị hợp tác và cùng chia sẻ, Thời báo Mê Kông cũng là nơi hội nhập mọi khác biệt về địa lý, kinh tế, chính trị. Bạn đọc có thể gặp gỡ ở đây trong một nỗ lực hết sức coi trọng các vấn đề hợp tác khu vực.
                                                                   Thời báo Mê Kông

CỒNG CHIÊNG MƯỜNG: HIỂU SÂU SẮC MỚI ĐỊNH HƯỚNG BẢO TỒN



Trong khuôn khổ sự kiện kỷ niệm 125 năm thành lập tỉnh Hòa Bình (1886-2011) và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh, UBND tỉnh Hòa Bình đã tổ chức Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy các giá trị của không gian văn hóa cồng chiêng”. Hội thảo có sự góp mặt của các nhà quản lý địa phương, giới nghiên cứu và nghệ nhân dân gian, đã tập trung làm rõ những điểm độc đáo của văn hóa nghệ thuật cồng chiêng Mường và đưa ra nhiều kiến nghị nhằm quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản theo hướng bền vững.

Làm sáng tỏ giá trị văn hóa cồng chiêng Mường

Văn hóa Mường đã được các nhà nghiên cứu chú trọng vì nghiên cứu văn hóa Mường chính là gián tiếp làm sáng tỏ văn hóa xa xưa của người Việt do người Mường và người Việt cùng chung một nguồn gốc. Nhưng với sự giàu có của văn hóa Mường nên công việc nghiên cứu vẫn chưa làm sáng tỏ đầy đủ các giá trị văn hóa tộc người này, trong đó có văn hóa cồng chiêng.

Sau sự kiện Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại (2005) khiến cho hiểu biết của đại bộ phận dân chúng cho rằng chỉ mỗi cồng chiêng Tây Nguyên là có giá trị! Cho nên, mục đích trước hết của cuộc hội thảo là phải làm sáng rõ những yếu tố văn hóa, nghệ thuật cồng chiêng trong đời sống văn hóa của người Mường và những nét đặc sắc trong nghệ thuật văn hóa cồng chiêng.

Các nhà nghiên cứu thống nhất, chiêng Mường đã cùng tồn tại với trống đồng Đông Sơn cách đây trên 2000 năm. TS Quách Văn Ạch cho biết, tại khu mộ cổ Chăm Mát (TP Hòa Bình), người dân đã tìm thấy một chiếc chiêng được úp trên mặt trống đồng, cả hai đều có mức độ ô-xi hóa giống nhau! Một quan niệm khác mà các nhà nghiên cứu tìm được tiếng nói chung đó là khái niệm “cồng chiêng” trong trường hợp nói về cồng chiêng Mường là để chỉ một loại hình văn hóa chứ không đơn thuần để nói về nhạc khí.

Tuy nhiên, còn nhiều điểm quan trọng còn gây tranh cãi. Đa số những người có tham luận tại Hội thảo, điển hình là ông Triệu Văn Tiến (Phó Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hòa Bình) chứng minh sự tồn tại của “không gian văn hóa cồng chiêng Mường” với 4 bộ phận đó là: Nhạc cụ cồng chiêng, người đánh cồng chiêng, bản nhạc tấu cồng chiêng không gian trình diễn. Song, TS Kiều Trung Sơn (hỗn danh là Sơn Mường)-nhà nghiên cứu chuyên sâu về cồng chiêng Mường tại Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam không đồng ý với việc “úp” các giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vào cồng chiêng Mường. Ông lí giải, cồng chiêng Tây Nguyên là hiện tượng văn hóa-nghệ thuật của vùng Tây Nguyên với hơn 10 tộc người và còn được bảo lưu gần như nguyên vẹn; cho nên, sử dụng cụm từ “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” là thích hợp. Cồng chiêng Mường khác ở điểm là sản phẩm của một tộc người và không gian văn hóa cồng chiêng Mường cổ truyền đã mất từ lâu. TS Sơn cho rằng, cái đúng nghĩa của không gian văn hóa cồng chiêng Mường chính là xắc bùa (Xắc bùa do một phường bùa xách cồng chiêng phục vụ các hoạt động mang tính chất cộng đồng như: đón khách, lễ hội, chúc phúc cho các gia đình nhân một sự kiện vui vẻ…). Ông đề nghị nên gọi là “cồng chiêng xắc bùa” vừa theo đúng cách gọi của người Mường, vừa có thể bao quát giá trị nghệ thuật của cồng chiêng Mường.

Cùng với TS Kiều Trung Sơn, nhiều nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra những điểm khác biệt của cồng chiêng Mường và cồng chiêng Tây Nguyên. Việc làm này không có dụng ý phân biệt giá trị cao-thấp mà trong văn hóa nghệ thuật chỉ đề cao tính khác biệt; qua đó chứng minh giá trị nghệ thuật độc đáo của cồng chiêng Mường. Và chính sự hiểu sâu sắc giá trị văn hóa nghệ thuật cồng chiêng Mường mới định hướng bảo tồn.

Ngoài giá trị cố kết cộng đồng, cồng chiêng Mường còn là nghệ thuật diễn tấu độc đáo không theo thang âm cũng như điệu thức như cồng chiêng Tây Nguyên mà tuân thủ quy luật “hạt nhân”. “Hạt nhân” trong các bài chiêng Mường được tạo thành bởi sự tương tác giữa hai cao độ cộng với tiếng “khầm” mà người Mường gọi là “boòng beng khầm”, có giá trị biểu tượng. Trong đó, nhờ có “khầm” (Khầm là từ tượng thanh mà người Mường dùng để gọi chùm âm do số đông người tham gia dàn chiêng cùng gõ) mà dàn chiêng hàng trăm chiếc có thể cùng tham gia hòa tấu mà không hỗn loạn.

Tuy còn một số điểm chưa thống nhất, nhưng với các giá trị văn hóa nghệ thuật của cồng chiêng Mường đã được chứng minh tại Hội thảo, các nhà nghiên cứu đều cho rằng: Cồng chiêng Mường hoàn toàn xứng đáng được vinh danh là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.

Giải toán bảo tồn và phát huy giá trị di sản

Trong Hội thảo, các nhà nghiên cứu đã dành nhiều lời khen cho các các cấp chính quyền tỉnh Hòa Bình trong những nỗ lực nghiên cứu, kiểm kê di sản văn hóa cồng chiêng Mường. Ông Đinh Văn Hòa (Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình) cho biết, năm 2000, Hội nghiên cứu Văn học nghệ thuật tỉnh Hòa Bình hoàn thành đề tài “Sưu tầm biên soạn âm nhạc cồng chiêng dân tộc Mường Hòa Bình” của nhà nghiên cứu Bùi Chỉ, đã thu âm và ký âm 50 bài chiêng chưa từng công bố. Năm 2010, Sở VH,TT&DL tỉnh Hòa Bình cũng thực hiện thống kê có 9960 chiếc chiêng trên địa bàn tỉnh.

Công việc trước mặt đặt ra với cơ quan quản lý di sản văn hóa cồng chiêng Mường là bảo tồn giá trị văn hóa nghệ thuật của cồng chiêng Mường trước nguy cơ mai một. Những việc cần làm ngay đã nhanh chóng đạt được sự đồng thuận đó là: Khuyến khích bà con Mường tham gia sinh hoạt cồng chiêng; có các dự án cụ thể đưa âm nhạc cồng chiêng vào đời sống văn hóa; có chính sách đãi ngộ cho các nghệ nhân còn lưu giữ các bài chiêng bằng trí nhớ; tập huấn cho những người trong ngành văn hóa để tổ chức điều tra, sưu tầm các bài chiêng. Ông Bùi Văn Cửu (Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình) cam kết, tỉnh Hòa Bình và các tỉnh bạn có người Mường sinh sống sẽ xây dựng cơ chế, chính sách nhằm quản lý, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng. Và sẽ đề xuất với Bộ VH,TT&DL xây dựng chiến lược tổng thể, những biện pháp cụ thể nhằm phát triển văn hóa cồng chiêng trong tiến trình phát triển kinh tế-xã hội.

Hiện nay, tỉnh Hòa Bình đang đề nghị Bộ VH-TT&DL xem xét, công nhận “Không gian văn hóa cồng chiêng của người Mường” là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Nhiều ý kiến lo xa để tránh buồn gần cho cồng chiêng Mường khi cho rằng việc bảo tồn và phát huy di sản cần hết sức cẩn trọng. Trước tiên, cần phải tuyên truyền các giá trị độc đáo của di sản đến các cấp quản lý và người dân để họ hiểu sâu sắc “báu vật” đang phải gìn giữ. Trong quá trình bảo tồn di sản, không nên áp đặt ý kiến chủ quan của cán bộ văn hóa vào hoạt động cồng chiêng nếu chưa hiểu rõ nghệ thuật cồng chiêng sẽ rất dễ dẫn đến những quyết định sai lầm.

Hiện tại, ở Hòa Bình, du lịch cộng đồng đang phát triển mạnh. Nghệ thuật cồng chiêng Mường với tính độc đáo và duy nhất ở miền Bắc hiện đã góp phần tích cực thu hút khách du lịch. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng cần hạn chế những đội chiêng bán chuyên nghiệp thương mại hóa, bởi không khuyến khích nghệ thuật cộng đồng trong dân chúng, vô hình trung sẽ tách dần khỏi nhân dân và môi trường trình diễn truyền thống.

Với nhận thức đúng mức của các ban ngành địa phương tỏ rõ trong Hội thảo, cùng sự chung tay của các nhà nghiên cứu và nghệ nhân dân gian, có thể hi vọng về một “báu vật” văn hóa độc đáo của đất nước ta là cồng chiêng Mường sẽ được gìn giữ và phát huy bằng các kết quả khả quan trong tương lai

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2011

DỰ THẢO LUẬT THƯ VIỆN: KỲ VỌNG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ĐỌC


Dự kiến, trong chương trình làm việc của Quốc hội khóa XIII, dự thảo Luật Thư viện sẽ được các đại biểu xem xét, thảo luận. Hiện nay, dự thảo lần II Luật Thư viện có 6 chương với 37 điều, những người trong nghề tin rằng, khi văn bản luật này được thông qua sẽ có tác động tích cực tới hoạt động của các thư viện, qua đó tạo đà phát triển văn hóa đọc lên một tầm cao mới.
         
Luật hóa hoạt động thư viện

Để xây dựng dự thảo Luật Thư viện, Ban soạn thảo luật này đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo lấy ý kiến của các thư viện tỉnh thành phố và chuyên ngành trên toàn quốc. Chính quá trình thảo luận dân chủ kết hợp với tham khảo nhiều bộ luật Thư viện nước ngoài, đã xây dựng dự thảo được xem là bám sát với tình hình hoạt động của các thư viện Việt Nam hiện nay và phù hợp với quan niệm, mô hình hoạt động của các thư viện trên thế giới.

Dù vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, song về cơ bản dự thảo Luật Thư viện đã có nhiều điểm đổi mới mang tính đột phá so với Pháp lệnh Thư viện số 31/2000 PL-UBTVQH có hiệu lực từ ngày 1-4-2001, cách đây đúng một thập kỷ. Xin lấy một vài ví dụ: Trong dự thảo Luật Thư viện đặc biệt quan tâm đến các dạng tài liệu mới là dạng tài liệu điện tử vốn đang phát triển mạnh do sự tiến bộ không ngừng của công nghệ thông tin. Ngoài ra, trong Điều 8 của dự thảo đã cho phép thành lập thư viện tư nhân và khoản 3, Điều 14 xếp thư viện của các tổ chức, cá nhân nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam có phục vụ người đọc vào loại hình thư viện chuyên ngành-nghĩa là cũng thuộc sự quản lý của Luật Thư viện.

Không chỉ có nhiệm vụ quy định về tổ chức và hoạt động thư viện; quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động thư viện mà Luật Thư viện còn có nhiều mục tiêu khác. Theo bà Nguyễn Thị Thanh Mai (Vụ trưởng Vụ Thư viện, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch), việc cần có Luật Thư viện với hiệu lực pháp lý cao hơn Pháp lệnh Thư viện là nhằm tăng cường sự đầu tư của Nhà nước và xã hội đối với một thiết chế văn hóa đặc thù không thể thiếu trong thời buổi đất nước đang hội nhập sâu với quá trình toàn cầu hóa như hiện nay. Luật Thư viện cũng sẽ gián tiếp thúc đẩy việc xây dựng một thế hệ đọc tương lai và làm sao việc đọc sách báo trở thành một phong trào trong xã hội, hoàn thành các mục tiêu trong chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt.   

Song song với quá trình hoàn thiện Luật Thư viện, các văn bản dưới luật cũng đang trong quá trình xây dựng để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều khoản được giao trong luật giúp các thư viện hoạt động có hiệu quả. Đơn cử, nhiều khả năng sẽ có một thông tư mới điều chỉnh lại một số quy định trong Thông tư 56/2003/TT-BVHTT ngày 16-9-2003 hướng dẫn chi tiết về điều kiện thành lập thư viện. Chẳng hạn, theo quy định của Thông tư 56, thư viện của viện, trung tâm nghiên cứu khoa học phải có 20 chỗ ngồi đọc và mỗi chỗ ngồi chiếm diện tích 2,5m2. Trên thực tế, quy định này không khả thi, chẳng hạn, ngay kho sách của Thư viện Viện Dân tộc học đã quá chật hẹp phải để sách trên nóc giá sách thì không thể đáp ứng tiêu chuẩn 20 chỗ ngồi; mặt khác, hầu hết người đọc là cán bộ trong viện nên họ thường mượn tài liệu về đọc chứ ít khi ngồi tại phòng đọc. 
           
Chủ động tháo gỡ khó khăn

Tình hình phát triển của văn hóa đọc ở nước ta trong thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin gặp những thử thách. Theo thống kê của TS Nguyễn Mạnh Hùng, Giám đốc Công ty Sách Thái Hà - thành viên Ban tổ chức “Ngày hội đọc sách Việt Nam 2011”: Mỗi người Việt Nam chỉ mua 3,3 cuốn sách, đọc 2,8 cuốn/năm. Theo các nghiên cứu về văn hóa đọc, tối thiểu phải là 50 cuốn/người/năm thì chúng ta mới có thể tạo dựng văn hóa đọc. Sách đã có nhiều hơn, nhưng vẫn còn đến 80% nông dân không đọc sách. Để nâng cao văn hóa đọc trong toàn dân cần phải có nhiều giải pháp từ nhiều ban, ngành mà trong đó thư viện đóng vai trò quan trọng bởi hệ thống thư viện công cộng đã phát triển tới cấp xã trên phạm vi toàn quốc giúp người dân dễ dàng tiếp nhận với thông tin một cách nhanh chóng và thuận tiện.

Song, theo đánh giá của bà Nguyễn Thị Thanh Mai: So với yêu cầu phát triển của Việt Nam, cũng như trình độ chung của các nước trong khu vực, chúng ta còn một khoảng cách khá xa. Dịch vụ và phương thức phục vụ ở ngành thư viện của ta đều chậm hơn các nước trong khu vực từ 10 đến 15 năm. Trên thực tế, hoạt động của các thư viện gặp vô số khó khăn như: Một số thư viện thiếu kinh phí để làm giàu thêm vốn tài liệu và mua sắm các thiết bị phục vụ thư viện (giá sách, máy quét…), số thư viện khác có đủ kinh phí lại mắc khuyết điểm là mua các tài liệu không phù hợp với đối tượng mà thư viện phục vụ, ngoài ra còn có tình trạng đội ngũ làm công tác thư viện vừa thiếu lại vừa yếu về chuyên môn… 

Trao đổi với chúng tôi, Đại tá Ngô Văn Chung (Giám đốc Thư viện Quân đội) cho rằng: Chính vào thời điểm này, Luật Thư viện ra đời là thích hợp, chính văn bản luật này sẽ trao quyền chủ động để các thư viện tháo gỡ khó khăn gặp phải. Cũng như các loại hình thư viện khác, hệ thống thư viện trong quân đội đón nhận dự thảo Luật Thư viện với sự phấn khởi vì nhiều điều kiện mới cho hoạt động thư viện tốt hơn sẽ được quy định bằng các điều luật, nhất là Điều 28 nói về việc Nhà nước thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho thư viện như sau: "Xây dựng, nâng cấp trụ sở theo hướng chuẩn hóa, phù hợp với yêu cầu của hoạt động thư viện; hiện đại hóa trang thiết bị, phương tiện và kỹ thuật; cấp thiết bị, phương tiện vận chuyển cho các thư viện cấp tỉnh để luân chuyển vốn tài liệu thư viện phục vụ lưu động ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, nông thôn, phục vụ lực lượng vũ trang nhân dân; dành quỹ đất xây dựng thư viện công cộng trong quy hoạch của địa phương”. Trên cơ sở sự quan tâm của Nhà nước đối với hoạt động thư viện, Thư viện Quân đội sẽ tiếp tục đề xuất quy hoạch lại thư viện trong quân đội để tạo nguồn lực thông tin tập trung, phù hợp với đặc thù của ngành.

Cũng theo Đại tá Ngô Văn Chung, trong khi chờ đợi Luật Thư viện được Quốc hội thông qua, Thư viện Quân đội sẽ chủ động thực hiện các hoạt động thiết thực nhằm phát huy tính đổi mới đúng đắn của luật để phục vụ đời sống tinh thần của toàn quân và góp phần vào sự phát triển văn hóa đọc của đất nước. Thời gian tới, Thư viện Quân đội sẽ tham mưu với Thủ trưởng Tổng cục Chính trị xây dựng thư viện thân thiện trong toàn quân. Thư viện Quân đội sẽ tích cực chủ động hiện đại hóa cơ sở vật chất, bố trí trang thiết bị điện tử để trở thành thư viện hiện đại. Vấn đề con người cũng được đặc biệt coi trọng, nhân viên thư viện không chỉ là người giữ sách mà phải có trình độ tin học và ngoại ngữ để hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn. Đặc biệt, Thư viện Quân đội sẽ mở rộng đối tượng phục vụ ngoài quân đội, qua đó góp phần vào sự nghiệp nâng cao văn hóa đọc của đất nước.

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011

CÙNG BÀN LUẬN (III): ĐẦU TƯ ĐÚNG CHỖ...

Nhiều người trong ngành điện ảnh đang bức xúc tình trạng chất lượng nghệ thuật của các bộ phim ngày càng đi xuống do thiếu kinh phí đầu tư. Lý do này thoạt chừng có vẻ hợp lý vì điện ảnh không phải là sản phẩm của con nhà nghèo.

Nhưng nếu nhìn lại sự thành công về mặt nghệ thuật của những bộ phim Việt Nam thời kỳ bao cấp khó khăn trăm bề hoặc những bộ phim kinh phí thấp của điện ảnh I-ran đã làm thế giới say mê gần đây, rõ ràng tiền không phải là “chìa khóa vạn năng” quyết định chất lượng bộ phim.

Trong bối cảnh kinh phí mà nhà nước chi để hoàn thành một bộ phim cao lắm chỉ hơn chục tỷ đồng thì những nhà làm phim phải biết “liệu cơm gắp mắm”. Con nhà nghèo thì không nên chơi sang! Đã là phim nghệ thuật thì những chi tiết tưởng chừng vụn vặt trở đi trở lại, đôi mắt thoáng buồn của nhân vật... cũng có thể trở thành nghệ thuật, ám ảnh người xem mà không nhất thiết phải đi theo phong cách dựng những đại cảnh hoành tráng như phim Hollywood. Cho nên, các cấp quản lý cần phải kiên quyết “nói không” với dự án điện ảnh đòi hỏi đạo cụ tốn kém và kỹ xảo quá hiện đại, thay vào đó là tập trung đi vào những chiều kích của thân phận con người trong những câu chuyện đời sống bình dị. Hướng đi này vốn đã từng làm nên thương hiệu của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam trước đây, ví dụ bộ phim kinh điển “Cánh đồng hoang” không mô tả cảnh chiến trận hoành tráng mà chỉ đơn giản kể về số phận một gia đình vùng Đồng Tháp Mười trong chiến tranh chống Mỹ. Đó là vấn đề tài năng.

Với nền điện ảnh đang chập chững làm quen với cơ chế thị trường như hiện nay, sự hỗ trợ của nhà nước vẫn phải đóng một vai trò nhất định. Song, những tác động chỉ nên giới hạn ở mức tối thiểu và mang tính gián tiếp thông qua việc đầu tư trường quay và các thiết bị sản xuất phim, các cơ chế chính sách thông thoáng... Việc đầu tư cho các dự án điện ảnh phải mang tính tập trung cao độ tránh tình trạng đầu tư theo kiểu dàn trải mỗi hãng phim một chút kinh phí hoặc lại quá dồn sức cho những phim mang tính hiếu hỷ. Sự đầu tư trực tiếp có chăng chỉ ở những phim thực sự có nhiều điểm mới lạ trong nội dung, cách tân về hình thức.

Song song với quá trình thực hiện những bộ phim còn được cấp kinh phí, các hãng phim vốn quen với cơ chế xin-cho, cần tích cực chủ động gia nhập vào guồng quay sản xuất phim thương mại hiện nay. Muốn trở thành một người giỏi nghề, ngoài kiến thức nhà trường cần làm nghề nghiêm túc trong một quãng thời gian liên tục. Thực tế đã chứng minh, vô số đạo diễn và diễn viên phim nghệ thuật nổi tiếng nhất trên thế giới đều từng trải qua thời kỳ đầu sự nghiệp “ngụp lặn” tham gia sản xuất những phim truyền hình, các phim quảng cáo vô thưởng vô phạt. Chính cơ chế thị trường sẽ sàng lọc tất cả; khi đó chỉ những người có tài và yêu nghề mới tồn tại để tiếp tục nuôi giấc mơ làm phim nghệ thuật. Và cũng chỉ có tài năng thực sự mới có thể trình làng những bộ phim hay, dù cho sự đầu tư rất khiêm tốn. 

Một vấn đề nữa cần đề cập là bên cạnh việc đầu tư cho điện ảnh về tiền bạc và cơ chế để nuôi dưỡng tài năng, thì vấn đề quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn đầu tư đang là thời sự. Một đất nước vừa thoát ngưỡng ngước nghèo, thu nhập thấp, chậm phát triển như nước ta thì khoản tiền hơn 40 tỷ đồng "biến mất" của ngành điện ảnh là rất lớn. Tuy vậy, dư luận còn băn khoăn rất nhiều về những khoản đầu tư cho điện ảnh, về những bộ phim từng được "đầu tư khủng" mà chất lượng thấp. Con số hơn 40 tỷ đồng chỉ là "giọt nước tràn ly" để xã hội thêm một lần bức xúc với điện ảnh nước nhà. Tuy nhiên, cũng có thể từ đây, sau những mổ xẻ, phán quyết của các cơ quan chức năng và công luận, ngành điện ảnh có một cơ hội thay đổi mang tính bước ngoặt?! Hy vọng như thế.

HÀM ĐAN

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2011

THỜI ĐÀM (XIII): CÓ HỌC VẪN HƠN


Có những vấn đề trong văn chương không đến nỗi là một mớ bòng bong nhưng người ta vẫn cứ cãi nhau từ năm này qua năm khác, một trong số đó là vấn đề: Người viết trẻ (tuổi nghề) có nên đi học các khóa học viết văn không?

Mô hình trường viết văn khá phổ biến trên thế giới với các lớp ngắn hạn vài tháng (cấp chứng chỉ) hoặc 4 đến 5 năm (cấp bằng đại học). Điều đáng chú ý nhất trong các trường viết văn là việc các nhà thơ, nhà văn đã có tác phẩm để đời đến dạy về viết văn. Từ đây, người ta bắt đầu có những hoài nghi xuất phát từ thực tế: Nhiều người đã từng học viết văn đều không có tác phẩm lớn, đa số nhà văn lớn đều không học trường viết văn; và từ đó rút ra kết luận sáng tác văn chương là thứ không thể dạy được, cho nên, việc tồn tại các trường dạy viết văn là điều phi lý.

Có lẽ không cần phải lấy ví dụ để chứng minh cho thực tế không phải ai đều làm đúng nghề đã học (vì nghề chọn người!) và tạo dựng được sự nghiệp từ cái nghề đã học. Văn chương cũng không phải ngoại lệ! Có người hiểu chuyện đã nói thẳng: Nếu một lớp viết văn chừng 40 người mà chỉ có duy nhất 1 người trở thành nhà văn lớn, 39 người còn lại biết cảm thụ tích cực văn chương thì hiệu quả giảng dạy coi như đã đạt yêu cầu!
  
Văn chương luôn để lại nỗi ám ảnh cho người viết, vì vậy dẫu có làm nghề gì để sống rốt cuộc nhà văn vẫn sẽ viết như bị “ma làm”. Cũng vì con đường học vấn của nhiều nhà văn lớn trên thế giới không liên gì đến văn chương nên nhiều nhà văn ở nước ta lầm tưởng: Muốn có tác phẩm hay thì cần phải viết một cách tự nhiên theo cảm xúc, không nên để các lý thuyết này nọ ngăn cản “cơn lũ cảm hứng”. Đó là một quan niệm có lẽ chỉ ở nền văn chương kém phát triển mới có. Từ lâu, các nhà văn trên thế giới đề đi theo một hình mẫu là: Nghệ sĩ kếp hợp với nhà khoa học. Cá biệt, có những nhà văn đồng thời là triết gia (người sản sinh các triết thuyết) như nhà văn Pháp Jean-Paul Sartre với chủ nghĩa hiện sinh. Một trong những điều mà văn chương Việt Nam không có tên trên bản đồ thế giới do thiếu tầm tư tưởng. Cho nên, một nhà văn nước ta thường chỉ có một tác phẩm nổi lên, chứ ít khi có sự nghiệp kéo dài đến khi… nhắm mắt xuôi tay.

Những nhà văn thành danh trên thế giới đa phần đều không học trường viết văn nhưng họ đều có khả tự học một cách bền bỉ và hiệu quả. Đọc tiểu thuyết Trò chuyện trong quán La Catedral của Mario Vargas Llosa (Nobel 2010) với kết cấu đảo lộn trật tự thời rất gần với tiểu thuyết Âm thanh và cuồng nộ của William Faulkner (Nobel 1949). Bản thân M. V. Llosa thừa nhận Âm thanh và cuồng nộ là cuốn tiểu thuyết duy nhất khiến ông phải vừa đọc vừa ghi chép một cách tỉ mẩn. Không chỉ học kĩ thuật viết mà hầu hết các nhà văn lớn trên thế giới đều xây dựng một phong văn hóa rộng với nguồn chất liệu khổng lồ phục vụ cho tác phẩm; như nhà văn Trung Quốc Khương Nhung đã mất 20 năm để nghiên cứu văn hóa du mục Mông Cổ để sau đó mất thêm 6 năm nữa để viết tiểu thuyết nổi tiếng Tôtem sói.

Cái lợi nhất khi học các khóa viết văn là học viên được cung cấp những tri thức nền tảng về văn hóa, phân biệt được các kỹ thuật viết khác nhau và nhất là tạo dựng khả năng sáng tạo một cách độc lập. Những người tự khám phá thế giới văn chương đương nhiên đi chậm hơn, đôi khi “mất học phí” với những tìm tòi văn chương tưởng là mới mẻ nhưng hóa ra nhiều người đã thực hành từ lâu. Những người sau khi học trường viết văn xong vẫn tiếp tục tự học để không bị tụt hậu so với tình hình văn chương thế giới. Vấn đề còn lại viết sao cho hay thì việc học viết văn không có liên quan, mỗi người viết khi đó vừa là thầy vừa là trò của chính mình: Mỗi người viết là một nhà phê bình đủ nhận ra văn chương mình đến mức nào!

Tóm lại, việc duy trì các lớp viết văn là điều cần thiết cho nhu cầu những người muốn viết văn một cách nghiêm túc; nhưng nếu không học các khóa viết văn cũng chẳng nên lấy thế làm buồn mà cứ kiên trì đọc và nghiền ngẫm rồi thể nào cũng sẽ có tác phẩm. Thế mới biết trong chuyện viết văn, cái câu cửa miệng của các cụ: “Có học vẫn hơn!”, xem ra chẳng sai chút nào.

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

DI TÍCH ĐỀN BẮC HÀ


Thị trấn Bắc Hà (huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai) là nơi thu hút nhiều khách tham quan với các sản phẩm du lịch là: Chợ phiên vào ngày Chủ nhật, Dinh thự Hoàng A Tưởng và đặc biệt là ngôi đền Bắc Hà đã được xếp hạng Di tích Lịch sử Quốc gia vào ngày 29-10-2003.

Đền Bắc Hà được nhân dân địa phương góp công sức xây dựng từ thế kỷ XIX. Đền thờ Gia Quốc Công Vũ Văn Mật-người có công huy động các tộc người thiểu số địa phương trấn giữ một vùng biên ải rộng lớn phía Bắc Tổ quốc từ thời Lê Chiêu Tông (từ năm 1516) sang thời Nhà Mạc (từ năm 1527).

Thời Vua Lê Chiêu Tông, tại làng Ba Động, huyện Gia Phúc (nay là huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương) có hai anh em nhà họ Vũ là Vũ Văn Uyên và Vũ Văn Mật lên trấn Đại Đồng, phủ Tuyên Quang sinh sống. Tù trưởng trấn Đại Đồng tàn ác nên nhân dân oán giận, anh em họ Vũ đã tập hợp người dân địa phương nổi dậy, trở thành người cai trị trấn Đại Đồng. Lúc đó, chính sự rối ren, Vua Lê Chiêu Tông phong cho hai anh em làm Đô thống sứ trấn Tuyên Quang để yên một cõi. Anh em họ Vũ chọn vùng đất Phúc Khánh (phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai ngày nay) xây dựng căn cứ. Người Kinh từ xuôi lên sát cánh cùng người Tày, người Nùng, người Dao... làm cho vùng đất theo triền sông Chảy lên tận tổng Ngọc Uyển (xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà ngày nay) phồn thịnh.

Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi Nhà Hậu Lê. Hai anh em họ Vũ giữ vững cả miền Tuyên Quang, Hưng Hóa, cát cứ một phương, không chịu theo Nhà Mạc. Năm 1551 thời Lê Trung Tông, hai anh em họ Vũ theo lệnh Vua Lê, mang quân phối hợp với tướng Nhà Mạc mới về hàng Nhà Lê là Lê Bá Ly tiến đánh Thăng Long. Hai anh em đem quân xuống lấy các phủ Tam Đái, Bắc Hà rồi sai người đi phủ dụ dân Thái Nguyên, Lạng Sơn. Quân Lê Bá Ly tiến sát kinh thành khiến Vua Mạc Tuyên Tông bỏ chạy, để Mạc Kính Điển ở lại chống giữ.

Năm 1556, Vua Lê Anh Tông lên ngôi, Phụ chính Trịnh Kiểm cất quân đánh Mạc tới Tuyên Quang, Vũ Văn Uyên ra đón. Trịnh Kiểm rất mừng, cho ông trấn giữ Đại Đồng và ban quyền thế tập trấn giữ Tuyên Quang. Vũ Văn Uyên chết không có con, em là Vũ Văn Mật nối quyền, xưng là Gia Quốc Công. Vũ Văn Mật dời căn cứ từ thành Nghị Lang sang xây thành đắp lũy trên gò Bầu. Từ đó, nhân dân thường gọi ông là Vua Bầu. Sau khi Vũ Văn Mật qua đời, họ Vũ còn truyền thêm 4 đời thay nhau hùng cứ một vùng rộng lớn biên giới phía Bắc gần 200 năm.
Tưởng nhớ công lao của Gia Quốc Công Vũ Văn Mật, nhân dân Bắc Hà lập đền thờ tại thị trấn Bắc Hà. Đền Bắc Hà trở thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng của không chỉ người Việt mà còn của các tộc người khác trên địa bàn huyện Bắc Hà. Vào ngày 10-2 âm lịch hằng năm, nhân dân Bắc Hà tổ chức lễ hội để nhân dân trong vùng và khách du lịch thập phương ngưỡng vọng người có công với đất nước.  

HÀM ĐAN

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

PHIM HÈ 2011: "BƯỚC QUA LỜI NGUYỀN"


Khi điện ảnh Việt Nam chỉ ra rạp hai phim ít ấn tượng là Sài Gòn Yo!Giữa hai thế giới, nên mùa hè 2011, mọi sự chú ý đều đổ dồn về các phim “bom tấn” Hollywood. Gần như tất cả bộ phim hè 2011 đình đám nhất đều được các công ty nhập khẩu phim rước về Việt Nam đủ khiến người xem băn khoăn: Tối nay xem gì?

Siêu anh hùng “đổ bộ”

Để dọn đường cho siêu phẩm “móc túi” khán giả suốt gần 3 tháng hè, công việc quảng bá cho các “bom tấn” đặc biệt được coi trọng, ngay cả một thị trường điện ảnh không phải là lớn như Việt Nam cũng áp dụng những chiêu thức PR mới mẻ. Đặc biệt như trường hợp phim Transformers 3: Dark of the moon (Transformers 3: Phần khuất của mặt trăng) ra mắt công chúng Việt Nam vào tối 28-6 trước cả thị trường Mỹ. Hơn 200 khán giả TP HCMinh đã thức thâu đêm để thưởng thức cả 3 phần của loạt phim Transformers và phần 3 siêu phẩm này đã ra mắt vào nửa đêm lần đầu tiên ở Việt Nam. Hai bộ phim dành cho trẻ em là RioThe Smurfs (Xì Trum) được các diễn viên nổi tiếng như: Minh Hằng, Đại Nghĩa, Minh Tiệp, Thành Lộc, Mỹ Duyên lồng tiếng theo tiêu chuẩn Hollywood tạo được sự gần gũi nhất định với người xem Việt Nam

Hiệu quả kinh doanh từ các phim “bom tấn” mùa hè 2011 tại Việt Nam cũng tạo lập một kỉ lục mới với việc phim hoạt hình Kungfu Panda 2 thu về 2 triệu USD chỉ sau 3 tuần công chiếu. Nếu tình theo doanh thu toàn cầu, 3 bộ phim hè 2011 gồm: Harry Potter và bảo bối tử thần 2 (không chiếu ở Việt Nam), Pirates of the caribbean: On stranger tides (Cướp biển Caribbean: Suối nguồn tuổi trẻ) và Transformers 3 nằm trong danh sách 10 bộ phim đoạt doanh thu cao nhất mọi thời đại với lợi nhuận đều trên 1 tỷ USD; cho nên người đi xem mới đùa nhau: “Một mùa hè cháy túi!”  

Về nội dung các bộ phim, mùa hè 2011 có thể xem là cuộc “đổ bộ” của các siêu anh hùng (superhero) vốn đã nổi tiếng từ các ấn phẩm truyện tranh. Matthew Vaughn-đạo diễn X-Men: First Class (Dị nhân: Lớp học đầu tiên) đã phải thốt lên: “Quá đông siêu anh hùng. Thể loại này rồi sẽ chết vì khán giả sẽ ngán đến tận cổ”. Chưa biết thể loại phim siêu anh hùng có thật sự đi xuống ngya trong năm tới hay không, nhưng hiện tại “cơn sốt” siêu anh hùng đã lên tới đỉnh điểm và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Đi đầu là Marvel Studios với phim Thần sầm Thor có lai lịch từ thần thoại Bắc Âu, Captain America: The First Avenger (Đội trưởng Mỹ; Kẻ báo thù đầu tiên)-anh hùng cản bước Đầu lâu đỏ thời Đệ nhị thế chiến, X-Men: First Class là câu chuyện về thế hệ dị nhân đầu tiên dưới trướng của thủ lĩnh tinh thần là Giáo sư X… Ngoài ra, siêu nhân xanh lá cây với sức mạnh từ hành tinh Sector 2814 trong phim Green Lantern (Đèn lồng xanh) của DC Comics.

Làm tiếp vẫn hay!

Thông thường, các bộ phim làm tiếp đều dở hơn phần đầu nên có người coi đó như một “lời nguyền” dành cho phim làm tiếp (sequel). Nguyên do nằm ở việc do sa đà tìm một câu chuyện khác cho nhân vật cũ vốn đã kết thúc có hậu ở phần đầu. Mùa phim hè 2011 nổi bật với kỉ lục là mùa phim hè có số lượng phim làm tiếp nhiều nhất từ trước đến nay: 27 phim. Nhờ sự cố công cách tân của các nhà sản xuất nên chất lượng các bộ phim làm tiếp đều bước qua lời nguyền dở hơn phần trước.

Điển hình như sê-ri Transformers. Phần 2 Transformers ra rạp cách đây 2 năm bị chính… đạo diễn là Michael Bay chê! Nguyên nhân chính nằm ở kịch bản phim dở, do Michael Bay rơi vào thế bị động khi phải viết kịch bản trong vòng có 3 tuần với 14 trang ý tưởng. Phần 3 Transformers được đầu tư kịch bản kỹ lưỡng trong 8 tháng và chất lượng hơn hẳn, không còn là những pha hành động thuần túy mà khai thác khía cạnh tâm lý nhân vật (kể cả các robot biến hình). Tương tự các bộ phim làm tiếp khác như Kungfu Panda 2, Cars 2… đều tìm kiếm một kịch bản mới mẻ hơn và tạo ra cho các nhân vật nhiều thử thách qua đó hoàn thiện bản thân; quá trình các nhân vật “vượt khó” đã gián tiếp đưa đến những bài học đậm tính nhân văn cho người xem. Chẳng hạn, Kungfu Panda 2 là một hành trình ngộ về tĩnh tâm để đạt đến tuyệt đỉnh kungfu. Trên đường cứu nguy cho Trung Hoa khỏi bàn tay Thái tử Shen; gấu Po cũng khám phá ra được quá khứ, qua đó Po ngộ được chân lý của tĩnh tâm... Thông điệp bộ phim thì đến người lớn cũng phải thừa nhận sâu sắc đó là: Nguồn gốc của bạn không phải là vấn đề, mà quan trọng là bạn muốn trở thành người như thế nào! Dĩ nhiên, cũng có những bộ phim dở như Green Lantern với cốt truyện sơ lược thuần túy hành động như bao bộ phim diêu anh hùng khác, trong khi không có một thông điệp nhân văn nào kèm theo.

Một bộ phim hay không chỉ dựa vào mỗi kịch bản tốt mà các kĩ xảo điện ảnh đi kèm đòi hỏi sự cải tiến tối đa. Kỹ thuật 3-D vẫn đang là thời thượng nổi bật với bom tấn là Transformers 3 với máy quay IMAX, ngoài ra, Michael Bay đã thuê lại nguyên đội hình từng làm Avatar của James Cameron. James Cameron sau khi xem Transformers 3 đã cho rằng: “Đây là phim 3-D hay nhất từ thời Avatar”. Hai hãng phim hoạt hình là Pixar với Cars 2 và Dream Works với Kungfu Panda 2 cũng trình làng hai bộ phim hoạt hình 3-D với những pha hành động tuyện vời dựa trên sức mạnh của chiều không gian thứ ba.

Các bộ phim hè 2011 còn mang lại một điều tích cực khác là trình làng của hàng loạt những diễn viên mới đầy triển vọng. Nữ diễn viên 17 tuổi Saoirse Ronan trong phim Hanna vào vai một cô gái sống tách biệt không biết giao tiếp với con người và có nhiệm vụ ám sát một phụ nữ. Thiên thần nội y của Victoria's Secret là Rosie Huntington-Whiteley có vai diễn đầu tiên vô cùng ăn ý với Shia LaBeouf trong Transformers 3,  dàn diễn viên nhí trong Super 8 diễn xuất như đã vào nghề từ lâu…

Mùa hè 2011 còn là sự trình chiếu rộng rãi của các phim nghệ thuật đã từng giành giải cao ở Oscar 2011 là The king’s speech (Diễn văn của nhà vua) và Cannes 2011 là phim The tree of life (Cây đời). The king’s speech là phim độc lập với 8 triệu USD kinh phí nhờ giành 4 tượng vàng Oscar đã có doanh thu hơn 400 triệu USD ngang ngửa với siêu phẩm Cars 2 được đầu tư gần 200 triệu USD. Thế mới biết, hãy cứ là phim hay thì dù ra rạp ở thời điểm nào cũng sẽ thắng lớn mà chẳng cần gắn mác “bom tấn”.

HÀM ĐAN


Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

GS ĐINH XUÂN LÂM: THAY ĐỔI CÁCH DẠY, CÁCH RA ĐỀ THI MÔN SỬ


                                                                                                                                                                   
         Là một nhà sử học Việt Nam hiện đại, Nhà giáo nhân dân-Giáo sư Đinh Xuân Lâm rất buồn với việc hàng ngàn điểm không (0) môn sử trong kỳ thi đại học vừa qua. Dẫu vậy, ông vẫn tin rằng, học sinh Việt Nam sẽ lại yêu thích lịch sử nước nhà nếu các giải pháp được thực hiện đồng bộ.

Phóng viên (PV): Thưa Giáo sư (GS), trong nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan cùng hội tụ vào thời điểm hiện nay khiến hàng nghìn học sinh được điểm không (0) môn lịch sử trong kỳ thi đại học vừa qua, theo GS đâu là nguyên nhân chính?

GS Đinh Xuân Lâm: Theo cá nhân tôi, nguyên nhân lớn nhất nằm ở việc giảng dạy môn sử học còn quá nhiều bất cập. Lâu nay, chúng ta vẫn sử dụng phương pháp giảng dạy theo lối áp đặt. Sử học không phải là một môn giáo dục, tuyên truyền chính trị thông qua các sự kiện và con số, mà là một môn khoa học với tất cả sự hấp dẫn và khó khăn của nó. Lịch sử cần được nghiên cứu và trình bày một cách khách quan, không thiên kiến thì mới tạo ra sức hấp dẫn được. Tôi dạy sử hơn nửa thế kỷ, tôi biết trẻ em đều yêu thích môn lịch sử.

PV: Như vậy, đầu tiên là phải cải cách về phương pháp dạy lịch sử trong nhà trường?

GS Đinh Xuân Lâm: Chính xác! Giáo viên quá nệ vào sách giáo khoa khiến giờ học sử trở nên khô khan. Những số liệu sử học về cơ bản chỉ mang tính chất minh họa cho một bài học lịch sử được rút ra từ một sự kiện lịch sử. Vấn đề số liệu lịch sử thì học sinh phải tự tìm hiểu lấy trước khi học chính thức giống như tìm hiểu tiểu sử nhà văn và xuất xứ tác phẩm trước lúc vào học văn vậy. Hôm vừa rồi, tôi nghe người ta truyền nhau câu nói đùa mà rất đúng: “Cái gì không biết thì tra Google!”. Ở thời đại công nghệ thông tin, số liệu lịch sử, thậm chí là những câu chuyện bền lề chính sử nhiều vô kể, học sinh cập nhật đôi khi còn nhanh hơn giáo viên; vậy nên, chỉ cần học sinh nắm được tinh thần lịch sử của các sự kiện từ việc nghe giảng trên lớp đã là thành công lắm rồi.

PV: Sự học lại gắn với sự thi. Theo GS, có gì cần thay đổi trong việc thi môn sử không?

GS Đinh Xuân Lâm: Theo tôi, cách ra đề thi môn sử còn có nhiều điều cần thay đổi. Một đề thi đại học bây giờ nhiều câu hỏi quá, đã vậy, ngay trong một câu hỏi có những hai vế không liên hệ trực tiếp sẽ khiến học sinh dễ bị rối trí trong việc lập luận để trả lời. Tôi nhớ, trước những năm 70 của thế kỷ trước, đề thi đại học môn sử cùng lắm chỉ hai câu hỏi và nội dung câu hỏi rất đơn giản như: Bình luận câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một vấn đề trong lịch sử. Cách ra đề này cũng vừa giúp phân loại học lực học sinh vì vừa đòi hỏi học sinh có hiểu biết kiến thức lịch sử vừa đòi hỏi khả năng suy luận với nhiều ý trả lời xoay quanh một câu hỏi. Một khi đã ra đề như trên, giáo viên chấm thi cũng không thể chăm chăm vào mỗi việc xem học sinh có viết đúng các số liệu lịch sử hay không, mà còn phải xem cách lập luận và triển khai bài viết có đầy đủ và chặt chẽ mới là điểm chính. Tôi xin lấy thêm một ví dụ ngoài lề, đề thi môn văn tú tài phần thứ nhất hồi Pháp thuộc mà tôi phải làm bài rất thú vị: Giả sử, hai nhà soạn kịch Pháp là Pierre Corneille và Jean Racine sắp chết đuối khi tàu chở hai ông bị chìm, nếu phải chọn giữa một trong hai ông thì em sẽ chọn cứu ai? Mấy năm qua, tôi thấy đề thi đại học môn văn đã có những câu hỏi rất đơn giản mà buộc học sinh phải có kiến thức về văn chương và khả năng tư duy mới có thể làm được. Theo tôi, cách ra đề thi lịch sử hiện nay tốt nhất nên trở lại theo cách trên.

PV: Phương pháp giảng dạy và cách ra đề thi là một chuyện, nhưng sự thật có nhiều em học sinh, nhiều bậc cha mẹ không coi trọng môn lịch sử, hoặc chỉ học để thi chứ không có ý định gắn bó cuộc đời với khoa học lịch sử, vì sao vậy thưa Giáo sư?

GS Đinh Xuân Lâm: Đúng là để đọc sử như một niềm say mê thì cần phải có cơ duyên. Bản thân tôi yêu lịch sử từ bé là do ảnh hưởng thói quen từ ông cụ thân sinh cũng rất yêu lịch sử. Ngày nay, khó mà trông chờ các bậc phụ huynh khuyến khích con họ theo lịch sử rất khó có tương lai tương sáng, thậm chí có người nói: “Tôi rất xấu hổ khi con tôi đỗ chuyên sử!”. Tôi nghĩ trong khi chờ vào các phương tiện hiện đại và tốn kém như phim ảnh để tuyên truyền kiến thức lịch sử, có nhiều điều đơn giản mà cực kỳ hiệu quả khác có thể thực hiện ngay; chẳng hạn, những câu chuyện ngoài sách giáo khoa lịch sử mà có thể nói công khai thì giáo viên nên kể cho học sinh nghe để học sinh có hứng thú hơn trong việc tự tìm hiểu lịch sử, giúp học sử không còn là sự áp đặt. Và việc đi ngoại khóa nữa, nhiều trường học dù có điều kiện cũng không tổ chức cho học sinh đi các di tích lịch sử ngay trong địa phương.

PV: Trước thực trạng dạy và học sử như hiện nay, theo GS tình hình sẽ chuyển biến như thế nào?

GS Đinh Xuân Lâm: Tôi tin lớp trẻ sẽ lại yêu thích lịch sử chỉ trong thời gian ngắn nếu các giải pháp đổi mới dạy, học được thực thi khẩn trương. Không phải tôi là người lạc quan mới nói vậy, mà qua tiếp xúc thực tế, tôi thấy không chỉ những người trong ngành sử như tôi mới đau đáu với chuyện sử học bị rẻ rúng, mà gần như động đến vấn đề này ai cũng sôi nổi, tôi tin nhận thức xã hội về môn lịch sử sẽ thay đổi tích cực trong thời gian tới. Hơn nữa, như tôi đã nói, học sinh Việt Nam không chán sử học, chẳng qua là các em chưa được hưởng một phương pháp dạy và học sử ưu việt mà thôi.

PV - Xin cảm ơn GS!

HÀM ĐAN (thực hiện)

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

MY GREATEST XI

Nhân trang web Manchester United bình chọn 11 cầu thủ vĩ đại nhất nhất mâng tên Your Greatest XI , bổn blog cũng tự chọn ra 11 cầu thủ vĩ đại nhất của Quỷ đỏ theo đội hình 4-4-2:

1. Thủ môn: Peter Schmeichel

2. Hậu vệ phải: Gary Neville
3. Hậu vệ trái: Dennis Irwin
4. Trung vệ: Jaap Stam
5. Trung vệ: Rio Ferdinan

6. Tiền vệ cánh phải: Cristiano Ronaldo
7. Tiền vệ cánh trái: Ryan Giggs
8. Tiền vệ phòng ngự: Duncan Edwards
9. Tiền vệ công: Paul Scholes

10. Tiền đạo: Sir Bobby Charlton
11. Tiền đạo: Eric Cantona

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

THỜI ĐÀM (XII): BÌNH DỊ MÀ DŨNG KHÍ

Nhiều khi thấy tôi sắm quần áo mới, bà cô làm nghề giáo viên lại chép miệng: “Lớp trẻ bây giờ sướng thật, chả bù cho cô ngày xưa có mỗi bộ quần áo tử tế để đứng lớp”. Nhân tiện, bà lại kể cái chuyện đói ăn thời bao cấp, rồi kể chuyện tranh thủ đi bỏ mối hàng tạp hóa, làm thêm xong lại tất tưởi đến trường “gõ đầu trẻ”, ai hỏi thì trả lời bông đùa: “Tranh thủ đi dạy!”. Tôi nghe nhưng chẳng mấy để tâm đến câu chuyện ngỡ như hoang đường thời quá khứ!

Nhưng tôi đâu biết, những chuyện đói khổ tưởng như đã lui vào dĩ vãng của người làm công ăn lương ở nước mình vẫn còn đâu đó, nhất là với công chức ở cơ sở, vùng cao khó khăn. Vừa rồi, trong chuyến đi miền núi, tôi đã vỡ ra nhiều điều về đời sống của những con người bám trụ ở vùng cao. Trên quãng đường hơn 15 cây số, trò chuyện rủ rỉ mới biết anh xe ôm chở tôi là Hiệu phó một trường tiểu học. Hè đến, học sinh của anh không ngồi trên lớp mà ngồi trên… lưng trâu. Anh đành làm… xe ôm kiếm tiền phụ giúp gia đình. Anh thật thà kể:

- Mình làm giáo viên vùng cao đến nay tròn 13 năm. Học sinh trường mình toàn con em đồng bào dân tộc ít người, không có chuyện dạy học hè như ở thành phố để có thu nhập thêm. Mình chẳng biết làm gì khác, thôi thì đành đi làm xe ôm để cải thiện. Vợ mình trước cũng là giáo viên nhưng giờ ở nhà trông hai cháu vì từ nhà đến các phân hiệu trong huyện có khi hàng chục cây số đường rừng nên chỉ một người đi làm được thôi. Kể cũng ngại khi đi làm thêm như thế này nhưng thời buổi khó khăn đành phải tự khắc phục.

Lên đến một chợ phiên, tôi thấy một chị bán hàng thổ cẩm nói tiếng Anh khá chuẩn, nhấn nhá trọng âm rõ ràng không phải tiếng Anh “bồi”. Tôi đoán chị phải là người được học hành bài bản, hỏi dò thì đúng vậy. Chị kể:

- Em là giáo viên tiếng Anh, tranh thủ thứ bảy và chủ nhật có chợ phiên là đi bán hàng. Gian hàng này em thuê 400 ngàn một tháng, nhờ có vốn tiếng Anh để giao tiếp với khách Tây nên em bán được nhiều hàng hơn người khác, nhưng trừ mọi chi phí cũng chỉ có lời chút đỉnh, gọi là có thêm tí thức ăn cho các cháu. Chuyện cán bộ viên chức ở đây đi làm thêm vào ngày nghỉ nhiều lắm anh ơi! Giá cả có như xưa nữa đâu nên ai cũng phải cố gắng.

Tôi dự hai phiên chợ vùng cao vào hai ngày nghỉ gặp vô số các cán bộ nhà nước đang đứng bán hàng: Anh bán tạp hóa là kế toán, chị buôn vải thiều là nhân viên văn phòng xã… Trò chuyện với từng người thì được biết, ngay cả hai vợ chồng đều có công ăn việc làm nhưng với giá cả leo thang như hiện nay trông chờ vào đồng lương thì không đủ sống. Đi quanh chợ hỏi giá cả các loại hàng hóa mới hay đầu óc mù tịt về kinh tế của tôi đã “bé cái lầm”, hóa ra giá cả lương thực thực phẩm ở trên miền núi chẳng rẻ chút nào; một số mặt hàng tiêu dùng lại đắt hơn dưới xuôi vì phí vận chuyển lên vùng cao đã đội giá lên.

Những bất ổn kinh tế hiện nay ảnh hưởng đến mọi nhà, ngay cả một vị bộ trưởng cũng bảo vợ ông đi chợ về kêu lắm. Nhưng có lẽ không ở đâu như ở vùng cao tác động của giá cả lại mạnh đến vậy. Khó khăn gian khổ trong công tác họ đã quen nhưng nay với sự vất vả trong đời sống thường ngày liệu họ có nản chí? Liệu họ bỏ những bản làng xa xôi để chuyển về miền đất khác thuận lợi hơn? Hoặc chí ít cũng chuyển một nghề nào đó nhàn hơn là phải “cắm bản” để công tác? Đem những thắc mắc đó hỏi các cán bộ miền núi thì hầu hết không ai bày tỏ ý định rời bỏ công tác, họ đều bảo mảnh đất họ đang công tác là “mảnh đất giữ người”, ra đi không nỡ.

Tôi tin là họ nói thật. Chở tôi ra bến xe về Hà Nội, vị Hiệu phó đang hành nghề xe ôm bảo: "Mình làm nốt tháng này đến tháng sau lại quay về bản đi dạy". Trên khuôn mặt xạm đen nhễ nhại mồ hôi, đôi mắt sáng như vẫn ánh lên tin tưởng ở những điều tốt đẹp trong tương lai với nghề giáo cao quý mà anh đã nguyện gắn bó. Còn tôi trên đường về Hà Nội, những lời ca của một bài hát quen thuộc lại vang lên trong đầu: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai/ Ai cũng một thời trẻ trai, cũng từng nghĩ về đời mình”. Tôi chẳng biết làm gì hơn là cầu mong mọi điều tốt đẹp sẽ đến với những con người bình dị mà nhiều dũng khí ở miền núi rừng xa thẳm.

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG