Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

THỜI ĐÀM (XXVII): DẰN LÒNG CHỜ ĐỢI


Văn học Việt Nam đương địa đã bắt kịp với những vấn đề mới cuộc sống đặt ra. Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm viết về những vấn đề thời đại chưa để lại tác phẩm hay, nhất là ở các cây bút trẻ. Nguyên nhân xuất phát từ nhận thức sai lầm là chất liệu đời sống mới sẽ cho ra đời những tác phẩm hay. Trong khi đó, xuất hiện khuynh hướng sáng tác quay trở lại với đề tài lịch sử và đã để lại thành tựu với bộ ba tiểu thuyết lịch sử-văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh là “Hồ Quý Ly”, “Mẫu thượng ngàn” và “Đội gạo lên chùa”. Thành công của bộ ba thuyết lịch sử-văn hóa kể trên không chỉ được ghi nhận thông qua các giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội…; mà còn được bạn đọc và bạn nghề thừa nhận trong việc khai phá đề tài và một số cách tân nghệ thuật.

Tiểu thuyết lịch sử ngay từ trước năm 1945 đã có nhiều nhà văn chọn để thử bút lực. Tuy nhiên, trước Nguyễn Xuân Khánh, các nhà văn đều kể lịch sử thông qua các sự kiện từ chính sử với những nhân vật lịch sử nổi danh. Sự làm mới có chăng là cung cấp ngôn ngữ, lối nghĩ hiện đại để cấp cho các nhân vật đã quá xa xăm. Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh khác hẳn. Dù tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” nói về một vị vua thời trung đại nhưng thực chất Nguyễn Xuân Khánh đã thổi một luồng khí mới mẻ vào thể loại tiểu thuyết lịch sử, kéo câu chuyện thời quá khứ gắn kết với câu chuyện của thời hiện tại. Đến hai tiểu thuyết sau là “Mẫu thượng ngàn” và “Đội gạo lên chùa”, Nguyễn Xuân Khánh mới thực sự là một nhà nghiên cứu văn hóa trong tư cách nhà văn.

Sự làm mới tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh càng đáng trọng khi ta biết ông xuất bản “Hồ Quý Ly” ở cái tuổi gần 70. Con đường sáng tạo của Nguyễn Xuân Khánh hơi ngược trong văn giới Việt Nam. Thói thường, ở ta, các nhà văn có chút năng khiếu đều phát tiết sớm nhưng ít có sự nghiệp kéo dài đến lúc đầu bạc răng long. Cũng có trường hợp như Nguyên Hồng (1918-1982) có một sự nghiệp kéo dài từ hồi chưa đến tuổi 20 cho đến khi qua đời, nhưng công bằng nhận xét tác phẩm về sau của ông không vượt lên những tác phẩm đầu tay như: “Bỉ vỏ”, “Những ngày thơ ấu”…

Sự thành công muộn màng và mang tính tiệm tiến của Nguyễn Xuân Khánh không hề lạ lùng nếu ta xét đến cách thức viết văn và thể loại tiểu thuyết ông theo đuổi. Tiểu thuyết lịch sử-văn hóa là một dạng tiểu thuyết lai ghép với công trình nghiên cứu. Sở dĩ chỉ có tiểu thuyết làm được vì nó là thể loại trẻ có khả năng ôm chứa mọi chất liệu. Tất nhiên, dù mục đích suy ngẫm về văn hóa và lịch sử dân tộc, nhưng trước tiên là phải có hồn cốt tiểu thuyết khi sử dụng các hình tượng, xây dựng cốt truyện… để hấp dẫn người đọc. Bộ ba tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh có thể so sánh như tiểu thuyết “Những người bóng dài” (Hoàng Đình Trực dịch, NXB Thanh Hóa, 1987) của nhà văn Thụy Sĩ Han Rắt (1913-2007) tiểu thuyết về người Eskimo sống gần Bắc Cực hoặc tiểu thuyết “Thế giới của Sophie” (Huỳnh Phan Anh dịch, NXB Văn hóa-Thông tin, 1998) của nhà văn Na Uy Giôn-tên Gác-đơ là tiểu thuyết viết về lịch sử hơn 2000 năm của triết học phương Tây.

Loại tiểu thuyết nghiên cứu này chỉ hợp với kiểu nhà văn như Nguyễn Xuân Khánh! Trước tiên và hiển nhiên là phải có chút ít năng khiếu viết văn. Nguyễn Xuân Khánh đã được trời cho chút ít “đủ dùng” như bao người. Điều sau mới khó đó là đòi hỏi nhà văn như một nhà nghiên cứu, Nguyễn Xuân Khánh dư sức đáp ứng vì tiếng Pháp của ông rất giỏi, ông có thể thu nhận nhiều nguồn tri thức để mở rộng phông văn hóa, khiến cho tiểu thuyết của ông có chiều sâu tư tưởng. Và cuối cùng, có lẽ là sự kiên nhẫn trong sáng tạo. Điều cuối cùng này nhiều người cho là chẳng quan trọng gì. Nhưng văn chương cần một sự yên tĩnh để tìm hướng đi cho đề tài, trăn trở bút pháp… mới có thể cho ra đời tác phẩm có chất lượng. Khá nhiều nhà văn ở ta, nhất là nhà văn trẻ hôm nay mắc cái bệnh “sốt ruột nổi tiếng”, nhanh nhanh chóng chóng in tác phẩm để lấy tên, còn lại thì… mặc kệ. Với lối nghĩ và cách làm việc như vậy, đừng thắc mắc vì sao văn học Việt Nam vài chục năm tới sẽ khó có cái tên tre trẻ nào đình đám.

Kể ra trường hợp sáng tạo của Nguyễn Xuân Khánh và đối chiếu với thế hệ nhà văn trẻ hôm nay, không phải để hô hào các nhà văn trẻ hãy viết theo lối tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh. Mỗi con người (trong đó có nhà văn) là một “tiểu vũ trụ” chẳng ai giống ai, trong việc sáng tạo lại càng không nên giống nhau. Mặt khác, bộ ba tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh cũng không hẳn là tuyệt tác, nó chỉ thành công trong kiểu tiểu thuyết nghiên cứu. Tuy nhiên, sự thành công của Nguyễn Xuân Khánh đã để lại bài học quý‎ báu đó là viết văn phải lựa chọn hướng đi riêng hợp với cái “tạng” của mình, không thể vội vàng “bán lúa non” mà dằn lòng chờ đợi nuôi dưỡng đam mê và đầu tư nghiêm túc một cách lâu dài.

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

NOBEL VĂN HỌC 2012: MẠC NGÔN, "NHÀ VĂN CHÂN ĐẤT"


Bỏ bê blogspot hơi lâu. Post bài này cho nó máu :))

Khi Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố nhà văn Trung Quốc Mạc Ngôn giành giải Nobel Văn học 2012 thì không một ai ngạc nhiên, vì kết quả đã được dự báo trước. Thời điểm mùa giải Nobel 2012 rục rịch khởi động, dân cá cược đều tiên đoán giải sẽ không dành cho một nhà thơ hay một người châu Âu vì năm ngoái nhà thơ nước chủ nhà Tomas Tranströmer đã được vinh danh. Mọi dự đoán dồn hết vào các cây bút văn xuôi đến từ châu Á và châu Mỹ như: Alice Munro, Haruki Murakami (Nhật Bản), Mạc Ngôn (Trung Quốc)…
Trao giải Nobel Văn học cho Mạc Ngôn - một trong những nhà văn tiêu biểu của châu Á, thể hiện Viện Hàn lâm Thụy Điển đã hòa vào niềm tin của sự chuyển dịch tâm điểm địa chính trị thế giới sang châu Á, và cũng đánh giá cao vai trò của văn hóa châu Á. Nhưng, đó là lý do phi văn chương, nếu chỉ xét tác phẩm, nhiều người đặt câu hỏi: Liệu tác phẩm của Mạc Ngôn có đạt đến tầm giải thưởng văn chương uy tín nhất thế giới?
Những người không thích Mạc Ngôn có cái lý khi cho rằng: Tác phẩm của Mạc Ngôn không đem lại điều gì độc sáng như những tác phẩm của James Joyce (1882-1941), Franz Kafka (1883-1934), Jorge Luis Borges (1899-1986)… Tuy nhiên, một sự nghiệp văn học lớn không chỉ thể hiện ở vai trò mở đường mà có thể là tài năng pha trộn. Mạc Ngôn thuộc kiểu nhà văn như là “phù thủy” khi ông kết hợp được nhiều yếu tố trái ngược nhau một cách nhuần nhuyễn. Đặc biệt, ông là “nhà văn pha trộn được chủ nghĩa hiện thực ảo giác với truyện dân gian, lịch sử và đương đại”- như lời tuyên dương của Viện Hàn lâm Thụy Điển. Xuyên suốt các tác phẩm của Mạc Ngôn là văn hóa dân gian và câu chuyện lịch sử Trung Quốc khá xa lạ với đông đảo người đọc năm châu nhưng nhờ những kỹ thuật viết văn và chiều sâu tư tưởng mang tầm nhân loại nên đọc Mạc Ngôn sẽ quên đi tác phẩm đang đề cập đến lịch sử và con người Trung Quốc mà đang là câu chuyện về kiếp người nói chung.
Chừng đó thôi, cũng có thể hiểu, Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải cho Mạc Ngôn là chính xác vì tự thân tác phẩm Mạc Ngôn xứng đáng được vinh danh. Trao giải Nobel cho Mạc Ngôn là thêm một lần nữa Viện Hàn lâm Thụy Điển củng cố uy tín của Giải Nobel Văn học bất chấp nhiều sức ép chỉ trích.
***
Dù Mạc Ngôn đã viết hơn 200 tác phẩm nhưng mạch văn chương không thay đổi bao nhiêu. Hơn 30 năm cầm bút, Mạc Ngôn vẫn được xem là “nhà văn chân đất” khi viết về số phận những con người Trung Quốc bình thường chịu bao va đập của thời thế; qua đó, ông đã thể hiện cái sức sống mãnh liệt của nhân dân và tin rằng lịch sử dân tộc được viết bằng cuộc sống, suy nghĩ của quần chúng vô danh.
Thái độ sáng tác của Mạc Ngôn có thể cắt nghĩa dễ dàng nếu nhìn vào tiểu sử của ông, nhất là khi ông đã trải qua “tuổi thơ dữ dội”. Mạc Ngôn tên thật là Quản Mô Nghiệp sinh ngày 17-2-1955 tại làng Bình An Trang, huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc; trong một gia đình nông dân. Vì nhiều biến động xã hội, lúc 10 tuổi, ông phải nghỉ học để đi chăn dê, luôn đói khát và cô đơn. Ngay trong thời điểm gian khó nhất, Mạc Ngôn vẫn luôn tự học và đọc sách rất nhiều, say mê tiểu thuyết Trung Quốc và châu Âu… Năm 1976, ông nhập ngũ, nhờ tự bồi dưỡng trở thành giáo viên trong quân đội. Từ đây, Mạc Ngôn có điều kiện học hành căn bản: Năm 1984, ông trúng tuyển vào khoa Văn thuộc Học viện Nghệ thuật Quân Giải phóng và tốt nghiệp năm 1986, rồi chuyển sang hoạt động trên lĩnh vực báo chí và viết văn. Từ năm 1988-1991, ông làm nghiên cứu sinh sáng tác văn học thuộc Học viện Văn học Lỗ Tấn, Trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh. Hiện tại, Mạc Ngôn là Phó chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc.
Song hành với quá trình sống và tích lũy kiến thức, sự nghiệp sáng tác của Mạc Ngôn cũng mang tính tiệm tiến. Năm 1981, ông bắt đầu công bố các tác phẩm đầu tay nhưng mãi đến truyện dài “Củ cải đỏ trong suốt” (1985) mới gây được chú ý của văn giới. Từ đây, xuất hiện bút danh Mạc Ngôn do ông tách chữ “Mô” trong tên ông có nghĩa là “cơ mưu” thành hai chữ “Mạc” (không có) và “Ngôn” (lời nói), ngụ ý tự răn mình không nên nói nhiều. Hài hước ở điểm, rút cuộc, ông lại nói liên tục qua các hoạt động thuyết trình, phỏng vấn, giảng bài…
Một năm sau, sự nghiệp của Mạc Ngôn bắt đầu bước lên đỉnh cao khi tiểu thuyết “Cao lương đỏ” (Lê Huy Tiêu dịch, NXB Phụ nữ, 2000) ra đời. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhờ đạo diễn Trương Nghệ Mưu chuyển thể sang bộ phim cùng tên và đoạt giải Gấu vàng của Liên hoan phim Berlin 1988. “Cao lương đỏ” tuy thuộc dòng văn học “phản tư” (suy nghĩ lại) phổ biến ở Trung Quốc nhưng lại được xem là cột mốc cho phong cách văn chương của Mạc Ngôn khi sử dụng lịch sử kết nối với hiện đại thông qua giọng kể và góc nhìn nhân vật quá khứ. “Cao lương đỏ” là hồi ức của người xưng “tôi” kể về chuyện đời và chuyện tình của ông bà nội mình là Từ Chiếm Ngao và Đái Phượng Liên - trong bối cảnh của miền quê Cao Mật những năm 1920-1930. Khi quân Nhật Bản kéo đến xâm lược, Từ Chiếm Ngao trở thành một tư lệnh quân du kích. Cũng từ đây, địa danh làng Đông Bắc Cao Mật trở nên nổi tiếng được Mạc Ngôn sử dụng trở đi trở lại trong các tác phẩm của ông như biểu tượng của một Trung Quốc thu nhỏ; số phận thăng trầm của dân Đông Bắc Cao Mật cũng là số phận của nhân dân Trung Quốc. Đây là điều Mạc Ngôn ảnh hưởng từ nhà văn Mỹ William Faulkner (Nobel Văn học 1949).
Sau thành công của “Cao lương đỏ” là quãng sáng tác sung sức của Mạc Ngôn trong gần 10 năm với hàng loạt tác phẩm như: “Hoan lạc”, “Châu chấu đỏ”, “Hình chó trắng trời thu”, “Bạch miên hoa”, “Tửu quốc”…
Nhưng tác phẩm đưa tên tuổi Mạc Ngôn vượt ra ngoài biên giới Trung Quốc và bản thân ông cũng nói rằng để hiểu Mạc Ngôn thì phải đọc tác phẩm này, đó là tiểu thuyết “Phong nhũ phì đồn” (tựa Việt: “Báu vật của đời”, Trần Đình Hiến dịch, NXB Văn nghệ, 2001). Tháng 9-1995, tiểu thuyết “Phong nhũ phì đồn” phát hành trở thành một hiện tượng văn học ở Trung Quốc. Tiểu thuyết kể về cô gái Lỗ Toàn Nhi lấy chồng là Thượng Quan Thọ Hỷ bất lực nên phải lấy giống đàn ông đủ loại sinh ra tám gái, một trai. Tác phẩm khái quát cả một giai đoạn lịch sử bi tráng của đất nước Trung Quốc suốt thế kỷ XX thông qua số phận các thế hệ một gia đình.
Hơn 800 trang tiểu thuyết “Phong nhũ phì đồn” hấp dẫn từ đầu đến cuối nhưng xét về mặt nghệ thuật viết văn lại không được đánh giá cao bằng tiểu thuyết “Đàn hương hình” (Trần Đình Hiến dịch, NXB Phụ nữ, 2002) xuất bản năm 2001. Nhiều nhà phê bình uy tín xem “Đàn hương hình” mới là kiệt tác của Mạc Ngôn. Ngoài nội dung hấp dẫn kể về những sự kiện xảy ra trên mảnh đất Cao Mật dưới thời nhà Thanh và nghệ thuật các hình phạt tử tù; tác phẩm dùng kỹ thuật tự sự tinh vi khi mỗi nhân vật tự thuật theo phong cách hý kịch Miêu Xoang của vùng Đông Bắc Cao Mật. Sau khi “Đàn hương hình” gây tiếng vang lớn, rất nhiều người tin rằng Mạc Ngôn sớm muộn cũng sẽ đoạt giải Nobel Văn học.

                                                          ***
Mạc Ngôn trở thành nhà văn lớn xuất phát từ việc ông sớm trả lời thông qua các tác phẩm những câu hỏi căn bản: Văn học là gì? Viết văn để làm gì? Thái độ văn chương như thế nào?
Mạc Ngôn quan niệm viết văn tương tự bao công việc khác, nhà văn không phải là “kỹ sư tâm hồn” bởi nhà văn thực ra chẳng những không cao minh hơn độc giả mà anh ta còn không hơn nhân vật trong tác phẩm của mình. Trong suy nghĩ của Mạc Ngôn, viết văn không phải là “sáng tác cho người dân” vì như vậy nhà văn đang giống như ông thầy dạy bảo độc giả; ông luôn xem mình là loại “sáng tác với tư cách người dân” không hề trịch thượng. Quan niệm này ở phương Tây không có gì lạ lẫm nhưng đặt trong dòng chảy văn học Trung Quốc thì quả là táo bạo vì ai cũng biết dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, văn học Trung Quốc luôn muốn cố gắng phơi bày, đả kích, giáo hóa…; luôn dùng văn chương như là một thứ công cụ để "tải đạo” hoặc “minh đạo”. Quan niệm văn chương như vậy nên thái độ văn chương của Mạc Ngôn đứng về phía nhân dân như bênh vực người nông dân điêu đứng vì nạn quan liêu trong “Cây tỏi nổi giận” (Trần Đình Hiến dịch, NXB Văn học, 2003). Không chỉ là nhà văn tài năng, Mạc Ngôn còn được xem là một nhà nhân văn lớn của Trung Quốc đương đại.
Dù không tự nhận là “người phát ngôn của nhân dân”, nhưng người dân Trung Quốc tự hào về Mạc Ngôn - công dân Trung Quốc đầu tiên giành giải Nobel Văn học - nhà văn đã đưa những con người bình dị đi vào trang văn bất hủ và quan trọng hơn là cùng nhìn cuộc sống qua góc nhìn của người dân.
Chưa đến tuổi 60, Mạc Ngôn chắc chắn sẽ cho ra đời nhiều tác phẩm nữa. Một phần do Mạc Ngôn thường viết rất nhanh như cuốn tiểu thuyết “Sống đọa thác đày” (Trần Trung Hỷ dịch, NXB Phụ nữ, 2007) gồm hơn 43 vạn từ mà ông chỉ viết trong 43 ngày! Sâu xa, ông vốn quan niệm viết văn tương tự bao công việc khác, khi nào không còn sức thì mới nghỉ ngơi.

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 12 tháng 9, 2012

GUILLAUME APOLLINAIRE, NHÀ THƠ CUỐI CÙNG ĐƯỢC... THUỘC THƠ!


Hai mươi năm đầu tiên của thế kỷ XX, nước Pháp là một “chiến trường” giao tranh của đủ các trường phái nghệ thuật, nóng bỏng nhất có lẽ là thơ ca. Hầu hết các cách tân hình thức thơ và quan trọng hơn là cách cảm nhận thế giới của nhà thơ không chỉ của thơ ca Pháp mà rộng ra là nền thơ ca hiện đại đều xuất phát từ thời điểm then chốt nói trên.  

Thời kỳ này là sự giao tranh của một loại thơ truyền thống có âm vận (rime), tiết điệu (rythme) và ngôn ngữ hợp lý chính xác (logique oratoire) với một loại thơ từ chối sử dụng ngôn ngữ thường ngày, ý tứ đứt đoạn. Loại thơ mới xuất phát từ nhiều yếu tố phức tạp như: Các nhà thơ không còn tin vào chủ nghĩa duy lý của xã hội kỹ trị; ảnh hưởng của thuyết thần khải (illuminisme) khi cho rằng thế giới hữu hình chỉ là hình ảnh của một thế giới bí ẩn mà khoa học thực nghiệm không thể khám phá ra mà chỉ có nhà thơ mới có năng lực thể hiện những điều mơ hồ... Và sau một thời gian giằng co, thơ mới đã chiến thắng khi không mấy nhà thơ viết thơ để diễn đạt tình ý, làm vật trang trí và cũng không nhà thơ nào phí công viết thơ để mà nói những gì mà người ta có thể viết bằng văn xuôi (tả cảnh, kể chuyện...).

Cũng vì đi theo hướng quá chuyên sâu và bí hiểm mà thơ ca không còn thuộc về số đông! Nhưng đó là kết quả chiến thắng sau này của chủ nghĩa siêu thực (surréalisme)-tiên phong của các loại thơ mới với “Bản tuyên ngôn siêu thực lần thứ nhất” (1924) đầy trọng lượng của chủ soái André Breton (1896-1966); còn ở thời kỳ giao tranh căng thẳng giữa thơ mới/cũ trên vẫn có một tượng đài thơ ca độc đáo vượt lên tất cả, đó là nhà thơ Guillaume Apollinaire (1880-1918).

Cuộc đời của G. Apollinaire có rất nhiều sự kiện nhưng có thể nói tóm tắt, ông đã sống một cuộc đời phóng túng, đầy chất nghệ sĩ. Cuộc đời sáng tạo của ông phong phú không kém, nếu chỉ tính trong thơ thì thơ của G. Apollinaire là sự tổng hòa những yếu tố mới và cũ. Những cách tân mở đường của G. Apollinaire đưa tên tuổi ông nổi tiếng khắp thế giới; ở Việt Nam, đã xuất bản cuốn “Thơ Apollinaire” (Hoàng Hưng dịch, NXB Hội Nhà văn, 1997) tập hợp các bài thơ tiêu biểu nhất của ông.

G. Apollinaire làm thơ từ năm 17 tuổi, nhưng mãi đến năm 1911 ông mới có tập thơ đầu tay mang tên “Ngụ ngôn cầm thú hay đoàn tùy tùng của Orphée” với minh họa tranh khắc gỗ của họa sĩ theo trường phái Dã thú Raoul Dufy (1877-1953). Mỗi bài thơ viết về một con vật theo lối thơ cổ điển với những bức tranh minh họa độc đáo tạo ra một kiểu sách nghệ thuật kiểu mới.

Ngay sau đó, tâm trạng của G. Apollinaire trở nên u ám do buồn phiền vì bị cảnh sát hỏi thăm khi quen biết một tên trộm tranh và bị người tình Marie Laurencin bỏ rơi. Sau một thời gian trấn tĩnh, G. Apollinaire xuất bản tập thơ “Rượu” vào tháng 5-1913 với sự thể hiện mỹ thuật của ông bạn Pablo Picasso (1881-1973). Đây là tập thơ tập hợp các bài thơ trong khoảng 10 năm sáng tạo, thể hiện tinh túy nhất tài thơ của G. Apollinaire. Trong tập thơ này, vẫn tồn tại những bài thơ tuyệt phẩm mang đậm tính trữ tình truyền thống của thơ ca Pháp như bài thơ “Cầu Mirabeau”: Dưới cầu Mirabeau trôi dòng Seine/ Và tình ta nữa/ Chẳng biết anh còn nên nhớ/ Niềm vui lại đến sau nỗi ưu phiền/ ...Ngày qua rồi lại tuần qua/ Mà quá khứ/ Và những cuộc tình không trở lại/ Dưới cầu Mirabeau trôi mãi dòng Seine/ Đêm cứ đến và giờ cứ điểm/ Tháng ngày đi anh vẫn còn đây.

Điểm độc đáo của tập thơ “Rượu” là không hề có dấu câu. Điều này tạo cho câu thơ mối liên kết với câu thơ khác tạo ra nhiều nghĩa hơn và đó là thủ pháp đồng hiện rất gần với hội họa lập thể của P. Picasso. Đồng thời, nó cũng tạo ra nhịp điệu và cách ngắt câu thơ mới. Vì thế, G. Apollinaire là nhà thơ cuối cùng được... thuộc thơ! Quan trọng hơn, các bài thơ ở tập “Rượu” đã bắt kịp với hơi hướng hiện đại hóa thơ phá vỡ sự liền mạch trong cấu trúc ngữ pháp, tính thống nhất của chủ đề, sự tuyến tính thời gian... như mấy câu trong bài thơ “Vùng”: Một quả chuông giận dữ sủa giữa trưa/ Những dòng chữ trên tường trên các biểu hiệu/ Những tấm bảng những thông báo keng kéc như vẹt. Tất nhiên, thời đó, không phải ai cũng thích những cách tân này, có người nhận xét: “Tập thơ có đặc tính đồng nát”.

G. Apollinaire đã đẩy những cách tân của mình đi xa hơn trong tập thơ “Thơ hình vẽ” (Calligrammes, 1918). Có những bài thơ nổi tiếng như “Mưa”, “Chiếc xe hơi nhỏ” vẽ hình thù của mưa và xe hơi bằng chính các con chữ.

Không ai dám chắc, nếu còn sống, G. Apollinaire còn đẩy thơ mình đi xa đến đâu. Nhưng với những thử nghiệm này, G. Apollinaire đã đặt nền móng cho việc xóa nhòa thơ ca với các thể loại khác khi sử dụng các thủ pháp của hội họa và điện ảnh; sau này, đến cuối thế kỷ XX sinh ra thơ trình diễn-một kiểu thơ không sử dụng chữ viết mà bằng các phương tiện khác như hình thể của chính nhà thơ! Bài học trong sáng tạo của G. Apollinaire để lại rất rõ ràng: Làm thơ luôn đổi mới nhưng không có nghĩa là chạy theo các trường phái như kiểu theo mốt quần áo; quan trọng cái mới vẫn xuất phát từ nhu cầu thực sự muốn đổi mới và từ tình cảm, trí tuệ của bản thân nhà thơ.

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

KHƠI GỢI THÚ ĐỌC SÁCH


Việc quyên góp sách báo tặng cho trẻ em nghèo ở vùng sâu khó khăn là chuyện không có gì mới lạ. Nhưng mỗi khi kết thúc một sự kiện tặng sách từ thiện vẫn chưa có câu trả lời cho một loạt câu hỏi như: Số sách đem đến tận tay các trẻ em nghèo có hiệu quả như thế nào? Được bảo quản ra sao? Sau khi có sách các em có hứng thú đọc không? Vừa qua, tổ chức tình nguyện “Vòng tay bè bạn” đã chính thức thực hiện dự án “Ngày hội đọc sách 2012” với nhiều điểm mới lạ, qua đó hy vọng sẽ đem lại những hiệu quả trông thấy rõ.

Nội dung của dự án thoạt nghe khá đơn giản. Tổ chức “Vòng tay bè bạn” phối hợp cùng Quỹ “Tháng ba Thăng Long” và đối tác truyền thông Youth Box Channel thực hiện chương trình thí điểm tại Trường Tiểu học Tiên Phong (xã Tiên Phong, huyện Ba Vì, Hà Nội) vì đây là ngôi trường có hơn 50% số học sinh thuộc diện có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế không thể mua thêm các loại sách ngoài sách giáo khoa và phục vụ học tập. Dự án sẽ được triển khai đợt I từ tháng 8-2012 đến hết năm 2013 trên 16 điểm trường Tiểu học và Trung học cơ sở thuộc 8 xã nghèo nhất huyện Ba Vì bao gồm: Tiên Phong, Thái Hòa, Ba Trại, Ba Vì, Phú Sơn, Minh Châu, Khánh Thượng và Phú Đông. Với khẩu hiệu “Để sách chắp cánh ước mơ cho em”, dự án này sẽ có tác động tích cực tới hơn 8000 học sinh.

Theo Nguyễn Hải Linh-điều phối viên của dự án cho biết: Dự án không đơn thuần là đem sách đến cho các học sinh nghèo; mà còn hướng dẫn tận tình cho các em cách đọc sách thông qua các trò chơi để cho các em học sinh hứng thú với việc đọc sách. Ví dụ, với các em học sinh tiểu học, các tình nguyện viên đọc một câu chuyện và qua đó chơi trò chơi hỏi-đáp với các em học sinh. Hoặc là, các tình nguyện viên sẽ đưa ra một nhân vật giả tưởng là bé Bi và các học sinh qua đó sẽ phát triển các câu chuyện về nhân vật bé Bi để trở thành một cuốn sách. Tất nhiên, các hình thức để hướng dẫn đọc sách và các trò chơi sẽ điều chỉnh sau lần thí điểm tại Trường Tiểu học Tiên Phong. Đọc sách là thói quen tốt và chắc chắn phải được hình thành từ nhỏ. Thực tế hiện nay, ngay cả ở vùng nông thôn cũng không ít hình thức giải trí nên việc coi thường đọc sách là… “chuyện thường ngày ở huyện”. Khơi gợi đam mê đọc sách thông qua trò chơi là điểm nhấn nội dung dự án.

          Nguyễn Hải Linh cho biết thêm: Sự đặc biệt của dự án “Ngày hội đọc sách 2012” đó là gây dựng tủ sách cho mỗi lớp giao cho lớp trưởng và giáo viên chủ nhiệm quản lý. Người quản lý phải có trách nhiệm bảo quản gìn giữ mà còn ghi lại lượt người mượn sách và cả những phản hồi của người đọc về những loại sách muốn đọc để ban tổ chức kịp thời bổ sung sách mới. Chính quá trình “kiểm tra” này cũng sẽ đồng thời đánh giá tác động của dự án đến mức nào.  

          Cũng giống như bao dự án khác, muốn thực hiện và mở rộng dự án “Ngày hội đọc sách 2012” yêu cầu kinh phí được đặt ra đầu tiên. Ngoài việc quyên góp sách từ các tình nguyên viên và những cá nhân hảo tâm, ban tổ chức còn đã xin tài trợ bằng hiện vật từ các đơn vị làm sách tư nhân. Ngoài ra, ban tổ chức còn tiếp tục vận động tài trợ từ nhiều nguồn khác để các chuyến đi tặng sách và hướng dẫn đọc sách trở nên thường xuyên và có thể mở rộng hơn ở các địa phương khác trong tương lai. 

            HÀM ĐAN


Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

MỞ HƯỚNG ĐI MỚI TỪ "LÀNG TÔI"


 Vở xiếc “Làng tôi” ra đời từ năm 2005 với phiên bản đầu tiên lên tới 100 người biểu diễn; đến năm 2008, bản diễn được dựng lại với 20 người và đi trình diễn ở nhiều nước Âu-Mỹ chinh phục được khán giả khó tính nhất. Tiếng tăm vở xiếc vang về cố hương khiến nhiều khán giả Việt Nam háo hức muốn được xem tận mắt để tự lý giải vì sao “Làng tôi” lại có sức hấp dẫn ở xứ người? Và mới đây, “Làng tôi” quay trở lại Việt Nam gây ấn tượng sâu đậm với khán giả ngồi chật Nhà hát Lớn Hà Nội suốt hơn 2 tiếng đồng hồ.

“Làng tôi” được sáng tạo qua bàn tay của 3 đạo diễn: Nguyễn Lân (Giám đốc nội dung đào tạo của Trường Nghệ thuật Xiếc TP.Chambéry, Pháp), Tuấn Lê (tốt nghiệp Trường Xiếc Quốc gia TP Hồ Chí Minh, hiện sống và làm việc ở Berlin, Đức) và Nguyễn Nhất Lý (tốt nghiệp ĐH Paris VIII, nguyên Chủ tịch Hội đoàn Art-Ensemble, Pháp). Về bản chất, “Làng tôi” là một chương trình nghệ thuật xiếc với đủ các chiêu trò tung hứng, uốn dẻo, nhào lộn, đi thăng bằng... Nhưng “Làng tôi” không đơn thuần trình diễn những pha xiếc mà đi sâu vào xây dựng một chương trình xiếc có ý đồ nghệ thuật độc đáo.

Khác với vở kịch nói chung, “Làng tôi” không có cốt truyện diễn biến kinh điển thắt nút rồi mở nút mà theo kết cấu phân mảnh. Mỗi một cảnh của vở diễn độc lập với nhau, chúng chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là tái hiện văn hóa Việt, đặc biệt là văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ-cái nôi của văn hóa người Việt.

Với đạo cụ chính là những cây tre, những nét sinh hoạt và tinh thần văn hóa Việt tái hiện vừa rõ ràng mà không thiếu tinh nghệ thuật đầy biến hóa. Từ những cảnh lao động mò cua, cấy lúa...; những ngày hội làng, sinh hoạt Phật giáo... được sống trở lại không khí làng quê mà nhiều người từng gắn bó thời thơ ấu. Cách thức diễn đạt của nghệ thuật nói chung là dùng hình tượng! Ở đây, hình thể diễn viên và đạo cụ sẽ xây dựng hình tượng. Ví dụ, cảnh các thanh tre được dao động phía dưới, phía trên một diễn viên di chuyển trên một thanh tre và khua một thanh tre khác tái hiện lại cảnh chèo đò; hoạt cảnh này cũng muốn cho khán giả biết đây sinh hoạt con người Việt Nam gắn chặt với sông nước! Điều này cũng đòi hỏi, diễn viên không chỉ thuần thục các động tác xiếc mà còn phải có thêm kỹ năng biểu diễn trên sân khấu. Giải thích cho điểm mới của “Làng tôi”, đạo diễn Tuấn Lê cho biết: “Xu hướng chung của xiếc trên thế giới là không dàn dựng các tiết mục đơn lẻ nữa mà xây dựng chương trình có ý tưởng, nội dung rõ ràng hay vở diễn có lớp lang và đưa được thông điệp đến người xem. Diễn viên phải “đa năng”, vừa múa, vừa chơi nhạc, vừa làm xiếc, ngoài biểu diễn sân khấu còn đóng vai trò như khán giả, nghe nhạc và xem các đồng nghiệp khác diễn”.

Sau đêm diễn đánh dấu sự trở về chính thức, “Làng tôi” dự kiến được diễn định kỳ hàng tuần từ tháng 4-2013. Giờ đây, khi “Làng tôi” đã trở về với cố hương và bước đầu giành được sự quan tâm của khán giả, đó là thành công không phải ngành nghệ thuật nào cũng làm được. Thực sư, xiếc Việt Nam đã đi đầu cho xu hướng không quá chuộng chất liệu mới lạ mà càng sử dụng chất liệu quen thuộc nhất có thể (trường hợp “Làng tôi” chính là văn hóa Bắc Bộ) nhưng bằng cách sáng tạo trong dàn dựng, phân cảnh và ý đồ nghệ thuật thì sẽ tạo ra những tác phẩm nghệ thuật độc đáo nhưng không quá xa lạ và khó hiểu.

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012

THỜI ĐÀM (XXVI): ÁM CHỈ


Ám chỉ là một cách thức ngầm ẩn để phê phán một sự kiện, hiện tượng mà nhiều lý do người ta không muốn (được) nói… toạc móng heo. Vừa rồi, ở làng giải trí, một danh ca chê hai đàn em là khó có đủ trình độ để truyền nghề cho các “đệ tử”. Phản pháo thế nào cũng thiếu tế nhị nên một đàn em cao tay giả vờ dạy con để ám chỉ đàn chị nghi ngờ khả năng của mình bằng những câu nói bề ngoài vô hại kiểu như: “Luôn dạy con rằng đừng bao giờ làm tổn thương người khác dù là điều nhỏ nhất!!!”. Vụ việc vẫn còn tiếp tục “nóng”, nhưng nhiều người cho rằng hành động ám chỉ như vậy là không nên, có gì không đồng tình thì nên trao đổi thẳng thắn.

Trong sinh hoạt hàng ngày, ám chỉ đã bị xem là hành động tiêu cực, khi nó đi vào sinh hoạt văn chương hành động càng bị lên án, ai trót sử dụng ám chỉ trong tác phẩm ngay lập tức bị dân trong nghề xa lánh như tránh... hủi. Cách đây gần 30 năm, một nhà văn trẻ viết vài truyện ngắn đầu tay rất mới, rất hay được dư luận rộng khắp tung hô là “vua truyện ngắn”. Chẳng hiểu cái danh hiệu hơi quá đà kia có gây ngứa tai hay không mà một giáo sư đại học hễ nhà văn trẻ kia viết được truyện gì mới là viết ngay bài phê bình chê lấy chê để. Bực tức với sự chê bai lắm khi vô lối, nhà văn trẻ kia đã viết hai truyện ngắn ám chỉ bản thân giáo sư đại học kia là chẳng hiểu gì đem lý thuyết suông cũ mèm để lý giải tác phẩm độc sáng; truyện còn lại thì quá “dị” so với quy định là cạnh khóe đến cả bậc sinh thành của giáo sư nọ! Nhiều người cầm bút trước còn quý mến nhà văn trẻ, sau lại không ưa ra mặt, có người còn tuyệt giao vì cho rằng nhà văn này có tài nhưng không có đức.

Ám chỉ trong văn chương còn có chuyện “nhức đầu” khác là nhà văn viết ra tác phẩm không hề có ý ám bất cứ một chuyện gì vẫn bị buộc tội ám chỉ. Nếu chăm theo dõi thời sự văn học, chỉ tính 5 năm trở lại đây, có khả nhiều vụ việc tác phẩm chia hai luồng ý kiến, một phía bảo là ám chỉ, phía còn lại bảo không như: Vụ bài thơ “Gửi nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ” của nhà thơ Trần Quang Đạo, bài thơ “Phía ngược” của nhà thơ Ngô Đình Miên… Một điều khá trùng hợp là hầu hết các vụ việc tác phẩm bị nghi ngờ ám chỉ đều liên quan đến thơ! Điều này không khó hiểu vì bản chất ngôn ngữ thơ ca là “mờ đục”, không rõ ràng, đa nghĩa; cho nên dẫn đến hiện tượng một bài thơ có nhiều cách đọc và nhiều cách hiểu. Tuy nhiên, cách hiểu một bài thơ ở mỗi người không giống nhau, nó phụ thuộc ở nhiều yếu tố như: Kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thẩm mỹ, vốn tri thức… Nói theo cách của lý luận văn học là: Tác phẩm chỉ tồn tại thông qua sự đọc!

Đành rằng, người ngoài nghề văn chương cũng có quyền phát ngôn về cách nghĩ của mình về tác phẩm; song nếu không có trực giác nghệ thuật để hiểu tác phẩm và vốn tri thức văn học để lý giải rất dễ sa vào thói nguy hiểm là “chụp mũ”. Cần nói thêm rằng, những cách hiểu sai về một tác phẩm văn học nhất là thơ ca ở đâu cũng có thậm chí nhiều tác phẩm bị đem ra tòa để phân xử như vụ bài thơ “Hú” của nhà thơ Allen Ginsberg (1926-1997) ở Mỹ vào năm 1957. Mỗi khi có vụ việc văn chương ám chỉ, dư luận chỉ còn cách trông cậy vào những tiếng nói có thẩm quyền. Hội Nhà văn Việt Nam cũng đã từng phải đánh công văn để giải thích cho một vài tác phẩm bị hiểu lầm là ám chỉ, một số nhà phê bình cũng hăng hái vào cuộc bảo vệ tác phẩm vô tội bị “chụp mũ”…

Xem ra, chuyện ám chỉ và những hệ lụy đi kèm không quá khó giải quyết. Và vấn đề này cũng không bao giờ mất hẳn vì khi các cá tính bị không đồng nhất như hiện nay thì đến một câu nói vô hại có khi còn bị hiểu lầm là xiên xỏ; huống chi là tác phẩm văn chương trong thực có hư trong, hư có thực! Chỉ có điều cần nói thêm mà ít ai để ý, đã là tác phẩm có dụng ý ám chỉ từ xưa đến nay hầu như không có ai biết đến sau vài chục năm ra đời. Lý do rất đơn giản, tác phẩm văn chương sống được là khi nó được xây dựng xuất phát từ những đức tính tốt đẹp con người và kết tinh của giá trị vĩnh cửu của văn học; ám chỉ đi ngược lại khi sử dụng văn chương cho mục đích phi văn chương. Đã không vị nghệ thuật lẫn vị nhân sinh thì làm sao neo đậu trong trái tim người đọc!    

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

CÙNG BÀN LUẬN (XVI): LÀM "SỐNG LẠI" NHỮNG DI TÍCH CÁCH MẠNG


Càng đến gần những ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước như Quốc khánh 2-9, nhu cầu của du khách được trở về các di tích gắn liền với quá trình kháng chiến gian khổ giành độc lập tự do cho Tổ quốc của quân và dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh càng tăng lên. Vẫn biết rằng, thời nay không thiếu những phương tiện hiện đại để giáo dục truyền thống Cách mạng, nhưng không cách nào sinh động bằng được đi tận nới, nhìn tận mắt những di tích gắn liền với sự kiện và nhân vật in dấu trong lịch sử Cách mạng Việt Nam, đặt nền móng cho nền độc lập của đất nước, sự no ấm của nhân dân ngày hôm nay.

Tầm quan trọng của di tích Cách mạng cơ bản đã được các cơ quan chức năng nhận thức đúng đắn; từ đó, đã có những biện pháp bảo vệ, trùng tu và phát triển giá trị di tích. Như địa đạo Củ Chi (TP Hồ Chí Minh), những người có trách nhiệm không chỉ gìn giữ tốt một số đoạn đường hầm, mà còn giữ cả khu rừng nguyên sinh, giữ nguyên đường đất đi vào địa đạo. Cao hơn nữa là dựng lại một phần nhỏ đủ hình dung cuộc sống trong lòng địa đạo Củ Chi. Còn gì thú vị và cảm động hơn sau khi tham quan địa đạo, du khách được ăn những miếng sắn luộc từng là thức ăn của của cán bộ, chiến sĩ vùng “đất thép” gian khổ năm xưa!

Nhưng không phải ở đâu những di tích Cách mạng cũng phát huy được giá trị như địa đạo Củ Chi. Ở huyện Định Hóa (Thái Nguyên)-vùng ATK trong kháng chiến chống Pháp mới chỉ có 19/129 di tích được xếp hạng. Không được xếp hạng đồng nghĩa với việc di tích không được bảo vệ trước sự hủy hoại của tự nhiên và tệ hơn là của con người. Nhiều di tích chiến tranh nổi tiếng thế giới, ghi lai chiến công hiển hách thời đại ta, được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia, nhưng lại rơi vào tình trạng "dự án treo" đến cả một thập kỉ, như hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra tại Quảng Trị.

Phục hồi các di tích Cách mạng là đòi hỏi cấp thiết nhưng vẫn hết sức thận trọng tránh những cách làm vô nguyên tắc. Trong quá trình phục hồi các di tích, chính quyền địa phương cần phải “cầu thị và bắt tay” chặt chẽ với các nhà khoa học (đặc biệt là các nhà sử học) để phục hồi chính xác hiện trạng di tích trong quá khứ. Bởi một khi phục dựng sai sẽ phản lại giá trị giáo dục!

Với những di tích đặc biệt không khác gì một “bảo tàng ngoài trời" khổng lồ như Điện Biên Phủ cần có những kế hoạch phục dựng trung thực bằng tầm cao nghệ thuật và khoa học hiện đại. Điểm độc đáo trong nghệ thuật quân sự của quân đội ta trận Điện Biên Phủ là chiến thuật công kiên. Đặt giả thiết rằng, những đường hào từng là “thòng lọng” kết liễu quân đội Pháp được phục hồi, du khách sẽ hiểu sâu sắc tầm quan trọng sự thay đổi phương án tác chiến từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc thắng chắc”, là quyết định chính xác và "khó khăn nhất" trong đời cầm quân của Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, vốn chỉ được đọc trong sách vở và nghe kể như huyền thoại.    

Muộn và khó vẫn phải làm! Lịch sử giữ nước của dân tộc ta trong thế kỉ hai mươi sự thật mà ngỡ như huyền thoại. Nếu không nhanh phục dựng những di tích cách mạng thì không chỉ hôm nay thế hệ trẻ lãng quên quá khứ, mà muôn năm sau sự thật sẽ trở nên hư ảo, mờ nhạt. Sẽ rất nguy hiểm với nền văn hóa dân tộc ta, khi tuổi trẻ mai sau hiểu biết hạn chế về dân tộc, về cha ông mình, mất đi nguồn sữa truyền thống Cách mạng nuôi dưỡng tình yêu Tổ quốc và khí phách của một dân tộc anh hùng. "Việc hôm nay chớ để ngày mai". Làm sống lại những di tích Cách mạng là việc làm vừa cấp bách, vừa có ý nghĩa lâu dài./.

          HÀM ĐAN

Thứ Năm, 16 tháng 8, 2012

GIẢI THƯỞNG "BÚP SEN VÀNG" LẦN III-2012: CHUYỂN BIẾN VỀ CHẤT

Mới đây, giải thưởng “Búp sen vàng” lần 3 - năm 2012 đã kết thúc, nhận được những đánh giá tích cực của những người trong nghề. “Búp sen vàng” là giải thưởng hằng năm nhằm vinh danh những bộ phim truyện và phim tài liệu ngắn của các học viên dự án “Chúng ta làm phim” thuộc Trung tâm Hỗ trợ và phát triển tài năng điện ảnh trẻ (TPD) - Hội Điện ảnh Việt Nam, lần thứ 3 giải được tổ chức vẫn hướng đến mục đích đưa bộ môn nghệ thuật thứ 7 đến gần hơn với khán giả và cũng như tạo cơ hội cho các bạn trẻ tự mình thực hiện phim ngắn.

Giải năm nay đã nhận được hơn 40 bộ phim tham dự, 7 giám khảo của “Búp sen vàng” năm nay là đạo diễn Phan Đăng Di, nhà quay phim Hoàng Tấn Phát, đạo diễn Trần Phương Thảo, đạo diễn Nguyễn Trinh Thi, nhà dựng phim Julie Béziau (Pháp), nhà biên kịch Bùi Kim Quy và nhà báo Phạm Hải Anh đã chọn ra 20 bộ phim tranh giải (10 phim tài liệu, 10 phim truyện ngắn). Ban giám khảo đánh giá chất lượng các bộ phim khá đồng đều, thể hiện góc nhìn sáng tạo về nhiều vấn đề của cuộc sống. Hai giải thưởng cao nhất của giải năm nay là: Giải thưởng “Búp sen vàng” cho phim tài liệu do Ban giám khảo chọn đã thuộc về bộ phim “Bạn là ai?” của đạo diễn Hoàng Huyền My và giải “Búp sen vàng” cho phim truyện do Ban giám khảo bình chọn đã thuộc về phim “Ngược dòng” của đạo diễn Lê Hoàng. “Ngược dòng” cũng đoạt giải “Búp sen vàng” cho phim truyện xuất sắc do khán giả bình chọn trong đêm chung kết.

Điều tích cực qua giải năm nay là dù tuổi đời các nhà làm phim còn rất trẻ, nhưng sự hồn nhiên trong cách diễn đạt đã tạo ra những bộ phim mới lạ. Cách làm phim tôn trọng sự thật cuộc sống, khách quan tối đa và giản dị trong thể hiện đang là xu hướng của các bộ phim hay gần đây như: “Nghệ sĩ” (Pháp), “Tình yêu” (Áo), “Người giúp việc” (Mỹ), "Sự chia ly" (I-ran).... Có thể nhận ra, các bộ phim tranh tài tại giải ngày càng bám sát xu hướng điện ảnh đương đại, công phu hơn trong cách kể chuyện. Chẳng hạn, “Cho tôi một vé về tuổi thơ” (Nguyễn Minh Phương, học sinh lớp 11) kể về những mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái dưới góc nhìn từ một đứa trẻ bị gia đình cho là hư hỏng; đã phát lộ tinh tế những khác biệt về cách sống của hai thế hệ.

Một điều đáng ghi nhận khác ở giải năm nay là các bộ phim đã mạnh dạn đề cập đến những đề tài hóc hiểm đối với bất kỳ những người sáng tạo nào. Nổi bật là bộ phim tài liệu “Bạn là ai?” của Hoàng Huyền My (sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội) giành giải cao nhất cho phim tài liệu do Ban giám khảo chọn. Bộ phim kể về một cô gái tên Trang do hoàn cảnh mà trở nên cô độc, phong cách sống như con trai và có xu hướng chỉ có bạn là... con gái mà không rung động trước một chàng trai nào! Cô bị mọi người xem là “lập dị”. Tuy nhiên, bộ phim đã đi sâu vào cuộc sống của Trang và chỉ ra cô là người đáng thương hơn là đáng giận. Đồng thời, bộ phim còn có thông điệp khá sâu sắc: Bạn là ai không quan trọng bằng bạn có thể làm được gì tốt đẹp cho bản thân và những người xung quanh!

Sự trưởng thành của các nhà làm phim thông qua chất lượng các bộ phim được nâng cao đã cho thấy uy tín của giải. Đây cũng là tiền đề để hy vọng giải năm sau sẽ có những bộ phim hay hơn; và xa hơn nữa sẽ dần hình thành một đội ngũ làm phim trẻ, giàu sức sáng tạo “tiếp lửa” cho điện ảnh nước nhà.

LINH THIÊN

Thứ Hai, 13 tháng 8, 2012

CÙNG BÀN LUẬN (XV): LỖI TỪ TẦM VĨ MÔ


Việc đoàn thể thao Việt Nam trắng tay tại kỳ Ô-lim-pích Luân Đôn 2012 không mấy ai bất ngờ, thậm chí cái kết buồn này đã được dự đoán  trước khi các vận động viên đi thi thố. Một phần, chúng ta biết trình độ vận động viên Việt Nam vẫn còn khoảng cách xa so với các anh tài trên thế giới; tuy nhiên, thất bại này còn xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có việc các nhà quản lý thể thao chưa làm tốt phần việc mang tính vĩ mô.

18 vận động viên Việt Nam đến Ô-lim-pích là con số đáng tự hào. Nhưng dường như các nhà quản lý chỉ muốn số lượng đông đảo để “đánh trống ghi tên” hơn là chất lượng để ít ra có thể giành được một tấm huy chương. Nhiều người cho rằng, thay vì đầu tư dàn trải, tốn bao tiền của chỉ để có thêm 1 đến 2 suất dự Ô-lim-pích (dù có dự cũng chưa chắc qua được vòng loại!) bằng cách dùng số tiền đó tập trung cho cử tạ, bắn súng, có lẽ chúng ta đã có huy chương.

             Thất bại  của thể thao Việt Nam tại kỳ Ô-lim-pích lần này còn đến từ cung cách chuẩn bị thiếu chuyên nghiệp. Ai cũng biết thể thao Việt Nam đầu tư để tìm kiếm huy chương theo kiểu “đi tắt đón đầu” chứ không theo chiều sâu là đầu tư cơ sở vật chất trong các học đường, câu lạc bộ để có nền thể thao mạnh toàn diện và bền vững. Nhưng khi có trong tay những niềm hy vọng có thể đoạt huy chương thì lại chưa làm hết sức và chưa khoa học để những vận động viên này tiến xa hơn. Hà Thanh (thể dục dụng cụ), Nguyễn Thị Lụa (vật) một thời gian dài không có huấn luyện viên; xạ thủ Hoàng Xuân Vinh (bắn súng) và Quốc Toàn (cử tạ) chỉ được đầu tư trọng điểm một thời gian ngắn trước khi thi đấu... Đó là chưa kể, thể thao Việt Nam thiếu các chuyên gia tâm lý thi đấu, dẫn đến việc các vận động viên bước vào sân chơi lớn là bị ngợp, bị choáng trước sức mạnh đối phương, vì thế, ngay cả tay vợt kỳ cựu Nguyễn Tiến Minh (cầu lông) cũng thi đấu dưới sức mình.

         Trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, kinh phí đầu tư cho thể thao không thể lớn hơn thì cái cách làm thể thao “đi tắt đón đầu” vẫn là cách làm khả dĩ. Nhưng, các nhà quản lý thể thao cần hoàn thành trách nhiệm để không còn phải đi đổ lỗi vô duyên cho khán giả cổ vũ quá to làm vận động viên mất tập trung thi đấu.

         Nhiều chuyện buồn là vậy, nhưng Ô-lim-pích Luân Đôn 2012 không đến mức đáng quên đối với thể thao Việt Nam, bởi không ít các vận động viên đã thi đấu hết mình và đã tạo lập được những kỷ lục quốc gia. Họ đáng được hoan nghênh và cần  được đầu tư  luyện tập và thi đấu nhiều hơn nữa. Quan trọng hơn, thành tích thi đấu khởi sắc trên là cơ sở để người hâm mộ kỳ vọng ở những thành công ở đấu trường quốc tế trong những năm tới.

Nhưng trước khi mơ đến những kết quả khả quan, những người làm thể thao Việt Nam cần thay đổi nhận thức để hiểu rằng: Đã đến lúc tham dự Ô-lim-pích là để giành huy chương chứ không phải đi thi đấu với tâm lý có mặt là vui, hay là học hỏi, cọ xát là chính. Sau đó, cần xác định rõ thế mạnh, nghiêm túc trong huấn luyện, tìm thầy giỏi và đầu tư dài hơi có trọng điểm thì mới hy vọng cái kết không huy chương sẽ xa rời đoàn thể thao Việt Nam ở đấu trường Ô-lim-pích.      

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 8 tháng 8, 2012

CHRIS HOY-HUYỀN THOẠI THỂ THAO VƯƠNG QUỐC ANH


Trong các nội dung đua xe đạp thì đua xe đạp lòng chảo ít phổ biến hơn vì đầu tư rất tốn kém; cho nên các vận động viên xuất sắc nhất đều đến từ các nước phát triển. Và nếu phải cần một cái tên VĐV-một biểu tượng của đua xe lòng chảo thì không ai khác là Crít Hoi (Chris Hoy) đến từ Xcốt-len. Ngoài đời thường, giới truyền thông gọi C. Hoi là Sir (Ngài) vì anh đã được phong tước hiệp sĩ của Hoàng gia Anh; nhưng trên đường đua xe đạp lòng chảo, anh đơn giản không có đối thủ-một ông vua suốt hơn một thập kỷ qua.  

Lúc 1 giờ sáng ngày 8-8 (theo giờ Việt Nam), C. Hoi khẳng định vị trí của mình trong lịch sử thể thao Vương quốc Anh khi giành huy chương vàng (HCV) thứ 2 tại Olympic 2012, nâng thành tích HCV tại đấu trường Olympic lên con số 6; và trở thành VĐV Vương quốc Anh vĩ đại nhất ở Olympic. Sau khi cùng các đồng đội phá kỷ lục thế giới và giành HCV ở nội dung nước rút đồng đội nam 5 ngày trước, C. Hoi tiếp tục giành HCV ở nội dung đua xe lòng chảo keirin (đua sau mô-tô đi trước dẫn đường) với thành tích 42,6 giây. C. Hoi đã bảo vệ thành công HCV ở nội dung đua xe lòng chảo keirin khi đã 36 tuổi, vượt qua đối thủ nặng ký người Đức Ma-xi-mi-li-an Lê-vi trong tích tắc.

Chiến thắng quá ngoạn mục khiến chính C. Hoi không tin nổi! Trong nước mắt, C. Hoi bày tỏ xúc động khi chiến thắng ngay tại quê nhà: “Đây là điều tôi luôn ao ước. Tôi luôn muốn giành được HCV trước sự cổ vũ của khán giả nhà”. Sự ngọt ngào của HCV càng khó quên khi đây là lần cuối C. Hoi tranh tài tại Olympic.

Thành tích của C. Hoi là HCV và 1 HCB trải qua 4 kỳ Olympic liên tiếp bắt đầu từ Olympic Sydney 2000. Nhưng nếu tính từ năm đầu tiên thi đấu xe đạp lòng chảo chuyên nghiệp (1999) đến nay, bảng thành tích của C. Hoi lớn hơn nhiều với 36 huy chương các loại tại các giải đấu lớn (trong đó có 11 HCV ở Giải vô địch thế giới đua xe lòng chảo).

Sinh ra Edinburg (Xcốt-len) vào ngày 23-3-1976, C. Hoi đã làm bạn với chiếc xe đạp từ năm 6 tuổi. Trải qua nhiều nội dung đua xe khác nhau, cuối cùng năm 1994 anh mới đến với đua xe lòng chảo chuyên nghiệp khi gia nhập CLB đua xe TP Edinburg. Thành công từ đó mới mỉm cười với anh, mà đỉnh cao là Olympic 2008 với 3 chiếc HCV. Với những gì đã làm được cho thể thao Vương quốc Anh, mới đây Nhà thi đấu Velodrome có sức chứa hơn 5000 người tại Glasgow (Xcốt-len) được xây dựng để phục vụ cho Đại hội thể thao khối Thịnh vượng chung 2014 đã được đặt tên C. Hoi. Niềm vui nối niềm vui! Dù thành tích không ấn tượng như tại Bắc Kinh 4 năm về trước, nhưng năm 2012 hẳn lại đáng nhớ đối với C. Hoi-huyền thoại thể thao Vương quốc Anh.

HÀM ĐAN

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

ĐỌC HỒI KÝ 'GIA ĐÌNH, BẠN BÈ VÀ ĐẤT NƯỚC"


Suốt 10 năm sau khi về nghỉ hưu, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình vẫn miệt mài với những công việc đoàn thể, xã hội của “một người về hưu bận rộn”-như cách bà tự nói về mình. Cho nên, việc hồi ký “Gia đình, bạn bè và đất nước” (NXB Tri thức, 2012) ra đời mới đây khiến nhiều người ngạc nhiên ở sức làm việc và trí tuệ minh mẫn của một người ở tuổi 85 tuổi.

Trên thế giới, hầu như những người nổi tiếng đều viết hồi ký với mục đích kể chuyện “thâm cung bí sử”, vào chêm vào những lời nhận xét gây sốc. Càng có nhiều chuyện “độc” hồi ký mới mong bán chạy! Bà Nguyễn Thị Bình là một người nổi tiếng với vai trò Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Và là người phụ nữ duy nhất ký vào 32 văn bản của Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam vào ngày 27-1-1973. Nhưng bà Nguyễn Thị Bình đã chọn viết đơn giản, giọng điệu tâm tình như phong cách một quý bà lịch lãm, duyên dáng mà giới truyền thông quốc tế từng gọi bà với có biệt danh “Madame Bình”.

Nội dung của cuốn hồi ký đã được khái quát từ nhan đề bình dị! Trong gần 300 trang sách, bà Nguyễn Thị Bình kể lại cuộc đời mình theo kiểu biên niên sử từ nhỏ cho đến khi về già, nhưng không đi ra ngoài chuyện gia đình, chuyện những người bạn đồng cam cộng khổ và chuyện đi làm việc nước.

Rất nhiều người biết bà Nguyễn Thị Bình là cháu ngoại của nhà yêu nước Phan Châu Trinh (1872-1926). Điều may mắn cho bà Nguyễn Thị Bình là thừa hưởng truyền thống yêu nước, trọng tri thức của cha ông. Song qua hồi ký, người đọc biết thêm nhiều câu chuyện cảm động về gia đình bà như chuyện ông thân sinh bà Bình tuổi cao sức yêu phải chăm hai cháu và khi ông cụ mất bà Bình không có mặt. Hoặc là chuyện, suốt 9 năm chống Pháp, bà Bình chỉ nhận được vẻn vẹn mấy chữ: “Chúc em và cả gia đình ăn toàn, khỏe mạnh” của người yêu là sĩ quan quân đội Đinh Khang nhưng vẫn chờ đợi đến năm 1954 mới nên duyên vợ chồng. Vì nhiệm vụ trên giao bà Bình đã phải xa hai đứa con, không thể chăm sóc thường xuyên khi chiến sự căng thẳng: “Đi công tác xa, nghe bom đạn rơi gần chỗ con ở, tôi lo lắng đến thắt lòng, thương các con vô cùng”. Nhưng chính trong hoàn cảnh gian khó, những người thân yêu luôn ở cạnh bà, trở thành động lực cho mọi công việc. Khi nhìn lại, bà thừa nhận mình là người hạnh phúc khi có một gia đình yên ấm: “Cũng có thể nói tôi có một cuộc đời kỳ lạ: không thể tách ảnh hưởng và tình thương của gia đình trên mỗi bước đường nhiều nỗi gian truân của mình. Đó là sức mạnh và cũng là hạnh phúc của đời tôi”.

Gần 70 năm hoạt động Cách mạng, bà Nguyễn Thị Bình tiếp xúc với nhiều người trong và ngoài nước. Nhiều người trong số đó trở thành bạn bè sát cánh trong công việc hệ trọng. Đặc biệt là ở cuộc đàm phán dài nhất lịch sử tại Paris, những người bạn và cũng là cộng sự của bà như: Lý Văn Sáu, Dương Đình Thảo, Ngọc Dung, Bình Thanh… đã luôn giúp đỡ bà rất nhiều để hoàn thành nhiệm vụ của một trưởng đoàn đàm phán. Và còn rất nhiều những bạn bè quốc tế, cảm phục cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta và có tình cảm yêu mến riêng con người “Madame Bình” nên đã vô tư giúp đỡ Cách mạng Việt Nam.  

Cuối cùng, với đất nước, bà Nguyễn Thị Bình luôn tâm niệm phải hoàn thành mọi việc mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó để góp phần nhỏ bé cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ năm 1946, bà Nguyễn Thị Bình đã có suy nghĩ: Việc gì có lợi cho Cách mạng thì làm! Và nay, sau ngần ấy năm, ở cuối cuốn hồi ký, quan điểm phải đặt lợi ích chung của đất nước lên trên hết được bà cho là điều bất di bất dịch. Khi đất nước vẫn chưa hết khó khăn và phải đương đầu với những thách thức mới, bà Nguyễn Thị Bình tin tưởng ở sức mạnh của dân tộc, đặc biệt là thế hệ trẻ sẽ giúp đất nước đi lên: “Tôi thích ví đất nước ta như con thuyền. Qua bao thác ghềnh, con thuyền Tổ quốc đã ra biển cả, phía trước là chân trời mới…!”

          HÀM ĐAN

Thứ Hai, 6 tháng 8, 2012

XÂY DỰNG CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA Ở VIỆT NAM: MUỘN CÒN HƠN KHÔNG!


Mới đây, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam phối hợp với Văn phòng UNESCO tại Hà Nội đã triển khai dự án “Phát triển cơ chế tài chính và khuôn khổ pháp lý mới cho công nghiệp văn hóa (CNVH) tại Việt Nam” thuộc chương trình “Hỗ trợ chuyên môn nhằm củng cố hệ thống quản lý nhà nước về văn hóa ở các nước đang phát triển” do UNESCO và Liên minh Châu Âu hợp tác thực hiện. Dự án này này có tham vọng bước đầu đề ra những giải pháp để thúc đẩy nền CNVH Việt Nam phát triển. 

Việt Nam chưa hình thành CNVH

Khái niệm CNVH và các lĩnh vực CNVH chưa thống nhất một định nghĩa duy nhất. Tuy nhiên, hầu hết các định nghĩa đều nhấn mạnh CNVH là quá trình sản xuất, tái sản xuất và truyền bá các dịch vụ văn hóa được tạo ra bằng phương thức công nghiệp hóa, tin học hóa, thương phẩm hóa. Một nền CNVH thực sự là phải để tạo ra việc làm và lợi nhuận. Theo quan điểm mới nhất, CNVH được xác định bao gồm các lĩnh vực chủ chốt là: Truyền thông, thiết kế, thời trang, sản phẩm tương tác, nghệ thuật biểu diễn, xuất bản, phim ảnh và nghệ thuật thị giác. Tất cả đều nhấn mạnh hai yếu tố là công nghiệp và sáng tạo.
  
Dựa vào các đặc điểm của CNVH nói trên, các chuyên gia đánh giá: Việt Nam chưa có nền công nghiệp văn hóa. Các hoạt động văn hóa ở Việt Nam còn nhỏ lẻ, chưa hiệu quả, chủ yếu sống bằng bao cấp của nhà nước. Hệ thống sản xuất phân phối các sản phẩm văn hóa chủ yếu vẫn do các doanh nghiệp của nhà nước đảm nhiệm, sự tham gia của khu vực tư nhân và các tổ chức phi chính phủ còn hạn chế. Việc đầu tư ngân sách cho hoạt động văn hóa nhìn chung còn thấp so với các ngành khác, chỉ chiếm khoảng 0,3% GDP; đồng thời, đóng góp của hoạt động văn hóa trong cơ cấu sản phẩm trong nước cũng rất hạn chế. Trong khi đó, CNVH đã trở thành ngành trụ cột trong nhiều nền kinh tế. Chẳng hạn, ở châu Âu, ngành công nghiệp này tạo ra khoảng 3% GDP (tương đương 500 tỷ Euro/năm) và giải quyết việc làm cho khoảng 6 triệu người.

Thực tế cho thấy, tiềm năng cho ngành CNVH ở Việt Nam không hề thua kém quốc gia nào trong khu vực do nước ta có thị trường tiêu thụ các sản phẩm văn hóa, dân số trẻ có khả năng sáng tạo, trình độ truyền thông hỗ trợ CNVH cũng dần nâng cao, áp lực thuế tương đối thấp.... Tuy nhiên, đa số người dân, các doanh nghiệp lẫn các nhà quản lý lại không được hiểu một cách đầy đủ về CNVH; từ đó, chưa mạnh dạn để khai thác và làm lợi cho đất nước.

PGS, TS Lương Hồng Quang (Phó Viện trưởng Viện VHNT Việt Nam) cho rằng: Các lĩnh vực trong CNVH đã xuất hiện ở Việt Nam từ chục năm trước nhưng chúng ta lại chưa có được chiến lược tổng thể để phát triển. Thậm chí, một số người đồng nhất CNVH với… thương mại hóa văn hóa nghệ thuật. Lấy ví dụ, tổng lợi nhuận khai thác từ chú mèo máy Đô-rê-mon là 2 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, bản thân Đô-rê-mon là sản phẩm từ trí tuệ họa sĩ, quảng bá hiệu quả do truyền thông ở Nhật phát triển... Chắc chắn sẽ không có hiện tượng thần kỳ Đô-rê-mon nếu họa sĩ không đam mê sáng tạo và cũng không biết quảng bá mà chỉ chăm chăm đuổi theo số lượng hoặc nghĩ ra các bộ truyện rẻ tiền, độc hại.

Các nghệ sĩ Việt Nam thực sự chưa quen sáng tạo những sản phẩm văn hóa hiện đại. Bản thân những đơn vị có chức năng sản xuất các sản phẩm văn hóa như: Nhà xuất bản, công ty truyền thông, công ty thiết kế... lại có thói quen mua bản quyền các sản phẩm văn hóa nước ngoài rồi tìm cách “Việt hóa”. Các làm này ở giai đoạn đầu xây dựng CNVH có thể chấp nhận được vì bắt chước là cũng là một cách học hỏi. Tuy nhiên, nếu cứ duy trì cách thức “ăn xổi ở thì” này thì CNVH Việt Nam sẽ bị kìm hãm nghiêm trọng.  

          Cho nên để CNVH Việt Nam phát triển nhanh, đúng hướng và bền vững trước tiên cần phải thay đổi nhận thức của các bên liên quan về CNVH. Và đó là một trong những mục tiêu mà chương trình “Hỗ trợ chuyên môn nhằm củng cố hệ thống quản lý nhà nước về văn hóa ở các nước đang phát triển” hướng đến cho tất cả các nước được hỗ trợ, tỏng đó có Việt Nam.

Tập trung, chuyên sâu các hoạt động sáng tạo văn hóa

Sau khi khảo sát về thực trạng sinh hoạt văn hóa ở các đô thị, các chuyên gia UNESCO cho rằng: Hiện tại không có một cơ chế tài chính có hiệu quả và khung pháp lý thích hợp trong hoạt động tài trợ để hỗ trợ cho ngành CNVH. Giải quyết hai vấn đề cơ bản nói trên mới có thể nghĩ đến một ngành CNVH Việt Nam đích thực vừa sáng tạo mà cũng năng động.

Chuyên gia UNESCO Tom Fleming đề xuất: Các cơ quan chức năng của Việt Nam cần kết nối với các đối tác từ công lập cho đến tư nhân và xã hội dân sự để xây dựng chiến lược phát triển cho CNVH bằng những bước đi ngắn hạn đến dài hạn. Và phục vụ cho chiến lược đó là những dự án nền tảng. Nhà nước cần tiên phong đầu tư cho các ngành CNVH mà Việt Nam có lợi thế phát triển chẳng hạn như điện ảnh. Doanh thu bán vé phim ở Việt Nam hiện nay tăng gần gấp 3 lần so với 10 năm trước khoảng hơn 30 triệu USD với 3,5 triệu khán giả. Nhưng doanh số ấn tượng này chủ yếu lại từ phim nước ngoài. Nếu nhà nước biết khai thác nhân lực, hỗ trợ trang thiết bị, đầu tư cho các kịch bản phim có chất lượng, bắt tay với các hãng tư nhân có thực lực thì may ra mới có nền điện ảnh chuyên nghiệp “siêu lợi nhuận”. Điều này không có nghĩa nhà nước quay trở lại thời kỳ bao cấp kinh phí mà chỉ đóng vai trò hỗ trợ gián tiếp. Nếu việc hỗ trợ đi vào thực hiện có nghĩa cơ chế tài chính sẽ chuyển từ cơ chế “xin-cho” vốn kém hiệu quả trong việc xin tài trợ cho các ngành CNVH sang mô hình “đầu tư”.

Ý kiến khác cho rằng, Việt Nam cần sớm xây dựng một siêu vùng văn hóa hay thành phố sáng tạo theo hướng tập trung, chuyên sâu. Thành phố sáng tạo này có thể hiểu như những đặc khu phát triển CNVH, là những siêu vùng dành riêng cho nghệ thuật và nghề thủ công truyền thống. Các đơn vị kinh doanh ở gần nhau sẽ thuận tiện cho nguồn cung, nhân lực, đầu ra; chính sách kinh tế, động viên về thuế, vốn vì thế cũng sẽ tập trung. Chuyên gia UNESCO William Codjo cho rằng: Thử nghiệm thành phố sáng tạo trước hết ở TP Hồ Chí Minh vì đây là một thành phố năng động, tiếp đó có thể xây dựng ở Hà Nội hoặc Đà Nẵng. Trên thực tế, mô hình này đã được áp dụng ở một số vùng như Thượng Hải và khu nghệ thuật 798 ở Bắc Kinh (Trung Quốc). Châu Âu cũng đã có một số vùng thành công như khu vực sáng tạo thời trang ở phía Bắc của I-ta-li-a, chùm sáng tạo phía tây thủ đô London (Anh)...

          Có thể những kinh nghiệm và lý thuyết phát triển CNVH của các nước phát triển có thể không phù hợp với điều kiện một nước đang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên, yêu cầu cấp bách trong việc xây dựng nền CNVH ở Việt Nam cần phải được trả lời ngay bằng những hành động thiết thực, quyết liệt. Muộn còn hơn không! Bởi, còn gì tốt hơn khi có một nền văn hóa đã đậm đà bản sắc dân tộc nay còn dồi dào khả năng sáng tạo; và quan trọng hơn có thể đem lại lợi ích kinh tế cho đầt nước.

          HÀM ĐAN

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

THỜI ĐÀM (XXV): TRE GIÀ MĂNG MỌC



Khoa nghiên cứu văn học chia làm ba bộ phận là: Lịch sử văn học, phê bình văn học và lý luận văn học. Ở Việt Nam, may mắn là lĩnh vực nào cũng có những thế hệ nối tiếp nhau để nghiên cứu theo chiều sâu, để lại ít nhiều thành tựu. Thế nhưng, thế hệ những người am hiểu văn hóa phương Tây lẫn phương Đông đã ở tuổi xưa nay hiếm, sức làm việc kém đi nhiều. Những tiếng nói có thẩm quyền nhất trong nghiên cứu văn học hiện nay là những người được đào tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa cũng sắp lui vào “hậu trường”. Khoảng trống nhân lực trong khoa nghiên cứu văn học bỗng lộ ra. Những người chỉ quan tâm đến số lượng hẳn sẽ chỉ ra rất nhiều cây bút trẻ đang là nghiên cứu viên, nhà báo, nhà giáo… kiêm “nghề phụ” nghiên cứu văn học. Nhưng câu hỏi là những cây bút trẻ này liệu có thể đưa khoa nghiên cứu văn học ở nước ta phát triển hơn trong tương lai?
Không giống như bên sáng tác có thể có tài năng tuổi 16 như Chế Lan Viên hay Nguyên Hồng, đã làm nghiên cứu văn học là phải biết dằn lòng chờ đợi. Sớm nhất là phê bình văn học cũng phải tầm “tam thập nhi lập” mới có thể hành nghề bằng các bài phê bình báo chí. Riêng với lịch sử văn học và lý luận văn học, để có thành tựu phải ở tầm ngoài tuổi 40! Điều này có nghĩa, phải chờ thời gian mới có thể đánh giá thành quả của một thế hệ nghiên cứu văn học 7X và 8X. Tuy nhiên, nếu xem xét các khởi điểm của thế hệ này, sự lạc quan về số lượng sẽ qua đi, chỉ còn lại nỗi âu lo.
Không lo sao được khi không nhiều người được học hành bài bản các lý thuyết văn học một cách trực tiếp bằng con đường du học, làm nghiên cứu sinh. Đa phần đều tự đọc sách (hầu như là sách dịch mà đôi khi dịch cũng không chính xác!) nên kiến thức không thành hệ thống mà rất lỗ mỗ. Số người biết ngoại ngữ để có thể đọc nguyên bản các tài liệu lý thuyết văn học cũng không phải là nhiều. Đó là chưa kể yếu tố khách quan về vật chất cho nghiên cứu văn học cơ bản kém như bao ngành nghiên cứu khác.
Vừa rồi, tại một cuộc gặp mặt những người nghiên cứu văn học, một cây bút trẻ viết phê bình văn học đã đưa ra nhiều giải pháp để lý luận phê bình trẻ mạnh lên như: Lập một tạp chí chuyên về phê bình trẻ; hỗ trợ về kinh phí trong việc in ấn cũng như trả nhuận bút cho các tác phẩm phê bình; cần có những trại nghiên cứu như trại sáng tác dành riêng cho phê bình trẻ... Những giải pháp nói trên không có gì mới, nhiều giải pháp thực tế không cần thiết như cần lập tạp chí cho phê bình trẻ vì có khi trang web chuyên phê bình sẽ là giải pháp hiệu quả ở thời đại số.
Nhiều người khi đọc lướt qua những giả pháp trên sẽ cho rằng, nhà nước phải ra tay thì nghiên cứu văn học nước nhà mới sớm “cất cánh”. Thật ra, cốt lõi để có một tác phẩm nghiên cứu có chất lượng hay sự xuất hiện của một nhà nghiên cứu văn học tầm cỡ đương nhiên vẫn là ý chí, phương pháp làm việc của bản thân nhà nghiên cứu trẻ. Mọi hỗ trợ dù đầy đủ đến mấy mà nhà nghiên cứu trẻ không chịu khó nghiền ngẫm, tìm ra phương pháp tối ưu thì kết quả vẫn là con số không tròn trĩnh.
Sự hỗ trợ của nhà nước có chăng là tạo điều kiện để công việc nghiên cứu văn học trở nên chuyên nghiệp hơn, nhanh hơn. Ví dụ, nhà nước có thể lập một trung tâm dịch thuật các tác phẩm khoa học xã hội nhân văn kinh điển. Khi các tác phẩm liên quan đến lý thuyết văn học và các ngành bổ trợ cho nghiên cứu văn học được dịch cẩn thận, những người làm phê bình văn học sẽ lẳng lặng áp dụng để giải mã tác phẩm, chứ không còn mất công đọc và tự dịch lý thuyết để làm việc nữa.   
Có thể thế hệ nghiên cứu văn học hôm nay sẽ không làm được nhiều việc như các thế hệ trước, tạo ra một sự “đứt gãy” cho lịch sử nghiên cứu văn học; nhưng tin rằng nếu mỗi người nghiên cứu làm tốt phần việc của mình, chắc chắn vẫn sẽ góp phần nghiên cứu sâu văn học nước nhà. Và chính những điều chưa làm được của thế hệ nghiên cứu văn học hôm nay sẽ là tiền đề cho thế hệ sau bước tiếp và vượt qua để trưởng thành như quy luật “tre già măng mọc”!
HOÀNG BÌNH PHƯƠNG


Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

PHIM HOẠT HÌNH HÈ 2012: TIẾP TỤC CUỘC CHIẾN!


Gần 20 năm trở lại đây, phim hoạt hình có nhiều cuộc cách mạng về nội dung và cả hình thức. Tuy nhiên những bộ phim hoạt hình đình đám nhất chỉ tập trung vào một số hãng có thực lực; nổi lên trong số đó là hai “đại gia” DreamWorks và Pixar. Mùa hè 2012, cuộc chiến lại nổi lên khi DreamWorks tùng ra phần 3 của loạt phim Madagascar, còn Pixar trình làng bộ phim hoàn toàn mới mẻ là “Brave” (tựa Việt: Công chúa tóc xù).

“Madagascar 3”, bbữa tiệc tiếng cười

Mùa hè này, sư tử Alex cùng những người bạn của mình trong “Madagascar 3”tiếp tục trở lại màn ảnh rộng, với sự xuất hiện của các nhân vật mới trong chuyến phiêu lưu đầy màu sắc tới châu Âu.

Trong “Madagascar 3”, sư tử Alex, ngựa vằn Marty, hà mã Gloria và hươu cao cổ Melman quyết tâm tìm đường về với Vườn thú Trung tâm tại thành phố New York. Bỏ lại châu Phi, nhóm bạn lên đường sang châu Âu tìm những chú chim cánh cụt và đội tinh tinh với hy vọng công nghệ cao của chúng sẽ đưa tất cả về Mỹ. Tuy nhiên khi vừa tới Monte Carlo và làm náo loạn một sòng bạc ở đây, nhóm bạn đã lọt vào tầm ngắm của nữ cảnh sát trưởng người Pháp thuộc sở quản lý động vật tên là Chantel Dubois.

Với mục tiêu không để cho bất cứ loài động vật nào được bay nhảy tự do ngoài đường phố, Chantel Dubois quyết tâm truy đuổi nhóm bạn và mơ về chiến tích bắt được chú sư tử đầu tiên trong sự nghiệp. Nhóm của Alex phải trốn vào một gánh xiếc rong và đi tour tới nhiều thành phố ở châu Âu. Tại đây, họ gặp những người bạn mới như chú hải sư Stefano, nàng báo gợi cảm Gia và chú hổ nóng tính Vitaly. Cuộc gặp gỡ định mệnh này đã khiến cho mục đích của sư tử Alex và những người bạn thay đổi hoàn toàn...

Giống như hai phần trước, “Madagascar 3” tiếp tục khai thác lợi thế về mặt hình ảnh và các tình tiết gây cười. Mỗi nhân vật trong phim đều có sự hài hước, hóm hỉnh riêng. Ở phần ba xuất hiện rất nhiều nhân vật mới nhưng có lẽ để lại nhiều ấn tượng hơn cả là nữ cảnh sát Chantel Dubois. Có khứu giác nhạy bén và bản tính ưa bạo lực, Chantel quyết tâm theo đuôi bằng được nhóm sư tử Alex, tạo nên một màn truy bắt kịch tính nhưng không kém phần vui nhộn trên khắp châu Âu. Tạo hình nữ cảnh sát này rất quái dị và đầy tính châm biếm.

Các nhân vật trong “Madagascar 3” cả cũ lẫn mới đều được hòa quyện rất ăn ý. Ở phần này, Vua khỉ Julien XIII phải lòng một nàng gấu khổng lồ trong gánh xiếc. Chuyện tình này là một trong những điểm hấp dẫn nhất trong câu chuyện lần này, bên cạnh các tuyến chuyện khác. Lấy ý tưởng chủ đạo là rạp xiếc nên “Madagascar 3” có rất nhiều màn biểu diễn công phu, rực rỡ màu sắc và gây bất ngờ. Hiệu ứng 3D tuy không tương tác nhiều với khán giả nhưng lại khiến các cảnh quay trở nên sống động, đẹp mắt hơn.

Câu chuyện của “Madagascar 3” mang tính giải trí cao nhưng cũng có tính giáo dục và ý nghĩa nhân văn. Phim đem đến những thông điệp về tình bạn, sự hy sinh, nghị lực của bản thân để vượt qua nỗi sợ hãi, hướng tới tương lai... được cài cắm nhẹ nhàng trong từng tuyến nhân vật, tiếp cận được với khán giả nhỏ tuổi một cách tài tình mà không bị giáo điều. Sau những bom tấn hành động, giả tưởng nặng ký đầy rẫy các siêu anh hùng (superhero) từ đầu hè đến giờ như một bộ phim hoạt hình 3D như “Madagascar 3” sẽ khiến bữa tiệc phim hè trở nên vui nhộn, nhẹ nhàng hơn.


“Công chúa tóc xù”, phim tâm lý “đội lốt” hoạt hình

Chỉ cần một lần xem qua “Công chúa tóc xù” dễ dàng nhận ra bộ phim chịu ảnh hưởng từ phong cách truyện cổ tích của nhà văn Đan Mạch Christian Hans Andersen và anh em nhà Grimm. “Công chúa tóc xù” là câu chuyện của công chúa tóc xù Merida-một nữ cung thủ tài ba và là cô con gái cứng đầu của nhà vua Fergus và hoàng hậu Elinor. Quyết tâm đi theo con đường riêng, Merida không làm theo một phong tục lâu đời được đặt ra bởi các lãnh chúa của vương quốc: Lãnh chúa to béo MacGuffin, Lãnh chúa hay cáu kỉnh Macintosh và Lãnh chúa hay gây gổ Dingwall.

Những hành động của Merida đã gây ra sự náo loạn và tức giận trong vương quốc. Khi tìm đến một mụ phù thủy lập dị, nàng nhận được một điều ước đầy rủi ro. Những sự kiện và mối đe dọa sau đó đã buộc Merida phải dùng tới mọi kỹ năng và nguồn lực của nàng - bao gồm cả ba cậu em trai sinh ba thông minh và láu lỉnh - để đảo ngược một lời nguyền trước khi quá muộn, qua đó khám phá ra ý nghĩa đích thực của lòng quả cảm. Có thể xem “Công chú tóc xù” là câu chuyện về quá trình tìm kiếm chính mình, tạo ra số phận cho mình của một cô gái trẻ nhưng vô cùng dũng cảm. Merida, nhân vật chính trong phim, phải cân bằng giữa hình ảnh mà thế giới nhìn nhận về cô và hình ảnh mà cô tự nhìn nhận mình. Cho nên, nhiều nhà phê bình điện ảnh cho rằng, “Công chúa tóc xù” thực ra là phim tâm lý dưới hình thức một bộ phim hoạt hình không có diễn viên đóng diễn.

Điểm đáng nhớ của “kỳ quan” hoạt hình thứ 13 của Pixar lần đầu tiên có nhân vật chính là nữ của “đại gia hoạt hình” Pixar. Điều đáng nhớ khác của bộ phim nằm ở độ phức tạp của hình ảnh; cho nên con số kinh phí khổng lồ 185 triệu USD là hoàn toàn hợp lý.

Mệnh lệnh đổi mới

Trong gần 10 năm canh tranh khốc liệt của hai đại gia hoạt hình DreamWorks và Pixar, xét về giải thưởng diện ảnh lớn (nhất là giải Oscar) và tính theo doanh thu thì Pixar đang chiếm thế thượng phong.

Tuy nhiên, gần đây, Pixar đang tỏ vẻ yếu thế. Một phần, xưởng phim hoạt hình này dần trở nên kém sáng tạo hơn khi không đưa ra được một nhân vật nào mới, cách kể truyện lặp đi lặp lại rất dễ đoán được kết cục.

Xưởng phim Pixar nhận ra ngay các hạn chế và tìm cách thay đổi. “Công chú tóc xù” có thể xem là bước thử khi đưa nội dung cốt truyện hoàn toàn người lớn đội cái lốt phim hoạt hình. Tuy nhiên, bước thử này tỏ vẻ không hiệu quả, chí ít xét về mặt doanh thu. Với 189 triệu USD kinh phí nhưng sau hơn một tháng công chiếu, bộ phim chỉ thu về chưa đến 280 triệu USD Trong khi đó, cũng được công chiếu vào đầu tháng 6-2012, “Madagascar 3” có kinh phí thấp hơn (145 triệu USD) nhưng thu về gần 500 triệu USD. Một sự chênh lệch quá lớn và khó san lấp, và mùa hè này có thể xem là thuộc về DreamWorks.

Lý giải thất bại của “Công chúa tóc xù” có thể chỉ nằm ở chính sự thử nghiệm của họ. Vấn đề tạo hình nhân vật và kỹ thuật làm phim không có gì đáng chê trách. Tuy nhiên, cốt truyện bộ phim và kỹ thuật kể chuyện khiến bộ phim này chỉ dành cho các bé gái và những người ưa phim tâm lý lâm ly! Nên nhớ, 12 bộ phim trước của Pixar từ đứa trẻ tiểu học đến cụ già 70 đều say mê vì trong một bộ phim có tât cả các yếu tố để thu hút mọi lứa tuổi.

Tất nhiên, không thiết phải quá lo lắng cho Pixar vì với trình độ nhân lực và kỹ thuật tiến tiến trong tay, xưởng phim hoạt hình huyền thoại này chắc chắn sẽ tìm ra con đường mới. Nhưng vấn đề là họ phải sớm tìm ra con đường đó, chớ dò dẫm những bước thử kiểu như “Công chúa tóc xù”. Đơn giản, ai cũng biết: Điện ảnh không phải là một thứ nghệ thuật vị nghệ thuật thuần túy; lợi nhuận là ưa tiên hàng đầu. 

Và chính bản thân người thắng trong hè 2012 là DreamWorks sau “Madagasdar 3” chắc chắn cũng phải làm một bộ phim mới để duy trì lợi thế tạm thời. Vì vậy, cuộc chiến giữa hai đại gia hoạt hình này vẫn sẽ tiếp tục ột cách dài dài...   

HÀM ĐAN