Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012

BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆN NAM: LUÔN LÀM MỚI CHÍNH MÌNH

Trong bối cảnh hệ thống bảo tàng còn nhiều bất cập, việc TripAdvisor (tripadvisor.com) - trang web du lịch lớn nhất thế giới vừa trao cho Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam chứng nhận “Điểm du lịch hấp dẫn nhất năm 2012” tại Hà Nội là một bất ngờ. Làm thế nào một bảo tàng dành cho giới nữ, lại sinh sau đẻ muộn và mới trở lại hoạt động sau 2 năm nâng cấp đã tạo ra thành tích đáng tự hào như vậy?

Những lời khen “có cánh”


“Ấn tượng”, “thú vị”, “hấp dẫn”… là những lời khen của du khách năm châu ghi lại ở phần nhận xét trên trang web TripAdvisor sau khi ghé thăm Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam. Được biết, TripAdvisor là website du lịch lớn nhất thế giới, mang đến cho du khách những lời khuyên đáng tin cậy để có một chuyến đi hoàn hảo. Để nhận được giải thưởng “Điểm du lịch hấp dẫn nhất năm 2012” tại Hà Nội, vượt qua 80 điểm du lịch hấp dẫn khác của Thủ đô, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã đạt được chỉ số đánh giá 4,5 sao trên tổng mức đánh giá 5 sao tiêu chuẩn do các du khách trên trang web TripAdvisor bình chọn trong vòng 12 tháng qua.

Có người nói, những lời khen “có cánh” chủ yếu là của du khách nước ngoài, người Việt Nam liệu chăng có bị Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam cuốn hút? Trước hết, cần nói ngay rằng, người Việt Nam không có thói quen đi xem triển lãm trong bảo tàng như là một hoạt động giải trí và giáo dục. Vì vậy, lời khen từ trong nước có ít cũng là dễ hiểu, nhưng quan trọng hơn là lời chê tương tự như các bảo tàng vắng khách khác thì tuyệt nhiên không có ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.

Với một không gian không lớn và tổng diện tích trưng bày chỉ gần 2000 m2 và với 3 chủ đề lớn: “Phụ nữ trong gia đình”, “Phụ nữ trong lịch sử”, “Thời trang nữ”, tổng cộng hơn 1.000 hiện vật ở hệ thống trưng bày thường xuyên của bảo tàng thực sự dẫn dắt du khách vào hành trình khám phá về những vẻ đẹp đa chiều của người phụ nữ Việt Nam.

Để có hệ thống trưng bày hiện đại, chuẩn mực không thua kém bất cứ bảo tàng nào trên thế giới, ban lãnh đạo và chuyên viên của bảo tàng đã phải làm việc cật lực trong vòng gần 10 năm, trong đó có tới 7 năm làm công tác nghiên cứu khoa học nghiêm túc, từ quan niệm trưng bày, lựa chọn chủ đề, cách kể chuyện, thông tin trên bài viết cho đến thiết kế nội thất, đồ họa, ánh sáng, âm thanh... Bảo tàng có những quy chuẩn riêng, rất nghiêm ngặt trong việc trưng bày. Chỉ riêng bài viết và chú thích hiện vật cũng đòi hỏi phải có sự nghiên cứu nhọc nhằn. Để đảm bảo nội dung thông tin cô đọng, có sức thuyết phục, mỗi bài viết không được quá 1200 ký tự, mỗi chú thích hiện vật không quá 200 ký tự. Viết xong rồi, có nhóm chuyên gia dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp; rồi được một tổ chuyên gia cao cấp hiệu đính, thẩm định... Sau đó, in lên loại gỗ nào, cỡ chữ và kiểu chữ ra làm sao, màu chữ và màu nền gỗ như thế nào... mọi chi tiết đều phải có sự nghiên cứu nghiêm túc chứ không thể làm theo cảm tính. Hệ thống thuyết minh chuyên nghiệp như vậy mất đến 2 năm xây dựng.

Đó là chưa kể những điều “nhỏ nhặt” như bảo tàng xây dựng sự thân thiện với khách tham quan khi không xây dựng hàng rào mà thay bằng đài phun nước thay thế...

Nghiên cứu kỹ mới làm triển lãm

Khi hỏi về nguyên nhân thành công của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, bà Nguyễn Hải Vân (Phó Giám đốc Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam) chia sẻ có những yếu tố khách quan thuận lợi như: Bảo tàng nằm ở trung tâm Hà Nội, được sự đầu tư chu đáo của Nhà nước thông qua Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, sự hỗ trợ của các chuyên gia và tổ chức nước ngoài... Song, bà Nguyễn Hải Vân nhấn mạnh hai yếu tố chính là cách thức làm bảo tàng mới mẻ và thái độ phục vụ.

Với Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, sự hài lòng của khách tham quan là điều tối thượng. Khi triển lãm diễn ra, khách tham quan phàn nàn bất cứ một điều gì như: Cách trưng bày hiện vật, ánh sáng, âm thanh...; cán bộ bảo tàng sẽ xem xét, nếu thực sự chưa tốt lập tức có điều chỉnh thích hợp.

Thái độ phục vụ khách tham quan hết lòng đương nhiên là điều đáng trọng nhưng nếu nội dung các triển lãm nhàn nhạt, “thiếu muối” thì còn lâu Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam mới tạo ra thương hiệu là bảo tàng tổ chức nhiều triển lãm có tiếng vang như hiện nay. Bà Nguyễn Hải Vân lấy ví dụ về cuộc trưng bày “Tín ngưỡng thờ Mẫu: Tâm-Đẹp-Vui” đầu năm 2012 để thấy rõ sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho một triển lãm của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam. Để có được triển lãm thờ Mẫu công phu, được khách tham quan đánh giá cao, các cán bộ bảo tàng mất gần 3 năm thực hiện. Công việc không chỉ có sưu tầm hiện vật, mà còn phải nghiên cứu đạo Mẫu một cách nghiêm túc thông qua sự giúp đỡ của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Chỉ có hiểu được đạo Mẫu mới có thể lựa chọn những hiện vật tiêu biểu để trưng bày và có hệ thống thuyết mình bằng chữ, bằng âm thanh, hình ảnh động sinh động, chính xác. Điểm mới mà trưng bày mang lại là một phong cách trưng bày mới, sinh động do ông James Hicks - chuyên gia thiết kế bảo tàng từ Mỹ đảm nhiệm. Thiết kế sử dụng các tấm rèm làm vách ngăn để tạo tuyến tham quan cho người xem. Ngoài ra, trưng bày được sắp xếp thành bốn chủ đề: Mẫu-Tâm-Đẹp-Vui, tương ứng với 4 màu đặc trưng của Tứ phủ: Màu đỏ (Thiên phủ), màu trắng (Thoải phủ), màu vàng (Địa phủ) và màu xanh (Nhạc phủ). Tất cả các tài liệu hiện vật, vật liệu cũng đi theo 4 màu ấy, đòi hỏi sự lựa chọn công phu và ăn khớp.

Không chỉ có trưng bày “Tín ngưỡng thờ Mẫu: Tâm-Đẹp-Vui”, mà bất cứ triển lãm chuyên đề nào đều được Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam nghiên cứu kỹ, xây dựng nội dung trong cả năm trời. Ai đó từng nói, nếu kiên trì và thực tâm trong làm việc chắc chắn sẽ thu được thành quả nào đó. Có lẽ điều này đúng cho trường hợp Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, nơi có những con người đam mê với công việc và luôn làm mới chính mình.

HÀM ĐAN

THỜI ĐÀM (XXXII): MỘT THÁCH THỨC... THÚ VỊ



Từ cuộc tọa đàm về truyện ngắn dự thi trên Báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) mới đây, bước đầu lộ ra một sự thật khá nhiều người hiểu rõ từ lâu nhưng không ai mạnh miệng nói ra đó là: Truyện ngắn đang lâm vào khủng hoảng!
     Sự khủng hoảng ở đây hiểu theo hướng chất lượng chứ không phải số lượng. Người viết truyện ngắn vẫn đông đảo và luôn trẻ hóa đội ngũ - đây là điều mà ở lĩnh vực nghiên cứu văn học và tiểu thuyết luôn ghen tỵ; nhưng truyện ngắn hay, gây xôn xao dư luận cứ thưa dần. Những “cú sốc” mà truyện ngắn mang lại gần đây nhất là “Cánh đồng bất tận” (Nguyễn Ngọc Tư) và “Bóng đè” (Đỗ Hoàng Diệu) từ năm 2005 hay sự xuất hiện của giải nhất truyện ngắn Báo Văn nghệ năm 2007 của “lão nông viết văn” Ngô Phan Lưu cũng đã qua lâu. Nền truyện ngắn rộng mà đỉnh cao ít, tại sao lại như vậy? Bao giờ thời hoàng kim truyện ngắn như những năm cuối 1980 đầu 1990 trở lại?
     Quay ngược lại lịch sử, thời kỳ văn học đầu những năm Đổi mới được xem là thời kỳ đỉnh cao của truyện ngắn Việt Nam. Thời kỳ này truyền thông đại chúng chưa phát triển, văn học đương nhiên vẫn đang chiếm ưu thế. Thêm vào đó, thời kỳ này đời sống đang vận động mạnh mẽ, nảy sinh nhiều cái mới, đôi khi tạo ra mâu thuẫn với cái cũ. Đây chính là mảnh đất màu mỡ chất liệu cho truyện ngắn vì bản chất của truyện ngắn là từ một xung đột rất nhỏ cũng tạo ra một cốt truyện. Khi những yếu tố khách quan thuận lợi không còn, cộng với việc trình độ người đọc nâng cao và sự lớn mạnh của văn học dịch cũng như việc người người đua nhau viết tiểu thuyết khiến truyện ngắn thu hẹp phạm vi ảnh hưởng đáng kể.
     Đổ lỗi cho hoàn cảnh khách quan thì khá dễ, nhìn thẳng vào nguyên nhân chủ quan mới khó. Truyện ngắn có khả năng biến hóa cao về dung lượng (từ vài chục từ cho đến vài chục trang), phân loại (kỳ ảo, khôi hài, hiện thực…) và nội dung (mọi thứ đều có thể tạo biến cố trong cốt truyện). Truyện ngắn tự do như vậy đồng nghĩa với việc nhà văn thỏa sức sáng tạo nhưng thực tế truyện ngắn Việt Nam đương đại không khác nhiều truyện ngắn 20-30 năm trước. Vẫn là lối kể truyện rề rà, nệ thực, lộ liễu truyền đi một thông điệp khoác cái áo nhân văn hoặc giáo dục… Sự nghèo nàn trong sáng tạo truyện ngắn xuất phát từ nhận thức cũ kỹ: Truyện ngắn hay là kể một câu chuyện bằng dung lượng ngắn một cách rõ ràng. Như đã nói ở trên, truyện ngắn tự do trong thể hiện nhưng để có một truyện ngắn có sức nặng lại đòi hỏi công phu của người viết. Chi tiết nào là chủ đạo trong truyện? Cốt truyện phát triển đến độ nào thì dừng lại để tạo ra kết cấu thích hợp? Chọn giọng điệu, kiểu ngôn từ nào hợp với tâm trạng nhân vật và đủ để truyền tải thông điệp ngầm ẩn? Chưa kể, các yếu tố trong truyện ngắn cần hài hòa với nhau để tạo ra một chỉnh thể nghệ thuật. Bỏ bẵng đi nhu cầu đổi mới mà vẫn loay hoay dưới cái bóng của mô hình truyện ngắn cũ là nhược điểm chí tử của truyện ngắn hiện nay.
     Chưa bao giờ như bây giờ, yêu cầu cách tân truyện ngắn cấp thiết hơn vì cũng như mọi thứ tồn tại trên đời, truyện ngắn cần một sự biến dịch. Việc thay đổi sẽ mang lại một giá trị bất hủ, vĩnh hằng thì e rằng là tham vọng quá lớn; nhưng nếu không thay đổi cách viết truyện ngắn sẽ lặp lại chính mình, đến và đi rất nhanh trong trí nhớ người đọc. Thêm vào đó, đọc truyện ngắn khá mệt mỏi vì cũng như thơ, đòi hỏi người đọc phải đọc chậm rãi nhiều lần mới hiểu các bí mật nhà văn cất giấu đằng sau câu văn. Đòi hỏi từ khách quan bạn đọc lẫn chủ quan làm mới của thể loại là một thách thức… thú vị với các cây bút truyện ngắn Việt Nam mà sớm hay muộn họ phải thực hiện.
     Nếu được quyền lạc quan thì mong sao lại xuất hiện một cây bút truyện ngắn xuất sắc mới tinh để chí ít xua đi vẻ ảm đạm bao trùm lên truyện ngắn nước nhà. Sự xuất hiện này không chỉ kéo người đọc quan tâm đến truyện ngắn, mà còn tạo động lực cho người viết.
                                                 HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

CẦN TIẾP TỤC NUỐI DƯỠNG CẢM HỨNG VIẾT VỀ CHIẾN TRANH




Phóng viên (PV): Thưa PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp, ông có thể nêu đặc điểm chính của văn học viết về chiến tranh trong văn học Việt Nam hiện đại?
PGS,TS Nguyễn Đăng Điệp: Trong thế kỷ XX, hiếm có dân tộc nào trải qua hai cuộc chiến chống Pháp và Mỹ khốc liệt như dân tộc Việt Nam, và cuối cùng chúng ta là người chiến thắng. Bởi thế, đề tài chiến tranh là đề tài lớn trong văn học Việt Nam, ngay cả khi đất nước đã hòa bình thì chiến tranh vẫn là một đề tài ám ảnh.

Vấn đề đặt ra là thời gian qua các nhà văn đã viết về chiến tranh như thế nào? Theo tôi có hai hướng nổi bật: Thứ nhất, viết về chiến tranh như thực trạng chiến tranh đã diễn ra. Đây là lối viết nhìn chiến tranh ở cự ly gần. Lối viết này dễ gây được hiệu quả xã hội tức thì vì mục đích của nó là biểu dương kịp thời tinh thần dũng cảm, sự quật cường của dân tộc. Giá trị chủ yếu của nó nằm ở tính nóng hổi của các sự kiện được ghi lại. Tuy nhiên, khi chiến tranh đã lùi xa, sức nóng của các sự kiện đã giảm xuống, tâm lý thị hiếu người đọc thay đổi, những tác phẩm được viết theo yêu cầu kịp thời khó lôi cuốn được độc giả vì phần lớn các tác phẩm này hoặc là ghi chép hoặc mang màu sắc truyện ký.

Lối viết thứ hai là sự gián cách với chiến tranh bằng một độ lùi cần thiết. Lối viết này thường chậm hơn so với lối viết thứ nhất, nhưng ưu thế là cái nhìn và cảm hứng lý giải về chiến tranh sâu hơn, bình tĩnh hơn. Chiến tranh là một phần của lịch sử, hơn thế, bản thân nó cũng là một lịch sử, mà diễn giải về lịch sử thì có thể xuất phát từ nhiều điểm nhìn khác nhau. Trong lối viết thứ hai, những suy tư cá nhân về chiến tranh, về số phận con người và dân tộc thường nổi bật hơn. Tôi nghĩ rằng lối viết này phù hợp hơn với tư duy nghệ thuật hiện đại.

Những năm gần đây, giới sáng tác và độc giả quan tâm đến đề tài lịch sử. Có loại lịch sử xa (cách chúng ta hàng trăm thậm chí hàng ngàn năm), có loại lịch sử gần (cách thời hiện tại khoảng dăm chục năm). Cái khó của đề tài lịch sử gần là chưa có độ lùi thời gian để chúng ta nhìn về chiến tranh ở cả hai mặt được và mất. Và diễn giải chiến tranh của nhà văn, nếu trái chiều, trái kênh, rất dễ bị phản ứng của người đọc. Những tôi nghĩ, trong khoảng ba mươi năm qua, văn học về chiến tranh đã có nhiều tác phẩm hay của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Chu Lai, Bảo Ninh, Trung Trung Đỉnh, Thái Bá Lợi… Về thơ có thể kể đến thơ Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Anh Thái... Họ là những người lính viết về trải nghiệm của mình, nỗi đau và sự hy sinh của thế hệ mình và trong số phận thế hệ ấy có số phận dân tộc.Điều đáng chú ý là sau 1975, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, tuy với độ lùi thời gian chưa nhiều, nhưng nhiều nhà văn đã biết nhìn chiến tranh ở cả mặt phải lẫn mặt trái của tấm huy chương. Nghĩa là giờ đây, một giọt nước mắt, một nỗi đau, một ly biệt… cũng được hiểu như là một nhân tố góp phần tạo nên chiến thắng của dân tộc. Tư duy nghệ thuật mới tạo nên độ mở trong cách viết của nhà văn. Trước đây, các nhà văn quan tâm đến lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp thì sau này họ nhìn chiến tranh bằng cái nhìn nhân bản. Điều đó thể hiện ở việc các nhà văn quan tâm nhiều hơn đến số phận con người, qua đó nhìn thấy số phận lịch sử và dân tộc, thay vì số phận cá nhân chỉ là minh họa cho số phận dân tộc như trước đây. Vì thế, chiều sâu nội tâm và những chấn thương tinh thần của nhân vật được miêu tả kỹ lưỡng hơn. Tôi muốn đề cập đến một tác phẩm gây nhiều tranh cãi là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Có ý kiến cho rằng, Bảo Ninh viết Nỗi buồn chiến tranh để giải thiêng lịch sử, hạ thấp ý nghĩa chiến thắng.... Tôi không nghĩ như vậy. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết gắn với hồi ức đứt nối của nhân vật Kiên. Chính trong sâu thẳm những dằn vặt của Kiên, chiến tranh hiện lên chân thực hơn bao giờ hết, người đọc nhận ra để có chiến thắng vĩ đại chúng ta đã trải qua biết bao đau đớn. Đọc tác phẩm này cần đến một cái nhìn chia sẻ để thấu hiểu những âu lo, khắc khoải phận người.

Đúng là trong thời đại chúng ta đang sống, những người đam mê viết về chiến tranh không còn nhiều. Nhà văn chủ yếu viết về vấn đề đô thị hóa, những thăng trầm đời sống thường nhật, thậm chí nhiều người hướng tới các đề tài “hot” như: sex, đồng tính… Theo tôi đó là chuyện bình thường. Nhưng tôi nghĩ, viết về chiến tranh vẫn là một yêu cầu riết róng đối với nhà văn bởi hiểu chiến tranh, hiểu quá khứ dân tộc là cách chúng ta bước đến tương lai một cách chắc chắn hơn.

PV: Theo phân tích của ông, thời đại đã khác phải chăng cần một cách viết khác về chiến tranh?

PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp: Đúng thế. Thời nào có mối quan tâm của thời ấy. Chiến tranh dù đã đi qua nhưng không có nghĩa là tất cả đã khép lại. Thực ra, nó vẫn can dự đến đời sống chúng ta, tuy không trực diện và trực tiếp. Tôi nghĩ mỗi nhà văn sẽ có cách tiếp cận về chiến tranh theo suy nghĩ riêng của họ. Nhưng có hai điều đáng lưu ý trong cách viết về chiến tranh từ điểm nhìn hôm nay. Thứ nhất, diễn giải mới về chiến tranh không đồng nghĩa với việc xuyên tạc lịch sử mà đó phải là những hình thức mới mẻ khiến cho lịch sử hiện lên chân thực hơn. Xin đừng hiểu chân thực là ghi chép, nệ thực mà đó là nỗ lực miêu tả những mặt khuất kín, những hàm nghĩa chìm ẩn theo tinh thần của Xê-da (Caesar) phải trả về cho Xê-da. Tất nhiên, từ cuộc sống bình thường hôm nay viết về chiến tranh như một bất thường của lịch sử bao giờ cũng khó khăn. Nó đòi hỏi nhà văn phải nghiên cứu kỹ lưỡng lịch sử.

Thứ hai, kỹ thuật tự sự ngày nay có nhiều thay đổi lớn. Viết về chiến tranh không đơn giản là kể lại câu chuyện tuyến tính có đầu có cuối, mà phải biết sử dụng, sáng tạo những phương thức biểu đạt mới để thu hút người đọc trở lại một đề tài cũ mà thực ra chưa bao giờ cũ. Tất nhiên, nói nhà văn cần nuôi dưỡng cảm xúc viết về chiến tranh không có nghĩa là cổ súy cho chiến tranh mà thông qua đó, nhà văn khơi gợi niềm tự hào dân tộc, giúp người đọc hiểu rằng cuộc sống hôm nay được đánh đổi bằng hạnh phúc của bao thế hệ hôm qua. Để tái hiện chiến tranh một cách sinh động, tôi nghĩ một mặt nhà văn cần tiếp tục nuôi dưỡng cảm hứng viết chiến tranh; mặt khác, phải dày công nghiên cứu và có trí tưởng tượng phong phú, biết giải phóng trí tưởng tượng khỏi những sự kiện vụn vặt bằng cái nhìn nghệ thuật độc đáo, mới lạ.

PV: Theo ông, để viết về chiến tranh trong hoàn cảnh mới các nhà văn cần chuẩn bị những gì?

PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp: Tôi đã lý giải phần nào câu hỏi này ở trên. Tôi muốn nhắc đến một nhà văn tâm huyết với lịch sử là Nguyễn Xuân Khánh. Nếu Hồ Quý LyMẫu Thượng ngàn quan tâm đến “lịch sử xa” thì Đội gạo lên chùa quan tâm đến “lịch sử gần”. Đội gạo lên chùa có phần lịch sử hiện đại là giai đoạn chống Pháp và Mỹ. Trong tác phẩm này, Nguyễn Xuân Khánh nói đến ứng xử của con người trước những biến động của lịch sử theo quan điểm tùy duyên. Ông viết về những cái được mất trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, và ngay cả thời bình, con người vẫn gặp đầy rẫy đau khổ, trong đó có những đau khổ do sự ấu trĩ và đơn giản của chính chúng ta. Tôi nghĩ viết về chiến tranh cũng thế, phải thấy cả cái hùng lẫn cái bi, cái cao cả lẫn thấp hèn, cái nhân tính và phi nhân tính. Những giá trị ấy không hẳn lúc nào cũng hiện lên theo cách phân tuyến mà nhiều khi cùng hiện hữu trong từng con người cụ thể. Trong quan niệm hiện đại, lịch sử không tồn tại tĩnh lặng, mà luôn chuyển động. Là một phần của lịch sử, chiến tranh, khi đi vào nghệ thuật, phải được diễn dịch lại, cấu trúc lại theo cái nhìn của chủ thể sáng tạo. Bởi thế, có bao nhiêu tác phẩm về chiến tranh là có bấy nhiêu lần chiến tranh được tái cấu trúc.
Còn nhớ, để miêu tả trận Borodino diễn ra gần 60 năm trước khi viết Chiến tranh và hòa bình, văn hào Lép Tôn-xtôi đã dày nghiên cứu, điều tra kỹ lưỡng; kết quả là ông đã miêu tả cuộc chiến một cách mĩ mãn. Thông qua việc miêu tả cuộc chiến, nhà văn đã nói lên sự vĩ đại của dân tộc Nga, tính cách Nga và tri nhận lịch sử bằng cái nhìn giàu tính nhân đạo. Sự vĩ đại của Tôn-xtôi nằm ở chỗ, sau này người ta biết đến trận Borodino qua tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của ông nhiều hơn là qua các bộ sử.

Viết về hai cuộc kháng chiến đã qua của dân tộc, việc lựa chọn điểm nhìn nào, tâm thế nào buộc nhà văn phải tính đến. Điều đó sẽ giúp họ miêu tả cuộc chiến phiến diện hay không phiến diện. Ở đây, cái nhìn nghệ thuật của nhà văn cần mang chứa những quan niệm/ tư duy mới về lịch sử. Mặt khác, cần phải nhớ rằng lịch sử không phải là câu chuyện riêng của những anh hùng có tên mà còn là câu chuyện của những anh hùng không tên, những anh hùng vô danh nhưng vĩ đại.

Nói thế để thấy rằng viết về chiến tranh luôn là một thử thách đầy khó khăn đối với người cầm bút. Muốn viết hay, dứt khoát họ phải có tài năng thực, đam mê thực và một chiến lược tự sự hiện đại, hợp lý.

PV: Với tư cách là Viện trưởng Viện Văn học, ông nghĩ cần có những điều kiện gì để văn học viết về chiến tranh trở lại như xưa?

PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp: Đây là cả một câu chuyện dài, liên quan đến nhiều phía: Sự đam mê của nghệ sĩ, sự quan tâm của các nhà quản lý, sự ủng hộ cái mới của người tiếp nhận vì không thể thẩm định những sáng tạo mới bằng đôi mắt cũ, bằng những định kiến cũ. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất chính là niềm say mê của nhà văn, là tinh thần đối thoại lịch sử nên gốc nền nhân bản nhân văn. Tôi nghĩ, nếu nhà văn miêu tả và lý giải về chiến tranh bằng cái nhìn nhân văn hiện đại, họ không bao giờ bị lạc vào hư vô. Thậm chí, họ chính là những người khơi thức những giá trị hiện đại tiềm ẩn trong những giá trị tưởng đã vĩnh viễn trôi qua...

- Xin cảm ơn PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp!

HÀM ĐAN (thực hiện)

THỜI ĐÀM (XXXI): QUAN TRỌNG LÀ VIẾT NHƯ THẾ NÀO



Mới đây, Hội Nhà văn Hà Nội và NXB Kim Đồng đã tổ chức kỷ niệm 70 năm ra đời tác phẩm thiếu nhi kinh điển “Dế mèn phiêu lưu ký” của nhà văn Tô Hoài. Sự vinh danh cho một tác phẩm văn học hiện đại là khá hiếm nhưng với trường hợp “Dế mèn phiêu lưu ký” quả xứng đáng.

     “Dế mèn phiêu lưu ký” là dấu ấn quan trọng nhất trong sự nghiệp của Tô Hoài. Nói đến Tô Hoài, ai ai cũng biết ông là “cha đẻ” chú dế mèn dù ông đã viết hơn 150 tác phẩm, trong đó không thiếu những tác phẩm xuất sắc như: “Giăng thề”, “Cỏ dại”, “Truyện Tây Bắc”, “Cát bụi chân ai”, “Giấc mộng ông thợ dìu”... “Dế mèn phiêu lưu ký” không chỉ là “người bạn” của nhiều thế hệ độc giả Việt Nam trong suốt 70 năm qua mà còn quen thuộc với bạn đọc nhí toàn cầu khi đã được dịch ra gần 40 thứ tiếng.

     Do ảnh hưởng của Nho giáo, nhà văn ở ta thường quan niệm tác phẩm văn học là một thứ gì đó rất ghê gớm, như là công cụ để truyền tải các chân lý nhằm giáo huấn “tiểu nhân”, bênh vực kẻ thấp hèn... Tóm lại là nuôi tham vọng muốn tác phẩm văn học là “vũ khí” tinh thần tác động tới xã hội. Sự kỳ vọng quá mức khiến tác phẩm khó hay như việc bắt con lừa chở quá nhiều hàng hóa khiến nó không thể cất bước. Vì thế, những đề tài to lớn, “đại tự sự” thường được nhà văn ở ta ưu tiên viết, chứ không mấy ai lựa chọn ngay từ đầu là sẽ viết về đề tài thiếu nhi vì cho nó là nhỏ nhặt, như chuyện bọn “trẻ con”. Năm xưa, ngay cả Tô Hoài để đời bởi “Dế mèn phiêu lưu ký” đã bị một đàn anh ngụ ý coi thường khi gọi ông là tác giả của mấy tác phẩm viết về giun dế!

     Những người coi thường văn học thiếu nhi đã quên đi điều sơ đẳng (nhưng quan trọng nhất) là để có một tác phẩm văn học hay là phải kể chuyện như thế nào, chứ không phải là kể về cái gì. Nghĩa là một cây bút trẻ tuổi nghề cứ an tâm viết điều mình quen thuộc nhất, tâm đắc nhất; chứ đừng quá chú ý đến hiệu quả tác phẩm. Lý luận văn học hậu hiện đại nói đến “cái chết của tác giả”, nghĩa là một khi được xuất bản, ý nghĩa tác phẩm được diễn giải thuộc về người đọc chứ không còn là của tác giả nữa.

     Hãy lấy ví dụ từ “Dế mèn phiêu lưu ký” để thấy rõ Tô Hoài có lẽ vô thức đã thực hành đúng như những gì mà lý luận văn học tân tiến định hướng. Tô Hoài viết “Dế mèn phiêu lưu ký” là từ đơn đặt hàng của Vũ Đình Long-ông chủ NXB Tân Dân; và ông chọn những gì thân thuộc của đứa trẻ ở ngoại ô Hà Nội trước 1945. Khi chất liệu văn học đã nằm lòng, viết sẽ dễ hơn ở chỗ không chỉ có chi tiết sinh động mà tâm tư tình cảm người viết đương nhiên sẽ dâng trào, thuận lợi cho sáng tạo.

     Tô Hoài từng tâm sự, ông viết “Dế mèn phiêu lưu ký” trong bối cảnh chủ nghĩa phát xít đang ở thế thượng phong và ông suy nghĩ rằng các dân tộc phải có tình bằng hữu mới ngăn chặn được bọn phát xít-đại diện cho cái ác, cái xấu. Nếu gạt bỏ bối cảnh chính trị-xã hội 70 năm trước, người đọc trước hết cảm nhận đây là câu chuyện hay về loài vật và phần nào vẫn hiểu được thông điệp của tác giả. Chính nhờ cách kể chuyện tự nhiên như không, nhân cách hóa loài vật tài tình và viết truyện bằng suy nghĩ của những đứa trẻ nên Tô Hoài đã truyền tải thông điệp một cách “êm đềm” vào suy tư độc giả.

     70 năm đã trôi qua nhưng giá trị nghệ thuật và giáo dục của “Dế mèn phiêu lưu ký” vẫn chưa hề phai mờ. Nếu ai đó đọc một số truyện thiếu nhi nước ngoài sử dụng nhân vật chính là các loài vật sẽ thấy chẳng hay ho hơn “Dế mèn phiêu lưu ký” chút nào. Để có thể có một tác phẩm văn học thiếu nhi đạt đỉnh như “Dế mèn phiêu lưu ký” hay rộng ra là tác phẩm văn học nói chung, có lẽ các nhà văn cần có nhận thức (hoặc đôi khi là sự vô thức) về thực chất công việc mình là kể một câu chuyện hay.

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

THỜI ĐÀM (XXX): NGHĨ VỀ ĐẠO THẦY TRÒ HÔM NAY



Truyền thống “tôn sư trọng đạo” có thể tìm thấy ở bất cứ xã hội nào và thời đại nào. Điều này không chỉ đơn thuần là quan niệm về cách cư xử mà đã trở thành một phạm trù đạo đức.

    Nước ta, do hoàn cảnh lịch sử, văn hóa-xã hội nên việc yêu quý người thầy, xem nghề giáo là nghề cao quý, luôn được thể hiện đậm đà. Từ thời Hoàng đế Lê Thánh Tông (cuối thế kỷ XV), khi Nho giáo độc tôn khiến cho con đường tiến thân của muôn dân chỉ còn cách duy nhất là học ngày học đêm thi đỗ để ra làm quan. Nếu không may mắn đỗ đạt thì về quê làm thầy để “hành đạo” theo lý tưởng Nho giáo. Mặt khác, Nho giáo là học thuyết cai trị thời bình, quy giản toàn bộ các quan hệ phức tạp của con người vào “tam cương, ngũ thường”. Và nếu giản lược hơn nữa là quan hệ cha-con kiểu thứ bậc cao thấp. Thầy được xem như đấng sinh thành thứ hai như lời một bài hát thiếu nhi vô tình rất đậm chất… Nho giáo: “Khi đến trường, cô giáo như mẹ hiền”.

Tình thầy trò tốt đẹp được duy trì ổn định suốt mấy trăm năm in dấu trong truyền thuyết về người con thủy thần học trò của thầy Chu Văn An cho đến những chuyện đời thường như thầy cưu mang trò nghèo… Ngày hôm nay, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ít nhiều bị mặt trái cơ chế thị trường làm méo mó, trong đó đáng lo ngại là tình cảm thầy trò không còn thân thiết như cha-con trong một nhà mà ngày càng thực dụng hóa. Muốn có bảng thành tích đẹp trong học tập không thể không “đi thăm” thầy với đủ quà cáp, phong bì này nọ. Tư cách người thầy ở một số giáo viên hiện đang khá thảm hại. Có chuyện một giảng viên đại học hẳn hoi lên lớp nói thẳng: "Đi dạy mà nhà trường chỉ trả vài trăm ngàn đồng thì con cái ở nhà chỉ có nước chết đói"! Những sinh viên đương nhiên không còn là những đứa trẻ ngây thơ mà thừa hiểu giảng viên đã “bật đèn xanh” thì phải làm gì tiếp theo…

Văn hóa Nho giáo là nền văn hóa biết xấu hổ. Văn hóa xấu hổ xuất phát từ tư tưởng đức trị, biến đạo đức thành một thứ luật vô hình, lạt mềm nhưng buộc chặt. Đối tượng do sợ xấu hổ vì thế mà không dám làm liều. Nhưng một khi hiện tượng đáng xấu hổ (mà không xấu hổ) trở thành phổ biến thì ai cũng có thể làm mà không bị lên án. Sự nguy hiểm của tính thực dụng trong quan hệ thầy trò ở chỗ, những học trò mai này trở thành người có tiền, có quyền, nhiều khả năng kế tục việc… “làm liều” do nhiễm tính thực dụng từ người thầy hồi còn đi học.

Chẳng khó khăn để tìm ra nguyên nhân cho những hành động vô đạo đức của những người thầy lẽ ra phải là tấm gương đạo đức cho học trò noi theo. Ai cũng biết đồng lương cho giáo viên thấp như thế nào. Những người thầy nào đa năng, giỏi quan hệ may ra mới có thu nhập kha khá; còn lại đều phải đi làm thêm những nghề lao động chân tay khác. Nỗi buồn giáo viên “tranh thủ đi dạy”, nghề chính thành nghề phụ cách đây mấy chục năm đâu đã hết. Đơn xin ra khỏi ngành cũng không phải là ít; nhiều giáo viên bỏ nghề còn ngậm ngùi: Nếu phải lựa chọn lại, họ sẽ không chọn nghề giáo nữa.

Nhiều giáo viên sống chết với nghề thì tìm cách dạy thêm ngoài giờ. Chiểu theo Thông tư số 17 quy định về dạy thêm, học thêm do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 16-5-2012 không hề cấm dạy thêm nếu đáp ứng những quy định thủ tục, nhưng nhiều nơi cấm hẳn và rình bắt dạy thêm như… bắt trộm. Còn gì tủi hổ hơn khi giáo viên bị bắt quả tang, lập biên bản tại chỗ, đề nghị ký xác nhận vi phạm dạy thêm trước mặt học trò. Thiết nghĩ, làm luật cần phải bám sát cuộc sống và khi thi hành luật cần có hướng tạo điều kiện cho những giáo viên sống bằng nghề một cách chân chính, đừng để họ tha hóa.

Cứ mỗi dịp Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 đến, tôi lại chợt nhớ hình ảnh anh xe ôm hiền lành, nhễ nhại mồ hôi chở tôi đi công tác ở một huyện miền núi xa xôi; rụt rè thổ lộ là Phó hiệu trưởng một trường tiểu học tranh thủ nghỉ hè đi làm thêm. Tôi tin những người thầy kiên trì vượt qua gian khó dạy chữ, dạy làm người cho học trò như anh vẫn là số đông. Nhưng, không thể để những người thầy cứ phải tự mình gánh nhiều khó khăn trong nghề nghiệp và cuộc sống như thế; sự chung tay quan tâm, giúp đỡ của toàn xã hội sẽ làm những người thầy vững tin hơn ở nghề nghiệp cao quý mà họ đã chọn.

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

NHỮNG KINH NGHIÊM NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT CHIẾN TRANH NƯỚC NGOÀI



Chiến tranh luôn là một đề tài tạo cảm hứng bất tận cho văn học; trong đó, tiểu thuyết là thể loại văn học có nhiều thành tựu hơn cả. Mối quan hệ tốt đẹp này không hề khó hiểu. Trước hết, chiến tranh tạo ra cuộc sống bất bình thường; những cảm xúc con người lên tới cao độ, nhất là khi đối diện với cái chết. Để thể hiện sự phức tạp của chất liệu chiến tranh qua phương thức sáng tạo đặc thù của văn học thì tiểu thuyết tỏ ra có ưu thế bởi tiểu thuyết là “thể loại duy nhất còn đang chuyển biến” và “nòng cốt chưa hề rắn lại”-như nhà lý luận tiểu thuyết kiệt xuất người Nga Mi-khai-in Ba-khơ-tin (Mikhail Bakhtin, 1895-1975) từng nhận xét.

Ở các nền văn học phát triển, không chỉ có những tiểu thuyết gia từng kinh qua chiến tranh mới viết và viết hay về đề tài chiến tranh. Thời gian càng lùi xa, hiện nay, chính những nhà văn trẻ không biết đến mùi thuốc súng mới đang là chủ lực làm nên những tiểu thuyết chiến tranh hay nhất. Đặt một sự so sánh với hoàn cảnh nước ta mới dứt tiếng súng chưa lâu và trong suốt chiều dài lịch sử trải qua nhiều chiến thắng quân sự oai hùng; nhưng lại không có các tiểu thuyết xứng tầm. Vì vậy, việc tìm hiểu căn nguyên thành công của tiểu thuyết chiến tranh nước ngoài và rút ra kinh nghiệm để làm mới tiểu thuyết chiến tranh Việt Nam là điều cần thiết.

***

Trước khi sáng tác, mỗi nhà văn đều có thái độ nhìn nhận cuộc chiến dưới góc nhìn cá nhân, điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của các tiểu thuyết sau này. Về cơ bản thái độ của các nhà văn nhìn chiến tranh theo hai hướng sau: Thứ nhất, xem cuộc chiến là chính nghĩa hay phi nghĩa. Ví dụ ở Mỹ, các văn nghệ sĩ nói chung xem việc quân đội Mỹ can dự vào Đệ nhị Thế chiến (1939-1945) là hợp đạo nghĩa khi họ chống lại phe Phát xít cứu loài người và nhất là họ bị tấn công trước trong trận Trân Châu cảng ngày 7-12-1941. Ngược lại, với cuộc chiến Việt Nam, các văn nghệ sĩ Mỹ đều bày tỏ hoài nghi về tính chính đáng trong việc tham chiến và nuối tiếc cái giá của cuộc chiến là quá lớn. Thái độ thứ hai là nhà văn nhìn bất cứ cuộc chiến tranh đều là thảm họa cho con người nói chung. Hai xu hướng trên xuất hiện song song nhau với nhau và đều để lại tác phẩm giá trị.

Việc lựa chọn khuynh hướng nhằm khẳng định tư tưởng là yếu tố chủ đạo trong tiểu thuyết chiến tranh chỉ thịnh hành hồi đầu thế kỷ XX như tiểu thuyết kinh điển “Phía Tây không có gì lạ” (1929) của nhà văn Đức E-ríc Ma-ri-a Rơ-mác (Erich Maria Remarque, 1898-1970). Ý nghĩa và mức độ tàn khốc của cuộc chiến như cách liệt kê trong sách giáo khoa lịch sử bị hạn chế tối đa trong tiểu thuyết chiến tranh đương đại.

Ngày nay, đa phần các nhà văn có thể lựa chọn bất kỳ một cuộc chiến nào với chức năng làm bối cảnh cho tiểu thuyết để đạt đến mục đích chính là khám phá tâm lý, tâm linh con người, nhất là người chiến sĩ. Như trong tiểu thuyết “Nhẫn thạch” của nhà văn Pháp gốc Áp-ga-nix-tan A-típ Ra-hi-mi (Atiq Rahimi) đoạt giải Goncourt 2008, kể về câu chuyện người phụ nữ Áp-ga-nix-tan chăm sóc người chồng trúng đạn sống “thực vật” trong một căn phòng chật hẹp. “Nhẫn thạch” có thể xem là một tiểu thuyết chiến tranh tối giản khi không khí cuộc chiến tàn khốc ở Áp-ga-nix-tan chỉ hiện diện thông qua tiếng súng vang vọng từ ngoài căn phòng. Cuốn tiểu thuyết lời độc thoại của người vợ với người chồng còn sống mà như đã chết, và cô đã nói hết tất cả những ẩn ức dồn nén của người phụ nữ Hồi giáo mà không cần e ngại vi phạm cấm kỵ. Những lời bộc bạch của cô có lẽ cũng là lời của một dân tộc đã quá suy kiệt vì chinh chiến suốt hàng thập kỷ. Qua “Nhẫn thạch”, chúng ta có thể rút ra một kinh nghiệm hay đó là một tiểu thuyết chiến tranh tầm cỡ không nhất thiết phải sử dụng chất liệu là những trận chiến đẫm máu với những mốc sự kiện lịch sử cụ thể mà cần chú trọng đến thân phận con người trong chiến tranh. Chú trọng làm rõ thân phận con người một cách cụ thể, có chiều sâu lập tức sẽ phản chiếu được tính chất, mức độ... của cuộc chiến.

***

Một vấn đề mà lâu nay người sáng tác văn học ở Việt Nam luôn mắc phải như húc vào tường là giải quyết vấn đề giữa văn học và hiện thực. Nhìn một cách cụ thể ở trường hợp của tiểu thuyết chiến tranh, nhiều người lo ngại thế hệ nhà văn trẻ trưởng thành sau năm 1975 chỉ biết đến chiến tranh thông qua tư liệu sẽ khó viết hay hơn các tiền bối đã có kinh nghiệm khi vừa cầm bút vừa cầm súng. Điều lo ngại nói trên là chính đáng nhưng không đáng... lo ngại! Quy luật văn học cho thấy, không phải cuộc chiến lớn sẽ cung cấp chất liệu để cho ra đời tác phẩm lớn; đồng thời, nhiều tiểu thuyết gia viết về chiến tranh chỉ thông qua tư liệu cũng có thể đạt được thành công như trường hợp nhà văn Pháp Alexis Jenni (A-lê-xi Gien-ni) sinh năm 1963 đã viết tiểu thuyết dày hơn 600 trang “Binh thư của người Pháp” (2011) đoạt Giải Goncourt 2011 về cuộc chiến của người Pháp Đông Dương và An-giê-ri.

Khoảng giữa thế kỷ XX là thời điểm các yếu tố đối nghịch với chất liệu trần trụi, tàn khốc của chiến tranh như trào phúng, huyền ảo... xâm nhập mạnh mẽ làm phong phú thêm tiểu thuyết chiến tranh, tạo ra những kiệt tác như tiểu thuyết “Lò sát sinh số 5” (1969) của nhà văn Mỹ Cớt Vôn-nê-gớt (Kurt Vonnegut, 1922-2007) viết về cuộc du hành xuyên thời gian của anh lính Bi-li Phiêu-rum (Billy Pilgrim) đang tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Với các nền văn học đi sau như Trung Quốc, Nhật Bản... những yếu tố phi thực khi kết hợp với tư duy, văn hóa và chất liệu bản địa đều tạo ra những tác phẩm độc đáo như trường hợp các tiểu thuyết của nhà văn mới đoạt giả Nobel Văn học 2012 Mạc Ngôn. Ở nước ta, tác phẩm văn học đậm chất phi thực rất hiếm, đặc biệt là trong tiểu thuyết chiến tranh, không hiểu sao các nhà văn nước ta không thử nghiệm theo hướng sáng tạo này? Hiện tại, những tiểu thuyết chiến tranh viết theo kiểu hiện thực “soi gương” gần như không còn được chú ý! Lý do là thời buổi bây giờ là thời đại nghe-nhìn, tiểu thuyết chiến tranh không thể địch nổi với phim ảnh kể cả phim tài liệu chiến tranh; thậm chí nếu một loạt bài báo viết về một trận chiến mà công phu, hấp dẫn có khi còn nhiều người đọc hơn một tiểu thuyết chiến tranh dày cộp.

Có người sẽ lý luận rằng: Các tiểu thuyết phi thực mới mẻ, hấp dẫn đấy nhưng sẽ làm mất đi cái nhìn về đầy đủ về cuộc chiến và đề tài chiến tranh cứ phải viết theo lối viết thực mới hợp lý nhất. Nhưng những người phản bác quên mất rằng, các tiểu thuyết phi thực chỉ đi tìm cách thức diễn đạt khác chứ mục đích của nó không khác các tác phẩm hiện thực là đều muốn nêu ra bản chất khốc liệt của chiến tranh và số phận con người bị thử thách thông qua chiến tranh.

***

Đành rằng, để có một tiểu thuyết lớn nói riêng và một tác phẩm văn học nói chung điều quan trọng là tài năng cá nhân nhà văn. Song, để có một nền tiểu thuyết chiến tranh đa dạng và có chất lượng, thiết nghĩ những ai cầm bút đều phải hiểu biết tối thiểu những đặc trưng của thể loại mới có thể hy vọng có những tiểu thuyết lớn.

Đầu tiên, tiểu thuyết không phải là tác phẩm tự sự cỡ lớn như lâu nay nhiều người ở nước ta quan niệm. Tiểu thuyết chỉ là tiểu thuyết khi đi theo nguyên tắc truyện kể theo xu hướng tiểu thuyết hóa với yêu cầu sáng tạo tự do, mới mẻ trong cách kể. Các tiểu thuyết chiến tranh của nước ngoài không chỉ đạt đến tầm cao của tư tưởng mà còn đi rất xa trên con đường hình thức với nghệ thuật cấu trúc truyện kể tinh vi. Yếu kém trong nghệ thuật cấu trúc văn bản không chỉ có trong tiểu thuyết chiến tranh Việt Nam mà còn nhìn rộng ra cả nền văn học. Giải pháp này thực ra nằm ở chính trong mỗi nhà văn khi anh ta phải luôn tìm cách đổi mới cách kể nhằm hấp dẫn người đọc.

Đặc trưng quan trọng khác của tiểu thuyết là thể loại cho phép nhà văn đổi mới ngôn ngữ triệt để. Quan niệm cũ xem ngôn ngữ là phương tiện chứ không phải mục đích vẫn khá phổ biến. Hầu hết tiểu thuyết Việt Nam đều sử dụng ngôn ngữ trung tính như lời nói hàng ngày mà quên mất rằng ngôn ngữ có nhiều biến thể mang tính thẩm mỹ ở nhiều trường hợp khác nhau có thể áp dụng vào trong tiểu thuyết. Ví dụ như, tiểu thuyết “Đàn hương hình” (2001) của Mạc Ngôn nói về cuộc loạn chiến giữa quân triều đình nhà Thanh, quân nông dân khởi nghĩa và cả quân nước ngoài; nhưng sử dụng ngôn ngữ kịch Miêu xoang nên tiểu thuyết trở nên lạ lùng khi cốt truyện hấp dẫn đặc trưng tiểu thuyết nhưng khi đọc lại cảm tưởng như đang ở trong nhà hát xem kịch cổ điển. 

Tiểu thuyết như đã nói là thể loại tự do nhất trong văn học. Cốt lõi để có tiểu thuyết hay là nhà văn có nhiều ý tưởng để sáng tạo và quan trọng là có bản lĩnh dám đi đến cùng những ý tưởng đó không. Chất liệu chiến tranh dồi dào, nhiều phương pháp sáng tác tiên tiến đã và đang được phổ cập ở Việt Nam, đó là những cơ sở để tin nhà văn Việt Nam sẽ sáng tác được nhiều tiểu thuyết chiến tranh hay trong tương lai.  

HÀM ĐAN

THỜI ĐÀM (XXIX): CÓ LÀM MỚI BIẾT...



Từ ngày 1-11 vừa qua, 7 trang web nhạc số lớn nhất của Việt Nam đã bắt đầu thu phí tải nhạc trực tuyến với mức giá 1000 đồng/bài. 100 album nhạc số đầu tiên đã được chuẩn hóa chất lượng cao để đưa ra thử nghiệm cho việc thu phí tải nhạc. 
Việc thu phí tải nhạc được đa số người nghe hưởng ứng vì số tiền thu không nhiều và bản thân họ cũng có ý thức không thể nghe “chùa” mãi được. Sung sướng nhất có lẽ là các nhạc sĩ và nhà sản xuất âm nhạc khi công sức làm ra một sản phẩm âm nhạc đã có thêm một nguồn thu. 
Cần nhắc lại rằng, theo thống kê của Hiệp hội công nghiệp Ghi âm Việt Nam (RIAV), tỷ lệ vi phạm bản quyền âm nhạc ở Việt Nam là trên 80%. Tình trạng vi phạm bản quyền đã xuất hiện tràn lan từ những năm 1990 tương ứng với làn sóng nhạc trẻ trong nước trỗi dậy đánh bại nhạc hải ngoại. Ngay cả những tên tuổi ca sĩ đình đám nhất như: Lam Trường, Đan Trường, Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm... không thể có chuyện thu bù chi từ bán đĩa nhạc như các ca sĩ nước ngoài. Đến khi internet phát triển ở Việt Nam, tình trạng vi phạm bản quyền âm nhạc lên tới cực điểm. Ngay cả đĩa lậu âm nhạc cũng khó bán vì nhà nhà đều tải nhạc từ trang web âm nhạc để nghe. 
Nếu ca sĩ còn có con đường kiếm bộn tiền là chạy sô thì nhạc sĩ và những người sản xuất âm nhạc khá lao đao với nạn vi phạm bản quyền. Chỉ trừ những nhạc sĩ có “số má”, sáng tác ca khúc nào là bán quyền sở hữu cho ca sĩ là có thể sống ung dung; thì các nhạc sĩ trẻ không mấy người hưởng quả ngọt từ những sáng tạo của mình. Sức ép kinh tế thị trường khiến họ phải sáng tác nhiều bài hát xứng đáng với cụm từ “thảm họa âm nhạc”. 
Dù đầu đã xuôi nhưng hiện tại, việc thu phí tải nhạc bài hát vẫn sẽ còn nhiều chuyện cần giải quyết. Một bộ phận người không nhỏ nghe vốn đã quen tải nhạc miễn phí khó quay ngoắt để bỏ tiền sở hữu file bài hát. Có cung thì ắt có cầu! Các trang web chuyên hay không chuyên âm nhạc vẫn sẽ tiếp tục vi phạm bản quyền khi cho phép người truy cập tải nhạc miễn phí; khi đó các cơ quan chức năng liệu có mạnh tay xử lý? Nhìn sang bên ngành xuất bản sách, nạn in lậu tràn lan mà thanh tra ngành xuất bản phát hiện quá ít trường hợp nhà sách, cơ sở in... vi phạm. Nếu không xử lý triệt để những trang web vi phạm bản quyền âm nhạc thì đừng mong việc thu tiền tải nhạc sẽ phát triển. 
Trong khi việc tìm các giải pháp thu phí tải nhạc đang diễn ra thì giới làm nghề nhạc đã và đang thực hiện chiến dịch “Nghe có ý thức” vận động khán giả nói “không” với tải nhạc lậu. Biện pháp này đương nhiên là cần thiết nhưng không nên quá kỳ vọng. Chỉ có các biện pháp kỹ thuật ngăn chặn tải nhạc miễn phí từ các trang web cố tình vi phạm và sử dụng chế tài xử phạt; như ở Nhật Bản, vi phạm bản quyền âm nhạc có thể bị phạt tù từ 2 đến 10 năm và phạt tiền hàng ngàn USD.  
Sau động thái của hai gã khổng lồ là Coca-Cola và Samsung rút quảng cáo trên trang web Zing.vn (thuộc Tập đoàn VinaGame-VNG) sau khi Liên minh Bản quyền Trí tuệ Quốc tế (IIPA) cáo buộc trang web được truy cập nhiều thứ 6 tại Việt Nam cho phép tải miễn phí nhiều bài hát nước ngoài; trang web này mới tá hỏa đi thỏa thuận bản quyền âm nhạc quốc tế với Universal Music và Sony Music. Không rõ, sau khi đạt được thỏa thuận bản quyền, việc tải và nghe trực tuyến các bài hát nước ngoài có vượt qua số tiền 1000 đồng/bài như trang web này đã cam kết? 
Một câu chuyện khác cũng được người nghe nhạc băn khoăn là hình thức thu phí như thế nào để tiện lợi với cả người tải lẫn người cung cấp nhạc? Cốt yếu, có lẽ vẫn cần các bên liên quan ngồi lại với nhau để tìm ra một quy chuẩn trong cách thức thanh toán cho mọi trang web có thu phí tải nhạc. 
Dù còn rất nhiều khó khăn trong thu phí tải nhạc, nhưng có làm mới biết, việc thu phí tải nhạc lúc này vẫn chỉ mang tính chất thử nghiệm. Sự đồng lòng của xã hội, ý thức của người nghe hy vọng sẽ giúp công việc này thuận lợi và đi vào nề nếp trong tương lai.  
HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

CÙNG BÀN LUẬN (XVII): BẢO VỆ THÔNG TIN CÁ NHÂN



Thông tin cá nhân được xem là một tài sản, nếu công khai hóa mà chưa được sự cho phép của chủ sở hữu đương nhiên là hành vi phạm pháp. Thời gian gần đây, loại hình tội phạm buôn bán thông tin cá nhân xuất hiện trên môi trường internet như “nấm mọc sau mưa” và hết sức lộ liễu. Cục An ninh Thông tin - Truyền thông (Bộ Công an) đã xử lý 3 người mua, bán thông tin của các cá nhân, tổ chức nhưng chỉ đề nghị các cơ quan thẩm quyền phạt hành chính các đối tượng trên vì đối tượng khi phạm tội chưa ý thức hành vi phạm pháp.

Hành động của cơ quan công an là đáng hoan nghênh, thể hiện sự trách nhiệm bảo vệ quyền sở hữu cá nhân và tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, những trang web, blog… mua bán thông tin cá nhân vẫn tiếp tục hoạt động mạnh mẽ hơn vì nếu chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính thì không đủ sức răn đe. Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin cũng chỉ từ 2 đến 5 triệu đồng. Trong khi mức thu lợi của những cá nhân, công ty bán dữ liệu khách hàng là rất cao có thể lên tới tiền tỷ khi nắm trong tay hàng nghìn dữ liệu thông tin cá nhân.

Dù hiện nay các thông tin cá nhân được mua bán chủ yếu dành cho các doanh nghiệp muốn tăng doanh số bán hàng khi tiếp cận những khách hàng VIP thông qua thông tin riêng tư. Hậu quả cũng mới chỉ dừng lại ở việc khổ chủ bị quấy rầy với đủ loại dịch vụ bảo hiểm, du lịch…; mà không hề có nhu cầu. Nhưng, về lâu về dài, việc các thông tin cá nhân trôi nổi trên mạng internet sẽ được các tội phạm công nghệ cao lợi dụng để kết nối liên lạc, đe dọa, tống tiền... các tổ chức, cá nhân. Với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, thiệt hại sẽ lớn đối với kinh tế-xã hội nếu đối tượng sử dụng thông tin cá nhân kết hợp với công nghệ cao tấn công vào các mục tiêu nhạy cảm như: Ngân hàng hoặc an ninh-quốc phòng...

Thiết nghĩ, đã đến lúc cần mạnh tay xử lý với những cá nhân, tổ chức ngầm trong mạng lưới buôn bán thông tin cá nhân bằng truy tố hình sự và áp dụng hình phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm theo Khoản b Điều 226 của Bộ luật Hình sự xử phạt người nào “mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó”. Chế tài xử lý đã có, vấn đề cần phải quyết liệt ngăn chặn, triệt phá tội phạm buôn bán thông tin cá nhân. Đồng thời, cũng cần xử lý cá nhân và tổ chức cố tình để lộ hoặc “bán đứng” khách hàng, cung cấp thông tin cho tội phạm trục lợi.

Nhiệm vụ chính chống tội phạm buôn bán thông tin cá nhân thuộc về lực lượng công an, nhưng không gì hiệu quả hơn mỗi người đề cao cảnh giác, tự bảo vệ thông tin cá nhân của mình. Trước mắt, mỗi cá nhân cần hết sức cẩn trọng trong việc cung cấp thông tin cá nhân trên mạng internet hay với các tổ chức, doanh nghiệp mà mình tham gia. Mỗi cá nhân cũng cần chú ý yêu cầu các cơ quan, tổ chức doanh nghiệp có hình thức bảo mật thông tin cá nhân của khách hàng. Đối với tổ chức, doanh nghiệp, cần chú ý rà soát thật kỹ, thật chắc công tác bảo mật thông tin của khách hàng trong hệ thống của mình vì đây cũng chính là bảo vệ uy tín, thương hiệu của tổ chức, doanh nghiệp trong mắt khách hàng.

HÀM ĐAN

THỜI ĐÀM (XXVIII):NÓI THÊM TỪ VỤ "CANH GÀ THỌ XƯƠNG"....



Bài đăng đã lâu giờ mới post bản đầy đủ :)

Vừa qua, ở lĩnh vực giáo dục xảy ra chuyện hài, về việc hiểu sai cụm từ “canh gà Thọ Xương” là đặc sản Hà Nội của một số em học sinh lớp 7 Trường Lomonosov (Hà Nội) mà cô giáo H.T.T.T vẫn cho 8 điểm. Bắt lỗi ai đúng ai sai thôi thì cũng không quan trọng nữa, mọi việc có vẻ đi quá xa khi phe ủng hộ lẫn phản đối cô giáo “canh gà Thọ Xương” không tiếc lời mắng nhau.

Tuy nhiên, có một chuyện đằng sau vụ việc “canh gà Thọ Xương” cần nói rõ đó chính là về văn bản 4 câu: “Gió đưa cành trúc la đà/ Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương/ Mịt mù khói tỏa ngàn sương/ Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”, được giảng rộng rãi là ca dao.

Văn bản trên thực chất đây chưa thể gọi là ca dao được, vì các tài liệu còn sót lại chứng minh tác giả là nhà thơ Dương Khuê (1839-1902). Dương Khuê (1839-1902) người làng Vân Đình, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Nội). Năm Mậu Thìn (1868) thời vua Tự Đức, ông thi đỗ tiến sĩ. Là người văn hay, chữ tốt, ông sáng tác nhiều bài thơ hay trong đó có bài “Hà Nội tức cảnh”, nguyên văn như sau: “Phất phơ ngọn trúc trăng tà/ Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương/ Mịt mù khói tỏa ngàn sương/ Nhịp chày An Thái, mảnh gương Tây Hồ”, (dẫn theo Trần Trung Viên trong “Văn đàn bảo giám”, NXB Nam Ký, Hà Nội, 1926).

Rõ ràng, đây là bài thơ có giá trị vì những câu tả cảnh tuyệt vời, cho nên dễ hiểu vì sao nó đi vào trí nhớ dân chúng đến mức bị biến thành ca dao. Tất nhiên, bài thơ này cũng như thơ ca trung đại nói chung khá khó hiểu với người ngày nay do nhắc đến các địa danh cũ và tính ước lệ như: Thọ Xương là tên huyện, quanh vùng Hồ Gươm của Hà Nội ngày trước. An Thái là làng làm giấy, có tiếng giã giấy thuộc vùng Bưởi (Hà Nội). “Ngàn” tương đương với “bờ”, chứ không phải “rừng” hay “một ngàn”.
Một cô giáo trẻ như cô giáo T. và các em học sinh chắc rằng không thể biết rõ nguồn gốc của bài “ca dao” nói trên được. Có trách là tại sao những người biên soạn sách và giảng dạy cho chính cô T. đã không cẩn trọng nghiên cứu, tìm hiểu lai lịch văn bản thơ trên là bài “Hà Nội tức cảnh” của cụ Dương Khuê, vì tài liệu dẫn trên hiện lưu trữ trong Thư viện Quốc gia, tra cứu rất dễ dàng.

Có người sẽ đặt câu hỏi: Có nhất thiết phải giảng dạy kỹ nguồn gốc, ‎‎nghĩa của văn bản thơ trên cho học sinh lớp 7 không? Câu trả lời là chẳng có cái gì là thừa cả. Đừng nghĩ rằng, học sinh tầm tuổi đó chỉ là đứa trẻ tuổi ăn tuổi chơi vô tư lự;  ở phương Tây, học sinh tầm tuổi này đã bắt đầu làm quen với triết học nhập môn. Đành rằng, lứa tuổi học sinh trung học phổ thông, học văn là học cảm thụ cái đẹp của nội dung tác phẩm, sự tinh tế của ngôn từ và cả kỹ xảo tổ chức văn bản. Nhưng tác phẩm văn chương vốn không thể thoát ly bối cảnh văn hóa, nền tảng chính trị-xã hội thời điểm tác phẩm ra đời; cho nên, nếu học văn mà bỏ sót tìm hiểu cả những điều liên quan đến tác phẩm là điều đáng tiếc.

Quan trọng hơn, học văn còn có thể giúp tư duy học sinh phát triển ở chỗ là tìm ra nhiều cách đọc, cách hiểu cho tác phẩm. Chẳng hạn, bài thơ nổi tiếng “Bạn đến chơi nhà” của nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909) lâu nay vẫn hiểu là bài thơ cảm động về tình bạn. Nhưng, có người đã có bằng chứng cho hay là vị khách đến chơi nhà Nguyễn Khuyến vốn không được nhà thơ yêu mến cho lắm nên làm bài thơ này để… đuổi khéo. Thực hư bối cảnh ra đời bài thơ thế nào, hãy chờ các nhà nghiên cứu văn học trung đại tiếp tục tranh luận. Chỉ biết rằng, thời xưa, các cụ đến chơi nhà nhau không như con cháu bây giờ là chỉ đến chơi một vài ngày mà là cả tháng. Với những thứ “cây nhà lá vườn” sẵn có và với thời gian một tháng, chẳng lẽ Nguyễn Khuyến không đãi khách một bữa cơm thịnh soạn mà lại phải dùng những câu tỏ vẻ nuối tiếc rằng bạn đến chơi không đúng thời điểm? Với lại, Nguyễn Khuyến là nhà nho quân tử, một khi đã ghét ai hay cái gì là dùng thơ đả kích (hoặc bóng gió) như làm thơ chửi bọn Tây lẫn bọn gái đĩ...

Còn rất nhiều vấn đề trong di sản văn chương dân tộc cần nghiên cứu kỹ hơn để hiểu những câu chuyện quá khứ, cách nghĩ của cha ông. Làm như vậy, là để học sinh có tư duy độc lập, yêu thêm lịch sử dân tộc và tránh những câu chuyện cười ra nước mắt như vụ việc “canh gà Thọ Xương”!

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

THỜI ĐÀM (XXVII): DẰN LÒNG CHỜ ĐỢI


Văn học Việt Nam đương địa đã bắt kịp với những vấn đề mới cuộc sống đặt ra. Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm viết về những vấn đề thời đại chưa để lại tác phẩm hay, nhất là ở các cây bút trẻ. Nguyên nhân xuất phát từ nhận thức sai lầm là chất liệu đời sống mới sẽ cho ra đời những tác phẩm hay. Trong khi đó, xuất hiện khuynh hướng sáng tác quay trở lại với đề tài lịch sử và đã để lại thành tựu với bộ ba tiểu thuyết lịch sử-văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh là “Hồ Quý Ly”, “Mẫu thượng ngàn” và “Đội gạo lên chùa”. Thành công của bộ ba thuyết lịch sử-văn hóa kể trên không chỉ được ghi nhận thông qua các giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội…; mà còn được bạn đọc và bạn nghề thừa nhận trong việc khai phá đề tài và một số cách tân nghệ thuật.

Tiểu thuyết lịch sử ngay từ trước năm 1945 đã có nhiều nhà văn chọn để thử bút lực. Tuy nhiên, trước Nguyễn Xuân Khánh, các nhà văn đều kể lịch sử thông qua các sự kiện từ chính sử với những nhân vật lịch sử nổi danh. Sự làm mới có chăng là cung cấp ngôn ngữ, lối nghĩ hiện đại để cấp cho các nhân vật đã quá xa xăm. Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh khác hẳn. Dù tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” nói về một vị vua thời trung đại nhưng thực chất Nguyễn Xuân Khánh đã thổi một luồng khí mới mẻ vào thể loại tiểu thuyết lịch sử, kéo câu chuyện thời quá khứ gắn kết với câu chuyện của thời hiện tại. Đến hai tiểu thuyết sau là “Mẫu thượng ngàn” và “Đội gạo lên chùa”, Nguyễn Xuân Khánh mới thực sự là một nhà nghiên cứu văn hóa trong tư cách nhà văn.

Sự làm mới tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh càng đáng trọng khi ta biết ông xuất bản “Hồ Quý Ly” ở cái tuổi gần 70. Con đường sáng tạo của Nguyễn Xuân Khánh hơi ngược trong văn giới Việt Nam. Thói thường, ở ta, các nhà văn có chút năng khiếu đều phát tiết sớm nhưng ít có sự nghiệp kéo dài đến lúc đầu bạc răng long. Cũng có trường hợp như Nguyên Hồng (1918-1982) có một sự nghiệp kéo dài từ hồi chưa đến tuổi 20 cho đến khi qua đời, nhưng công bằng nhận xét tác phẩm về sau của ông không vượt lên những tác phẩm đầu tay như: “Bỉ vỏ”, “Những ngày thơ ấu”…

Sự thành công muộn màng và mang tính tiệm tiến của Nguyễn Xuân Khánh không hề lạ lùng nếu ta xét đến cách thức viết văn và thể loại tiểu thuyết ông theo đuổi. Tiểu thuyết lịch sử-văn hóa là một dạng tiểu thuyết lai ghép với công trình nghiên cứu. Sở dĩ chỉ có tiểu thuyết làm được vì nó là thể loại trẻ có khả năng ôm chứa mọi chất liệu. Tất nhiên, dù mục đích suy ngẫm về văn hóa và lịch sử dân tộc, nhưng trước tiên là phải có hồn cốt tiểu thuyết khi sử dụng các hình tượng, xây dựng cốt truyện… để hấp dẫn người đọc. Bộ ba tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh có thể so sánh như tiểu thuyết “Những người bóng dài” (Hoàng Đình Trực dịch, NXB Thanh Hóa, 1987) của nhà văn Thụy Sĩ Han Rắt (1913-2007) tiểu thuyết về người Eskimo sống gần Bắc Cực hoặc tiểu thuyết “Thế giới của Sophie” (Huỳnh Phan Anh dịch, NXB Văn hóa-Thông tin, 1998) của nhà văn Na Uy Giôn-tên Gác-đơ là tiểu thuyết viết về lịch sử hơn 2000 năm của triết học phương Tây.

Loại tiểu thuyết nghiên cứu này chỉ hợp với kiểu nhà văn như Nguyễn Xuân Khánh! Trước tiên và hiển nhiên là phải có chút ít năng khiếu viết văn. Nguyễn Xuân Khánh đã được trời cho chút ít “đủ dùng” như bao người. Điều sau mới khó đó là đòi hỏi nhà văn như một nhà nghiên cứu, Nguyễn Xuân Khánh dư sức đáp ứng vì tiếng Pháp của ông rất giỏi, ông có thể thu nhận nhiều nguồn tri thức để mở rộng phông văn hóa, khiến cho tiểu thuyết của ông có chiều sâu tư tưởng. Và cuối cùng, có lẽ là sự kiên nhẫn trong sáng tạo. Điều cuối cùng này nhiều người cho là chẳng quan trọng gì. Nhưng văn chương cần một sự yên tĩnh để tìm hướng đi cho đề tài, trăn trở bút pháp… mới có thể cho ra đời tác phẩm có chất lượng. Khá nhiều nhà văn ở ta, nhất là nhà văn trẻ hôm nay mắc cái bệnh “sốt ruột nổi tiếng”, nhanh nhanh chóng chóng in tác phẩm để lấy tên, còn lại thì… mặc kệ. Với lối nghĩ và cách làm việc như vậy, đừng thắc mắc vì sao văn học Việt Nam vài chục năm tới sẽ khó có cái tên tre trẻ nào đình đám.

Kể ra trường hợp sáng tạo của Nguyễn Xuân Khánh và đối chiếu với thế hệ nhà văn trẻ hôm nay, không phải để hô hào các nhà văn trẻ hãy viết theo lối tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh. Mỗi con người (trong đó có nhà văn) là một “tiểu vũ trụ” chẳng ai giống ai, trong việc sáng tạo lại càng không nên giống nhau. Mặt khác, bộ ba tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh cũng không hẳn là tuyệt tác, nó chỉ thành công trong kiểu tiểu thuyết nghiên cứu. Tuy nhiên, sự thành công của Nguyễn Xuân Khánh đã để lại bài học quý‎ báu đó là viết văn phải lựa chọn hướng đi riêng hợp với cái “tạng” của mình, không thể vội vàng “bán lúa non” mà dằn lòng chờ đợi nuôi dưỡng đam mê và đầu tư nghiêm túc một cách lâu dài.

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

NOBEL VĂN HỌC 2012: MẠC NGÔN, "NHÀ VĂN CHÂN ĐẤT"


Bỏ bê blogspot hơi lâu. Post bài này cho nó máu :))

Khi Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố nhà văn Trung Quốc Mạc Ngôn giành giải Nobel Văn học 2012 thì không một ai ngạc nhiên, vì kết quả đã được dự báo trước. Thời điểm mùa giải Nobel 2012 rục rịch khởi động, dân cá cược đều tiên đoán giải sẽ không dành cho một nhà thơ hay một người châu Âu vì năm ngoái nhà thơ nước chủ nhà Tomas Tranströmer đã được vinh danh. Mọi dự đoán dồn hết vào các cây bút văn xuôi đến từ châu Á và châu Mỹ như: Alice Munro, Haruki Murakami (Nhật Bản), Mạc Ngôn (Trung Quốc)…
Trao giải Nobel Văn học cho Mạc Ngôn - một trong những nhà văn tiêu biểu của châu Á, thể hiện Viện Hàn lâm Thụy Điển đã hòa vào niềm tin của sự chuyển dịch tâm điểm địa chính trị thế giới sang châu Á, và cũng đánh giá cao vai trò của văn hóa châu Á. Nhưng, đó là lý do phi văn chương, nếu chỉ xét tác phẩm, nhiều người đặt câu hỏi: Liệu tác phẩm của Mạc Ngôn có đạt đến tầm giải thưởng văn chương uy tín nhất thế giới?
Những người không thích Mạc Ngôn có cái lý khi cho rằng: Tác phẩm của Mạc Ngôn không đem lại điều gì độc sáng như những tác phẩm của James Joyce (1882-1941), Franz Kafka (1883-1934), Jorge Luis Borges (1899-1986)… Tuy nhiên, một sự nghiệp văn học lớn không chỉ thể hiện ở vai trò mở đường mà có thể là tài năng pha trộn. Mạc Ngôn thuộc kiểu nhà văn như là “phù thủy” khi ông kết hợp được nhiều yếu tố trái ngược nhau một cách nhuần nhuyễn. Đặc biệt, ông là “nhà văn pha trộn được chủ nghĩa hiện thực ảo giác với truyện dân gian, lịch sử và đương đại”- như lời tuyên dương của Viện Hàn lâm Thụy Điển. Xuyên suốt các tác phẩm của Mạc Ngôn là văn hóa dân gian và câu chuyện lịch sử Trung Quốc khá xa lạ với đông đảo người đọc năm châu nhưng nhờ những kỹ thuật viết văn và chiều sâu tư tưởng mang tầm nhân loại nên đọc Mạc Ngôn sẽ quên đi tác phẩm đang đề cập đến lịch sử và con người Trung Quốc mà đang là câu chuyện về kiếp người nói chung.
Chừng đó thôi, cũng có thể hiểu, Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải cho Mạc Ngôn là chính xác vì tự thân tác phẩm Mạc Ngôn xứng đáng được vinh danh. Trao giải Nobel cho Mạc Ngôn là thêm một lần nữa Viện Hàn lâm Thụy Điển củng cố uy tín của Giải Nobel Văn học bất chấp nhiều sức ép chỉ trích.
***
Dù Mạc Ngôn đã viết hơn 200 tác phẩm nhưng mạch văn chương không thay đổi bao nhiêu. Hơn 30 năm cầm bút, Mạc Ngôn vẫn được xem là “nhà văn chân đất” khi viết về số phận những con người Trung Quốc bình thường chịu bao va đập của thời thế; qua đó, ông đã thể hiện cái sức sống mãnh liệt của nhân dân và tin rằng lịch sử dân tộc được viết bằng cuộc sống, suy nghĩ của quần chúng vô danh.
Thái độ sáng tác của Mạc Ngôn có thể cắt nghĩa dễ dàng nếu nhìn vào tiểu sử của ông, nhất là khi ông đã trải qua “tuổi thơ dữ dội”. Mạc Ngôn tên thật là Quản Mô Nghiệp sinh ngày 17-2-1955 tại làng Bình An Trang, huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc; trong một gia đình nông dân. Vì nhiều biến động xã hội, lúc 10 tuổi, ông phải nghỉ học để đi chăn dê, luôn đói khát và cô đơn. Ngay trong thời điểm gian khó nhất, Mạc Ngôn vẫn luôn tự học và đọc sách rất nhiều, say mê tiểu thuyết Trung Quốc và châu Âu… Năm 1976, ông nhập ngũ, nhờ tự bồi dưỡng trở thành giáo viên trong quân đội. Từ đây, Mạc Ngôn có điều kiện học hành căn bản: Năm 1984, ông trúng tuyển vào khoa Văn thuộc Học viện Nghệ thuật Quân Giải phóng và tốt nghiệp năm 1986, rồi chuyển sang hoạt động trên lĩnh vực báo chí và viết văn. Từ năm 1988-1991, ông làm nghiên cứu sinh sáng tác văn học thuộc Học viện Văn học Lỗ Tấn, Trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh. Hiện tại, Mạc Ngôn là Phó chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc.
Song hành với quá trình sống và tích lũy kiến thức, sự nghiệp sáng tác của Mạc Ngôn cũng mang tính tiệm tiến. Năm 1981, ông bắt đầu công bố các tác phẩm đầu tay nhưng mãi đến truyện dài “Củ cải đỏ trong suốt” (1985) mới gây được chú ý của văn giới. Từ đây, xuất hiện bút danh Mạc Ngôn do ông tách chữ “Mô” trong tên ông có nghĩa là “cơ mưu” thành hai chữ “Mạc” (không có) và “Ngôn” (lời nói), ngụ ý tự răn mình không nên nói nhiều. Hài hước ở điểm, rút cuộc, ông lại nói liên tục qua các hoạt động thuyết trình, phỏng vấn, giảng bài…
Một năm sau, sự nghiệp của Mạc Ngôn bắt đầu bước lên đỉnh cao khi tiểu thuyết “Cao lương đỏ” (Lê Huy Tiêu dịch, NXB Phụ nữ, 2000) ra đời. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhờ đạo diễn Trương Nghệ Mưu chuyển thể sang bộ phim cùng tên và đoạt giải Gấu vàng của Liên hoan phim Berlin 1988. “Cao lương đỏ” tuy thuộc dòng văn học “phản tư” (suy nghĩ lại) phổ biến ở Trung Quốc nhưng lại được xem là cột mốc cho phong cách văn chương của Mạc Ngôn khi sử dụng lịch sử kết nối với hiện đại thông qua giọng kể và góc nhìn nhân vật quá khứ. “Cao lương đỏ” là hồi ức của người xưng “tôi” kể về chuyện đời và chuyện tình của ông bà nội mình là Từ Chiếm Ngao và Đái Phượng Liên - trong bối cảnh của miền quê Cao Mật những năm 1920-1930. Khi quân Nhật Bản kéo đến xâm lược, Từ Chiếm Ngao trở thành một tư lệnh quân du kích. Cũng từ đây, địa danh làng Đông Bắc Cao Mật trở nên nổi tiếng được Mạc Ngôn sử dụng trở đi trở lại trong các tác phẩm của ông như biểu tượng của một Trung Quốc thu nhỏ; số phận thăng trầm của dân Đông Bắc Cao Mật cũng là số phận của nhân dân Trung Quốc. Đây là điều Mạc Ngôn ảnh hưởng từ nhà văn Mỹ William Faulkner (Nobel Văn học 1949).
Sau thành công của “Cao lương đỏ” là quãng sáng tác sung sức của Mạc Ngôn trong gần 10 năm với hàng loạt tác phẩm như: “Hoan lạc”, “Châu chấu đỏ”, “Hình chó trắng trời thu”, “Bạch miên hoa”, “Tửu quốc”…
Nhưng tác phẩm đưa tên tuổi Mạc Ngôn vượt ra ngoài biên giới Trung Quốc và bản thân ông cũng nói rằng để hiểu Mạc Ngôn thì phải đọc tác phẩm này, đó là tiểu thuyết “Phong nhũ phì đồn” (tựa Việt: “Báu vật của đời”, Trần Đình Hiến dịch, NXB Văn nghệ, 2001). Tháng 9-1995, tiểu thuyết “Phong nhũ phì đồn” phát hành trở thành một hiện tượng văn học ở Trung Quốc. Tiểu thuyết kể về cô gái Lỗ Toàn Nhi lấy chồng là Thượng Quan Thọ Hỷ bất lực nên phải lấy giống đàn ông đủ loại sinh ra tám gái, một trai. Tác phẩm khái quát cả một giai đoạn lịch sử bi tráng của đất nước Trung Quốc suốt thế kỷ XX thông qua số phận các thế hệ một gia đình.
Hơn 800 trang tiểu thuyết “Phong nhũ phì đồn” hấp dẫn từ đầu đến cuối nhưng xét về mặt nghệ thuật viết văn lại không được đánh giá cao bằng tiểu thuyết “Đàn hương hình” (Trần Đình Hiến dịch, NXB Phụ nữ, 2002) xuất bản năm 2001. Nhiều nhà phê bình uy tín xem “Đàn hương hình” mới là kiệt tác của Mạc Ngôn. Ngoài nội dung hấp dẫn kể về những sự kiện xảy ra trên mảnh đất Cao Mật dưới thời nhà Thanh và nghệ thuật các hình phạt tử tù; tác phẩm dùng kỹ thuật tự sự tinh vi khi mỗi nhân vật tự thuật theo phong cách hý kịch Miêu Xoang của vùng Đông Bắc Cao Mật. Sau khi “Đàn hương hình” gây tiếng vang lớn, rất nhiều người tin rằng Mạc Ngôn sớm muộn cũng sẽ đoạt giải Nobel Văn học.

                                                          ***
Mạc Ngôn trở thành nhà văn lớn xuất phát từ việc ông sớm trả lời thông qua các tác phẩm những câu hỏi căn bản: Văn học là gì? Viết văn để làm gì? Thái độ văn chương như thế nào?
Mạc Ngôn quan niệm viết văn tương tự bao công việc khác, nhà văn không phải là “kỹ sư tâm hồn” bởi nhà văn thực ra chẳng những không cao minh hơn độc giả mà anh ta còn không hơn nhân vật trong tác phẩm của mình. Trong suy nghĩ của Mạc Ngôn, viết văn không phải là “sáng tác cho người dân” vì như vậy nhà văn đang giống như ông thầy dạy bảo độc giả; ông luôn xem mình là loại “sáng tác với tư cách người dân” không hề trịch thượng. Quan niệm này ở phương Tây không có gì lạ lẫm nhưng đặt trong dòng chảy văn học Trung Quốc thì quả là táo bạo vì ai cũng biết dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, văn học Trung Quốc luôn muốn cố gắng phơi bày, đả kích, giáo hóa…; luôn dùng văn chương như là một thứ công cụ để "tải đạo” hoặc “minh đạo”. Quan niệm văn chương như vậy nên thái độ văn chương của Mạc Ngôn đứng về phía nhân dân như bênh vực người nông dân điêu đứng vì nạn quan liêu trong “Cây tỏi nổi giận” (Trần Đình Hiến dịch, NXB Văn học, 2003). Không chỉ là nhà văn tài năng, Mạc Ngôn còn được xem là một nhà nhân văn lớn của Trung Quốc đương đại.
Dù không tự nhận là “người phát ngôn của nhân dân”, nhưng người dân Trung Quốc tự hào về Mạc Ngôn - công dân Trung Quốc đầu tiên giành giải Nobel Văn học - nhà văn đã đưa những con người bình dị đi vào trang văn bất hủ và quan trọng hơn là cùng nhìn cuộc sống qua góc nhìn của người dân.
Chưa đến tuổi 60, Mạc Ngôn chắc chắn sẽ cho ra đời nhiều tác phẩm nữa. Một phần do Mạc Ngôn thường viết rất nhanh như cuốn tiểu thuyết “Sống đọa thác đày” (Trần Trung Hỷ dịch, NXB Phụ nữ, 2007) gồm hơn 43 vạn từ mà ông chỉ viết trong 43 ngày! Sâu xa, ông vốn quan niệm viết văn tương tự bao công việc khác, khi nào không còn sức thì mới nghỉ ngơi.

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 12 tháng 9, 2012

GUILLAUME APOLLINAIRE, NHÀ THƠ CUỐI CÙNG ĐƯỢC... THUỘC THƠ!


Hai mươi năm đầu tiên của thế kỷ XX, nước Pháp là một “chiến trường” giao tranh của đủ các trường phái nghệ thuật, nóng bỏng nhất có lẽ là thơ ca. Hầu hết các cách tân hình thức thơ và quan trọng hơn là cách cảm nhận thế giới của nhà thơ không chỉ của thơ ca Pháp mà rộng ra là nền thơ ca hiện đại đều xuất phát từ thời điểm then chốt nói trên.  

Thời kỳ này là sự giao tranh của một loại thơ truyền thống có âm vận (rime), tiết điệu (rythme) và ngôn ngữ hợp lý chính xác (logique oratoire) với một loại thơ từ chối sử dụng ngôn ngữ thường ngày, ý tứ đứt đoạn. Loại thơ mới xuất phát từ nhiều yếu tố phức tạp như: Các nhà thơ không còn tin vào chủ nghĩa duy lý của xã hội kỹ trị; ảnh hưởng của thuyết thần khải (illuminisme) khi cho rằng thế giới hữu hình chỉ là hình ảnh của một thế giới bí ẩn mà khoa học thực nghiệm không thể khám phá ra mà chỉ có nhà thơ mới có năng lực thể hiện những điều mơ hồ... Và sau một thời gian giằng co, thơ mới đã chiến thắng khi không mấy nhà thơ viết thơ để diễn đạt tình ý, làm vật trang trí và cũng không nhà thơ nào phí công viết thơ để mà nói những gì mà người ta có thể viết bằng văn xuôi (tả cảnh, kể chuyện...).

Cũng vì đi theo hướng quá chuyên sâu và bí hiểm mà thơ ca không còn thuộc về số đông! Nhưng đó là kết quả chiến thắng sau này của chủ nghĩa siêu thực (surréalisme)-tiên phong của các loại thơ mới với “Bản tuyên ngôn siêu thực lần thứ nhất” (1924) đầy trọng lượng của chủ soái André Breton (1896-1966); còn ở thời kỳ giao tranh căng thẳng giữa thơ mới/cũ trên vẫn có một tượng đài thơ ca độc đáo vượt lên tất cả, đó là nhà thơ Guillaume Apollinaire (1880-1918).

Cuộc đời của G. Apollinaire có rất nhiều sự kiện nhưng có thể nói tóm tắt, ông đã sống một cuộc đời phóng túng, đầy chất nghệ sĩ. Cuộc đời sáng tạo của ông phong phú không kém, nếu chỉ tính trong thơ thì thơ của G. Apollinaire là sự tổng hòa những yếu tố mới và cũ. Những cách tân mở đường của G. Apollinaire đưa tên tuổi ông nổi tiếng khắp thế giới; ở Việt Nam, đã xuất bản cuốn “Thơ Apollinaire” (Hoàng Hưng dịch, NXB Hội Nhà văn, 1997) tập hợp các bài thơ tiêu biểu nhất của ông.

G. Apollinaire làm thơ từ năm 17 tuổi, nhưng mãi đến năm 1911 ông mới có tập thơ đầu tay mang tên “Ngụ ngôn cầm thú hay đoàn tùy tùng của Orphée” với minh họa tranh khắc gỗ của họa sĩ theo trường phái Dã thú Raoul Dufy (1877-1953). Mỗi bài thơ viết về một con vật theo lối thơ cổ điển với những bức tranh minh họa độc đáo tạo ra một kiểu sách nghệ thuật kiểu mới.

Ngay sau đó, tâm trạng của G. Apollinaire trở nên u ám do buồn phiền vì bị cảnh sát hỏi thăm khi quen biết một tên trộm tranh và bị người tình Marie Laurencin bỏ rơi. Sau một thời gian trấn tĩnh, G. Apollinaire xuất bản tập thơ “Rượu” vào tháng 5-1913 với sự thể hiện mỹ thuật của ông bạn Pablo Picasso (1881-1973). Đây là tập thơ tập hợp các bài thơ trong khoảng 10 năm sáng tạo, thể hiện tinh túy nhất tài thơ của G. Apollinaire. Trong tập thơ này, vẫn tồn tại những bài thơ tuyệt phẩm mang đậm tính trữ tình truyền thống của thơ ca Pháp như bài thơ “Cầu Mirabeau”: Dưới cầu Mirabeau trôi dòng Seine/ Và tình ta nữa/ Chẳng biết anh còn nên nhớ/ Niềm vui lại đến sau nỗi ưu phiền/ ...Ngày qua rồi lại tuần qua/ Mà quá khứ/ Và những cuộc tình không trở lại/ Dưới cầu Mirabeau trôi mãi dòng Seine/ Đêm cứ đến và giờ cứ điểm/ Tháng ngày đi anh vẫn còn đây.

Điểm độc đáo của tập thơ “Rượu” là không hề có dấu câu. Điều này tạo cho câu thơ mối liên kết với câu thơ khác tạo ra nhiều nghĩa hơn và đó là thủ pháp đồng hiện rất gần với hội họa lập thể của P. Picasso. Đồng thời, nó cũng tạo ra nhịp điệu và cách ngắt câu thơ mới. Vì thế, G. Apollinaire là nhà thơ cuối cùng được... thuộc thơ! Quan trọng hơn, các bài thơ ở tập “Rượu” đã bắt kịp với hơi hướng hiện đại hóa thơ phá vỡ sự liền mạch trong cấu trúc ngữ pháp, tính thống nhất của chủ đề, sự tuyến tính thời gian... như mấy câu trong bài thơ “Vùng”: Một quả chuông giận dữ sủa giữa trưa/ Những dòng chữ trên tường trên các biểu hiệu/ Những tấm bảng những thông báo keng kéc như vẹt. Tất nhiên, thời đó, không phải ai cũng thích những cách tân này, có người nhận xét: “Tập thơ có đặc tính đồng nát”.

G. Apollinaire đã đẩy những cách tân của mình đi xa hơn trong tập thơ “Thơ hình vẽ” (Calligrammes, 1918). Có những bài thơ nổi tiếng như “Mưa”, “Chiếc xe hơi nhỏ” vẽ hình thù của mưa và xe hơi bằng chính các con chữ.

Không ai dám chắc, nếu còn sống, G. Apollinaire còn đẩy thơ mình đi xa đến đâu. Nhưng với những thử nghiệm này, G. Apollinaire đã đặt nền móng cho việc xóa nhòa thơ ca với các thể loại khác khi sử dụng các thủ pháp của hội họa và điện ảnh; sau này, đến cuối thế kỷ XX sinh ra thơ trình diễn-một kiểu thơ không sử dụng chữ viết mà bằng các phương tiện khác như hình thể của chính nhà thơ! Bài học trong sáng tạo của G. Apollinaire để lại rất rõ ràng: Làm thơ luôn đổi mới nhưng không có nghĩa là chạy theo các trường phái như kiểu theo mốt quần áo; quan trọng cái mới vẫn xuất phát từ nhu cầu thực sự muốn đổi mới và từ tình cảm, trí tuệ của bản thân nhà thơ.

HÀM ĐAN