Thứ Năm, 17 tháng 11, 2011

CÙNG BÀN LUẬN (V): TINH THẦN VIỆT


Mới tuần trước thôi, người dân Việt Nam trong nước và khắp năm châu chung tay bình chọn cho Vịnh Hạ Long trở thành Kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới. Chiến thắng của Vịnh Hạ Long không chỉ có ý nghĩa khẳng định giá trị di sản này, mà qua 24 triệu tin nhắn còn minh chứng cho lòng yêu nước, tình đoàn kết của mỗi con dân đất Việt khi nghĩ về trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc.
         Mấy hôm nay, cùng niềm vui với Vịnh Hạ Long, ngày ngày tin vui từ “đất nước vạn đảo” liên tiếp dồn về. Những vận động viên của đoàn thể thao Việt Nam thi đấu ở SEA Games 26 đang nỗ lực trên 100% phong độ để giai điệu hùng tráng “Tiến quân ca” vang lên nhiều lần trên nước bạn. Trong số vận động viên đứng trên bục huy chương vàng, lại thấy khuôn mặt rạng ngời của “búp bê” Ngân Thương. Những tưởng, sau việc bị cấm thi đấu do vô cẩn "dính" đô-ping đã quật ngã vận động viên này. Nhưng sự thật ở SEA Games 26 đã làm hàng triệu con tim cảm động: Ngân Thương dù không ở đỉnh cao phong độ và đã không tập luyện thường xuyên, vẫn sẵn sàng thi đấu vì màu cờ sắc áo. Hai huy chương vàng thể dục dụng cụ ở nội dung xà lệch và cầu thăng bằng với những động tác khéo léo và chính xác là phần thưởng cho nỗ lực cá nhân của bản thân cô. Nhưng đó còn là phần thưởng cho một con người sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ nào khi đất nước cần, giống như thế hệ thanh niên “ba sẵn sàng” năm nào.
         Cũng tại SEA Games 26, có người thua lại xứng đáng được vinh danh. Những ai được xem cảnh vận động viên Nguyễn Thị Phương vấp ngã khi cách vạch đích 2m ở nội dung 3000m vượt rào nữ hẳn sẽ nuối tiếc khi vuột mất một tấm huy chương vàng. Phương đã kiệt sức ở những khoảnh khắc quyết định, nhưng rồi cô lết, nhoài, vươn tới và tay chạm vào vạch đích để vừa đủ về nhì và sau đó là đi... cấp cứu. Cái đích chỉ cách có 2m, nhưng trong trường hợp của Phương khoảng cách đó dường như là bất tận. Vì vậy, đừng nghĩ động tác lết, nhoài người của Phương là đơn giản, đó là hành động xuất phát từ trách nhiệm của một người đã nhận nhiệm vụ và quyết phải hoàn thành nhiệm vụ bằng mọi giá. Chỉ giành được tấm huy chương bạc nhưng cô đã thể hiện được phẩm chất ngoan cường, vươn lên khó khăn trong mọi hoàn cảnh. Những biểu hiện làm rung động lòng người thì sẽ còn mãi và không chiến thắng nào có thể so sánh được. Ý chí của Phương, tinh thần của Phương đã trở thành cảm hứng thi đấu, cảm hứng sáng tạo và thi ca!
        Lại nữa, trên đường chạy 800m, đàn anh Nguyễn Đình Cương đã chấp nhận làm “chim mồi” nhằm ghìm các đối thủ lại để đàn em Dương Anh Thái thực hiện một cú nước rút thần tốc và cán đích đầu tiên. Thật khó quên, sau đó, hai vận động viên ôm lấy nhau, cùng cầm lá cờ đỏ sao vàng chạy khắp sân như để nói rằng: Đây là chiến thắng của Việt Nam! Phẩm chất đoàn kết, chấp nhận hy sinh lợi ích riêng của người Việt Nam tỏa sáng một lần nữa trên đấu trường khu vực.
         Còn nhiều hành động, hình ảnh khác của những vận động viên mạnh thể chất và đẹp tâm hồn đang thầm lặng luyện tập, thi đấu để khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam hôm nay. Từ đấu trường SEA Games vang lên đĩnh đạc một câu trả lời: Tinh thần Việt đang được nuôi dưỡng, nhân lên trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Lớp trẻ hôm nay đang sống, cống hiến xứng đáng với cha anh. Đó là một niềm hạnh phúc lớn lao.
          Ý chí sắt đá, tinh thần quả cảm của tuổi trẻ hôm nay cần được vun đắp và định hướng, cần một sự cố kết sức mạnh toàn xã hội để cùng hướng vào những mục tiêu cao đẹp của đất nước trong giai đoạn mới, gặt hái những thành công mới, bồi đắp niềm tự hào mới, đưa Việt Nam cất cánh./.

          HÀM ĐAN

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011

NGÀY DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM LẦN THỨ VII-NGÀY VỀ NGUỒN (23-11-2011): CƠ HỘI "VÀNG" QUẢNG BÁ DI SẢN VĂN HÓA BẮC TRUNG BỘ


Từ ngày 21 đến 23-11, Ngày di sản văn hóa Việt Nam lần thứ VII-Ngày về nguồn 2011 sẽ được tổ chức với chủ đề “Tuần văn hóa di sản Bắc Trung Bộ tại Hà Nội 2011”. Hoạt động này còn mở đầu công tác tuyên truyền, quảng bá Năm Du lịch Quốc gia khu vực Duyên hải Bắc Trung Bộ-Huế 2012.

Do đã nhiều lần tổ chức nên đơn vị được giao chủ trì tổ chức là Trung tâm Triển lãm Văn hóa-Nghệ thuật Việt Nam đã chủ động phối hợp cùng với 6 Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch Bắc Trung Bộ lên kế hoạch từ một năm trước, để thống nhất nội dung, lựa chọn những di sản phi vật thể và vật thể tiêu biểu nhất của mỗi địa phương, giới thiệu với người dân Thủ đô và bạn bè quốc tế. Nhờ vậy, khung chương trình đã được “chốt” ngay từ đầu tháng 11. Bên cạnh đó, các công tác tuyên truyền, quảng bá sự kiện trên cũng đã được xúc tiến sớm, dự kiến “Đêm di sản văn hóa Bắc Trung Bộ tại Hà Nội năm 2011” sẽ được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam vào tối ngày 23-11.
         
Tuy chỉ diễn ra trong 2 ngày và chủ yếu tại khuôn viên Trung tâm Triển lãm Văn hóa-Nghệ thuật Việt Nam (2 Hoa Lư, Hà Nội) nhưng Ngày di sản văn hóa Việt Nam lần thứ VII sẽ dày đặc các hoạt động là: Ngày văn hóa xứ Thanh-nét đẹp văn hóa xứ Thanh, Ngày văn hóa Huế (biểu diễn nghệ thuật, thao diễn tay nghề truyền thống, ẩm thực Huế…), đêm giao lưu văn hóa nghệ thuật Bắc trung Bộ (hát ví, ca Huế…), thi thuyết trình du lịch, chương trình Road show giới thiệu quảng bá du lịch di sản Bắc Trung Bộ, tọa đàm tổng kết đánh giá kết quả ngày về nguồn. Hiệu quả các hoạt động quảng bá tác động tới du khách đến đâu còn là dấu hỏi mà phải chờ đến ngày hạ màn mới có thể kết luận. Nhưng, theo ông Phạm Văn Thủy-Giám đốc Trung tâm Triển lãm Văn hóa-Nghệ thuật Việt Nam nhận định, Ngày di sản văn hóa Việt Nam lần thứ VII là cơ hội “vàng” quảng bá các di sản văn hóa Bắc Trung Bộ mà lâu nữa mới quay trở lại. Ông Thủy lấy dẫn chứng là sau 10 năm được tổ chức lần đầu, đến năm 2012 chương trình Những ngày văn hóa Tây Nguyên mới quay trở lại Thủ đô.   

Sau thành công của Năm Du lịch Quốc gia khu vực Duyên hải Bắc Trung Bộ-Phú Yên 2011, khu vực Bắc Trung Bộ được chọn để tổ chức Năm du lịch Quốc gia không phải vì luân phiên thay đổi vùng miền, mà còn gắn với việc tôn vinh các di sản văn hóa độc đáo. Trước tiên là những di sản văn hóa vật thể, mới nhất là việc Thành nhà Hồ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới, cố đô Huế tuy đã có tiếng nhưng sẽ tiếp tục được quảng bá sâu rộng hơn để tuyên truyền trước cho Festival Huế 2012 có quy mô lớn nhất từ trước đến nay.

Ngày di sản văn hóa Việt Nam lần thứ VII còn là cơ hội để các tỉnh Bắc Trung Bộ giới thiệu những giá trị văn hóa phi vật thể ít người biết đến. Ở thời trung đại, khu vực Bắc Trung Bộ vốn là vùng biên ải của nước Đại Việt nên nó vừa lưu giữ các nét văn hóa gốc của người Việt khởi nguồn từ đồng bằng sông Hồng, vừa giao thoa văn hóa với các nền văn hóa khác; cho nên, nó tạo ra sự đa dạng ngay trong nội tại vùng lãnh thổ. Ví dụ, hò sông Mã (Thanh Hóa), ví dặm (Nghệ An), ca Huế đều do cư dân vùng sông nước trình diễn nhưng không hề giống nhau; ẩm thực Huế hoàn toàn khác biệt với các tỉnh còn lại trong cách chế biến và nguyên liệu còn về mùi vị cơ bản lại giống.

          Sự giàu có tự thân của di sản văn hóa Bắc Trung Bộ, cộng với sự chuẩn bị chủ động, nội dung chương trình phong phú có thể tin tưởng, qua Ngày di sản văn hóa Việt Nam lần thứ VII các giá trị di sản văn hóa Bắc Trung Bộ sẽ được nhiều người biết đến, qua đó thúc đẩy ngành công nghiệp “không khói” của khu vực ngày một lớn mạnh.

          HÀM ĐAN

DỰ ÁN MỞ RỘNG "NÂNG CAO KHẢ NĂNG SỬ DỤNG MÁY TÍNH VÀ TRUY CẬP INTERNET CÔNG CỘNG Ở VIỆT NAM": BÌNH ĐẲNG HƯỞNG LỢI TỪ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN


Sau giai đoạn thí điểm thành công, dự án mở rộng “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng tại Việt Nam” do Quỹ Bill & Melinda Gates (BMGF) tài trợ đã chính thức khởi động sau khi được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ TTTT) làm chủ dự án, và có sự phối hợp của Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL), UBND của 40 tỉnh và các đơn vị liên quan. Các bên tham gia dự án kỳ vọng dự án sẽ hỗ trợ người dân nghèo, nhóm thiệt thòi và những người sống ở vùng đặc biệt khó khăn được tiếp cận bình đẳng, qua đó hưởng lợi từ công nghệ thông tin. 
           
          Dự án cho người nghèo       

Bà Deborah Jacobs (Giám đốc chương trình Thư viện toàn cầu của BMGF) giải thích lý do vì sao BMGF chọn Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á thực hiện dự án: Trước tiên, Chính phủ Việt Nam cam kết tạo mọi điều kiện cho dự án được triển khai và có sự hỗ trợ của nhiều Bộ, ban, ngành và các công ty như Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel)… Ngoài ra, Việt Nam là đất nước mà nhiều người ở nông thôn vẫn chưa có điều kiện sử dụng thông tin từ Internet. Đồng thời, Việt Nam có những thiết chế văn hóa ở tận cấp xã giúp dự án triển khai dễ hơn nơi khác.   

Tuy có những điều kiện thuận lợi để thực hiện dự án nhưng trước khi mở rộng, vẫn phải thực hiện dự án thí điểm (BMGF viện trợ không hoàn lại 2,1 triệu USD) do Quỹ Viễn thông công ích Việt Nam thuộc Bộ TTTT chủ trì thực hiện từ tháng 2 đến 7-2009 tại 3 tỉnh là Thái Nguyên, Nghệ An và Trà Vinh. Dự án thí điểm đã xây dựng thành công 99 điểm truy nhập Internet ở các điểm bưu điện văn hoá xã (BĐVHX) và các thư viện công cộng (TVCC). Thành công của dự án không chỉ ở việc được Bộ Công nghệ thông tin và Truyền thông Ấn Độ trao Giải nhất “Giải thưởng quốc tế dành cho Dự án quản trị nông thôn” tại Niu Đê-li (Ấn Độ) vào tháng 8-2011; mà còn góp phần làm thay đổi cuộc sống những người dân theo hướng tích cực. Ông Phan Hữu Phong (Giám đốc Ban Quản lý dự án) lấy ví dụ: Tại Thái Nguyên, có người mẹ tìm lại được con sau 12 năm lưu lạc nhờ… e-mail. Người dân huyện Đại Từ (Thái Nguyên) sử dụng thông tin qua Internet để nuôi lợn rừng, quảng bá chè Tân Cương. Giúp người dân nuôi gà thành công ở xã Mường Mọc (huyện Quế Phong, Nghệ An). Nông dân ở xã Ngũ Lạc (huyện Duyên Hải, Trà Vinh) nhờ thông tin từ Internet mà không bị tiểu thương ép giá nông sản. Đặc biệt, các cháu học sinh nghèo đã sử dụng tiện ích trường học trực tuyến để học tập đỗ đạt cao, giải toán trên mạng đoạt giải Olympic như trường hợp ở Nghệ An...
           
         Nhờ hiệu quả rõ ràng trên, dự án đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai mở rộng ra 40 tỉnh chia làm 3 giai đoạn trong thời gian từ 2011 đếm 2016 với tổng kinh phí là 50,5 triệu USD, trong đó BMGF tài trợ hơn 30 triệu USD, số còn lại là vốn đối ứng từ phía Việt Nam. Dự án sẽ cung cấp, lắp đặt 12.070 máy tính nối mạng Internet cho 1.900 điểm BĐVHX và TVCC. Người dân sẽ được miễn phí 100% khi sử dụng Internet tại TVCC và được giảm 50% giá cước truy cập tại BĐVHX. Dự án sẽ đào tạo kỹ năng cho 1.572 nhân viên BĐVHX và TVCC. Dự kiến trong giai đoạn thực hiện dự án sẽ có thêm 760.000 người ở nông thôn được sử dụng Internet.
           
         Ông Phan Hữu Phong cho biết, các bên liên quan đã nhất trí thông qua các tiêu chí lựa chọn địa phương nhận được sự hỗ trợ của dự án để bà con những nơi thực sự cần đến công nghệ thông tin có đời sống tốt hơn. Ông Phong cũng nói thêm về cách thức triển khai dự án mở rộng, theo đó, ở giai đoạn 1 dự án mở rộng, riêng ở miền Bắc, sẽ có 3 tỉnh thực hiện chương trình là Hà Giang, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Trong đó, tỉnh Thái Nguyên đã có kinh nghiệm thí điểm sẽ chia sẻ cách làm với 2 tỉnh còn lại. Tương tự, ở các giai đoạn tiếp theo, các tỉnh chưa thực hiện sẽ được phổ biến cách làm từ các tỉnh đã và đang thực hiện dự án. 

Duy trì tính bền vững của dự án
         
         Dự án sẽ trang bị cho mỗi điểm BĐVHX 5 máy tính, 1 máy in và các trang thiết bị đi kèm, các chi phí khác cùng tiền lương cho 1 người phục vụ. Tại mỗi điểm truy nhập viễn thông công cộng kết hợp với thư viện địa phương, thư viện bệnh viện, thư viện trường học sẽ trang bị từ 5 đến 20 máy tính, 1 máy in và các trang thiết bị đi kèm và các chi phí khác. Để người dân, đặc biệt là nông dân có thể nhanh chóng hưởng lợi từ các thông tin từ Internet và cũng có thể kiểm soát tốt nội dung thông tin, dự án đã thành lập một trang web: http://www.i4ra.vn gồm tiếng Việt và tiếng Khơ-me cung cấp các dữ liệu cập nhật về nông nghiệp, giá cả thị trường, văn hóa, tư liệu học tập, văn bản pháp luật… và kết nối với các trang web hữu ích khác.
           
         Hiệu quả của dự án đạt được đến đâu, sau khi dự án kết thúc mới có thể đánh giá toàn diện. Tuy nhiên, với sự đầu tư lớn và cách làm khoa học như trên có thể thấy tính khả thi của dự án là rất cao. Bà Nguyễn Thanh Mai (Vụ trưởng Vụ Thư viện, Bộ VHTTDL) cho biết thêm: Dự án triển khai đào tạo cho cán bộ quản lý, đồng thời đào tạo kỹ năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet cho người dân là một mục tiêu quan trọng của dự án. Như vậy, dự án sẽ là cơ hội để nâng cao cách thức phục vụ của hệ thống BĐVHX và TVCC ở những vùng còn khó khăn. Đồng thời, dự án sẽ góp phần giúp hoàn thành mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn giai đoạn 2010-2020.
          
         Ông Huỳnh Vĩnh Ái, Thứ trưởng Bộ VHTTDL cho biết thêm khi dự án kết thúc, các trang thiết bị hết thời hạn phục vụ dự án sẽ được chuyển giao cho những nơi từng quản lý để tiếp tục phục vụ nhu cầu của người dân. Mặt khác, đội ngũ nhân viên BĐVHX và TVCC đã được đào tạo sẽ tiếp tục duy trì tính bền vững của dự án, để dù dự án có đáo hạn thì hiệu quả vẫn sẽ tiếp tục được phát huy. 
          HÀM ĐAN

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2011

"NHẬT KÝ TRONG TÙ" CÓ THÊM MỘT BẢN DỊCH TIẾNG SÉC



Từ những năm 1960 trở đi, tập thơ “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được dịch ra các ngôn ngữ lớn như tiếng Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha... Tiếng vang của “Nhật ký trong tù” còn lan tới các cộng đồng ngôn ngữ nhỏ hơn, trong đó có Tiệp Khắc (cũ) với hai bản dịch in thành sách: Bản đầu tiên lấy tên là “Đo nước” (NXB Miền Trung Tiệp Khắc, 1973) và "Nhật ký trong tù" (NXB ODEON, 1985). Tuy nhiên, trong một lần gặp gỡ dịch giả Dương Tất Từ, ông cho chúng tôi hay, “Nhật ký trong tù” được dịch sang tiếng Séc lần đầu tiên do chính ông dịch với sự cộng tác của cố nhà thơ Jan Noha.

Năm 1960, khi dịch giả Dương Tất Từ đang theo học đại học ngữ văn tại thủ đô Praha ông đã nhận được tập thơ “Nhật ký trong tù” do Viện Văn học công bố, qua bản dịch của nhà thơ Nam Trân thực hiện ở trong nước. Thơ của Bác đã tạo niềm cảm hứng mãnh liệt cho dịch giả Dương Tất Từ để ngay lập tức ông dịch sát nghĩa tập thơ sang tiếng Séc trong vòng nửa năm. Nhà thơ Jan Noha đọc qua và đã nhận lời chuyển thành thơ toàn bộ tác phẩm. Sau đó, các bài thơ được dịch đã đăng trên các tạp chí và báo ở Tiệp Khắc như: Tạp chí Sáng tạo, tạp chí Những bông hoa, báo Văn học, báo Quyền lợi đỏ... gây được ấn tượng với bạn đọc Tiệp Khắc.

Một năm sau đó, hoàn thành chương trình đại học, dịch giả Dương Tất Từ trở về nước công tác và đã thỏa thuận với nhà thơ Jan Noha sẽ cho in thành sách “Nhật ký trong tù” để đánh dấu hai bước ngoặt, bởi với dịch giả Dương Tất Từ đó là bản dịch tiếng Séc tương đối quy mô đầu tiên, còn với nhà thơ Jan Noha thì đó lại là kỷ niệm lần đầu tiên tiếp cận thơ Việt Nam; để sau đó ông chuyển tải thành công một tập ca dao Việt Nam với nhan đề “Lộc sắn thì đắng” (1964). Nhưng đáng tiếc, vì nhiều lí do mà tập thơ “Nhật ký trong tù” chưa thể in sách ngay. Thời gian trôi qua, ở bên Séc, nhà thơ Jan Noha qua đời; còn ở Việt Nam, nhà thơ Dương Tất Từ do hoàn cảnh chiến tranh, cộng với cách trở địa lý không có điều kiện để thúc đẩy việc xuất bản. Ông đành giữ tập bản thảo dịch từ thời còn sinh vien, mong chờ cơ hội giới thiệu với bạn đọc gần xa.

Đúng nửa thế kỷ sau, Hội người Việt Nam tại Cộng hòa Séc đã tài trợ kinh phí in ấn, nhà thơ Karel Sýs-Chủ tịch Liên minh các nhà văn Cộng hòa Séc đã đứng ra lo các thủ tục để tập thơ “Deník z vězení” (Nhật ký trong tù) được NXB Periskop (kính tiềm vọng) xuất bản vào tháng 11-2011. Tập thơ có khổ 15×15cm, bìa cứng, giấy trắng ngà. Ngoài bản dịch của Dương Tất Từ và Jan Noha còn được bổ sung một số bản dịch thơ do nhà thơ Karel Sýs. Tập thơ còn có 7 phụ bản minh hoạ của họa sĩ Barbora Vykysalová.

Trong lời đề tựa, nhà thơ Karel Sýs đã viết: “Tinh thần khinh thường xiềng xích và kẻ cầm tù. Tinh thần có mục tiêu của nó và có điều gì đáng nói. Thơ ra đời trong khổ đau, cuộc sống êm đềm chỉ còn là sự trống rỗng. Nó giống như cái kim nam châm, dù bão táp cũng không mệt mỏi và nó cứ chỉ về phương bắc, không thể đem sự oan trái để lừa gạt tinh thần, nó luôn trung thành về cực mà số phận đã định sẵn”. Qua lời nhận xét trên của nhà thơ Karel Sýs, có thể thấy một chân lý trong nghệ thuật, một tác phẩm mà chứa đựng giá trị nhân văn, giàu giá trị nghệ thuật như “Nhật ký trong tù” thì dù có chuyển sang một ngôn ngữ xa lạ và cách biệt về không-thời gian vẫn có giá trị không hề thay đổi.

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

HỒN NHIÊN... CHỢ PHIÊN CÁN CẤU


Trên mấy diễn đàn du lịch, nhiều dân phượt than thở: Càng ngày chợ phiên miền núi phía Bắc càng giống chợ dưới xuôi quá, chẳng có nhiều điều để khám phá như truyền tụng. Thực ra, vẫn còn đó những chợ phiên duy trì cách thức giao dịch như nhiều đời trước. Có điều những phiên chợ miền núi xưa cũ giờ đây đều chỉ còn tồn tại những miền đất xa xôi, như chợ phiên Cán Cấu ở huyện Si Ma Cai (Lào Cai) cách Hà Nội gần 400 cây số, đến nơi tức là mất đứt một ngày đi đường.

Những người đến chợ Cán Cấu từ nhiều năm trước kể lại, các lều quán ngày xưa đều lợp mái cỏ ngả màu nâu vàng lẫn trong màu xanh của núi đồi khiến quang cảnh đẹp đến nao lòng. Giờ đây, các lều quán đều thay bằng bạt, nhìn từ trên cao phiên chợ kém sắc một chút. Tuy nhiên, những điểm còn lại đủ để chợ Cán Cấu thu hút đông du khách vào thứ bảy hằng tuần.

Chợ họp ở bãi đất rộng ven đường, không có tường bao mà được phân chia tự nhiên theo mặt hàng bày bán. Mấy gã chơi chim thì chọn lưng chừng núi bên kia đường tránh xa mọi tiếng ồn để thưởng giọng hót và cả gật gù xem chọi chim. Thấp hơn chút là hàng trăm con trâu bò đứng san sát. Khu buôn bán đồ thổ cẩm, thời trang và tạp hóa một góc riêng, phần đất còn lại là bán đồ ăn.

Chợ Cán Cấu chỉ thực sự đông từ khoảng 9 giờ sáng, những người nhà xa nhất cũng đã đến nơi, lại có thêm nhiều khách du lịch, trong đó khách Tây đông hơn khách ta. Điều này cũng dễ hiểu vì trừ mấy người có “máu xê dịch” thích khám phá, không nhiều du khách trong nước chịu đi xa chỉ để… xem chợ. Nói là xem chợ vì chợ ở đây ít có mặt hàng nào có thể mua về làm quà vì hầu hết các mặt hàng ở đây có chuyển về xuôi, họa hoằn người ta chỉ mua tương ớt và rượu làm thủ công. Với lại, đã là chợ phiên vùng cao còn đơn sơ, nhu cầu mua bán chỉ là thứ yếu, đồng bào các tộc người quanh vùng đến chỉ vì để được… chụp ảnh và thay đổi nhạc chuông điện thoại đang “hot”, thậm chí là đi đến đều tay không. Cái thú du lịch ở chợ là quan sát sắc màu quần áo đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là váy áo của phụ nữ Mông hoa và xen lẫn cả sắc chàm trang phục người Tày, Nùng. Lại được nghe người bán thuyết minh quảng cáo trâu bò đủ các thứ tiếng đến vui tai, trong khi người mua “soi hàng” tưởng đến mòn nhẵn.

Một thú vui khác khi đến chợ Cán Cấu là được nếm ẩm thực vùng cao. Một sự lạ ở chợ Cán Cấu là hàng phở áp đảo khu vực hàng ăn. Phở vùng cao khác xa phở Bắc. Bánh làm từ gạo nương nên có màu hồng nhạt khá lạ. Nếm thử thì ngon nhất là nước dùng, toàn nước cốt xương không cho mì chính, lùa thật nhanh cả bát phở mới thấy sự “nóng” trong người. Người bán phở bảo, người dân quanh vùng mê nhất là món phở, cả gia đình cuốc bộ vài cây số chỉ để ăn phở. Cứ nhìn vào những ánh mắt chờ đợi chủ hàng chan nước là hiểu, có điều nhìn bát phở ở đây đôi khi lạ lùng với… lòng lợn ăn kèm dưa chua bắp cải.

“Đầu bảng” đương nhiên vẫn là thắng cố. Trước hôm đi chơi chợ, một ông anh mời cơm, trong đó có món thắng cố. Ngon lạ lùng, đến nỗi, hôm sau ra chợ Cán Cấu lại tiếp tục ngồi xuống, vừa nhai vừa ngắm, hết một bát đầy. Thêm vào cái rượu ngô như cặp trời sinh, thảo nào đàn ông Mông uống say nằm bên đường, vợ đứng canh khi nào tỉnh mới thôi. Uống say mềm môi, lên xe hàng trở về, anh lơ xe gọi dậy, nhìn ra trời đã sập tối. Chơi cả một ngày chợ, vậy mà cứ tưởng nằm mơ, tỉnh ra mới biết đã xa chợ Cán Cấu mất rồi.

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

TÁI KHÁM PHÁ MỘT "KIỆN TƯỚNG" VĂN GIỚI



Với một nhân vật bị thời gian che mờ như học giả, nguyên đại biểu Quốc hội khóa I Lê Văn Hòe (1911-1968), ngay những người ở tuổi xưa nay hiếm cũng chẳng mấy ai tường tận. Thế nên, Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông do Hội Nhà văn Hà Nội, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Thư viện Hà Nội và trang web Sachxua.net đã thu hút rất đông người tham dự; đến mức, bảo vệ của Thư viện Hà Nội nói nhỏ: Chưa bao giờ thấy hội trường của thư viện phải có người đứng dự lễ! Ai nấy đều muốn tìm hiểu thân thế học giả Lê Văn Hòe và những đóng góp gì cho văn hóa nước nhà.  

Lê Văn Hòe (bút danh Vân Hạc) sinh ngày 1-11-1911 tại làng Mụ ven sông Đáy, thôn Mỗ Xá, xã Phú Nam An, huyện Chương Mỹ, Hà Nội trong một gia đình Nho học. Trước khi học tiếng Pháp như bao cậu bé đương thời, Lê Văn hòe đã được cụ thân sinh dạy chữ Hán khi mới 6 tuổi. Bước đầu học vấn này sẽ đảm bảo cho Lê Văn Hòe dù được xếp vào kiểu trí thức Tây học-những ông Tây An Nam nhưng vẫn có căn cốt cổ học vững chắc, giúp ông trở thành một học giả uyên thâm cổ kim Đông Tây.

Biến cố đầu tiên của cuộc đời Lê Văn Hòe là việc phải thôi học Trường Bưởi do tham gia bãi khóa để tang cụ Phan Châu Trinh (1926). Chẳng biết việc đứt gánh học vấn có bị ông xem là điều rủi hay không, nhưng với văn hóa nước nhà đây là một điều may vì nó đã buộc ông đi vào đời bằng nghề viết. Một năm sau rời ghế nhà trường, ông đã viết cuốn sách đầu tiên là “Khai tâm luân lý” ở tuổi 16. Bù lại cho sự thiếu hụt học vấn nhà trường, Lê Văn Hòe đã tự bổ túc tri thức bằng một quá trình tự học kiên trì để trở thành một học giả với gần 40 tác phẩm gồm: sáng tác, nghiên cứu, dịch thuật, sách giáo khoa... gắn với tên tuổi NXB Quốc học thư xã do ông làm Giám đốc. Công trình giá trị nhất của Lê Văn Hòe là Truyện Kiều chú giải (1953). Công trình này đã sửa những lời chú giải hoặc chuyển ngữ sai lầm về Truyện Kiều, ví dụ: “Bạc mệnh là số phận mỏng manh, ý nói số khổ sở vất vả, trái với số mệnh dầy dặn là số sung sướng. Bạc là mỏng. Mấy bản dịch Pháp văn dịch bạc là “ingrat” tức bạc bẽo, thì sai”.


Một chiều kích khác trong sự nghiệp của Lê Văn Hòe là hoạt động báo chí sôi nổi. Năm 1936, trong phong trào Mặt trận Dân chủ sôi nổi, ông tham gia Ban biên tập báo Đời mới. Sau đó, ông làm chủ bút tờ Ngọ báo và phụ trách phần nghiên cứu của tờ Trung Bắc Chủ nhật. Năm 1945, ông làm chủ bút tờ báo hằng ngày Quốc gia do ông Trần Huy Liệu làm chủ nhiệm, đã công khai tuyên truyền ủng hộ Mặt trận Việt Minh.

Tựu chung, dù có làm báo hay viết sách, Lê Văn Hòe đều có chủ đích nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí như nhiều trí thức cùng thế hệ. Bao biến động dồn dập của lịch sử, nhiều người thời nay không hề đến những công trình cổ học giá trị của Lê Văn Hòe, việc tái bản Truyện Kiều chú giải mới đây chỉ là bước đầu để giới thiệu lại các công trình như: Khổng Tử học thuyết, Những bài học lịch sử, Tục ngữ lược giải... của “một kiện tướng trong văn giới Việt Nam” (Báo Thân dân số 35, ngày 5-6-1953).

HÀM ĐAN




Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011

TRÌNH DIỄN TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM LẦN THỨ I: GÌN GIỮ TRANG PHỤC GỐC


Sau gần một năm có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, chương trình “Trình diễn các trang phục truyền thống cộng đồng các dân tộc Việt Nam lần thứ nhất” đã được Ủy ban Dân tộc triển khai bằng việc thành lập ban tổ chức, hội đồng tư vấn, ban hành các văn bản hướng dẫn. Đến nay,  còn gần một tháng đến thời điểm trình diễn, song tất cả các tỉnh, thành phố đã hoàn tất việc tuyển chọn.   

           Giàu tính văn hóa 

          Hoàn thành một khối lượng công việc lớn chỉ trong một thời gian ngắn chưa phải là “điểm sáng” đáng nói nhất của chương trình, mà là Ban tổ chức đã xác định mục đích, yêu cầu của chương trình một cách đúng đắn ngay từ ý tưởng. Trao đổi với chúng tôi, ông Hoàng Xuân Lương, Phó chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc cho biết: Chương trình trình diễn các trang phục truyền thống cộng đồng các dân tộc Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức có thể xem là cuộc kiểm kê trang phục gốc, từ đó có hướng bảo tồn thích hợp. Vì vậy, ngay từ đầu, không ai nghĩ đến việc thi các trang phục mà chỉ là trình diễn.

      Thực ra, việc kiểm kê trang phục truyền thống cộng đồng các dân tộc Việt Nam có thể thực hiện bằng một đề tài khoa học. Song, một cuộc trình diễn đậm chất văn hóa có khả năng thu hút người trình diễn lẫn người xem, tạo ra cơ hội giao lưu giữa các dân tộc anh em sẽ hơn hẳn sự khô khan và khó phổ biến của một công trình nghiên cứu. Mặt khác, không có trang phục nào có giá trị văn hóa cao hơn trang phục nào, mà sự giàu có của văn hóa nằm ở tính đa dạng nên tổ chức trình diễn là phù hợp, thiết thực và tiết kiệm.

          Ông Chu Tuấn Thanh, Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền (Ủy ban Dân tộc) đồng thời là Ủy viên thường trực Ban tổ chức cho biết thêm các yêu cầu đối với trình diễn đó là: Trang phục trình diễn phải là trang phục gốc không cách điệu, tập trung ở trang phục sinh hoạt và trang phục lễ hội; người dân tộc nào thì trình diễn trang phục dân tộc đó, không dùng người “đóng thế”; độ tuổi người trình diễn là từ 18 đến 40 tuổi, chiều cao tối thiểu là 1m60 (nam) và 1m50 (nữ); người trình diễn được quyền mang theo các đạo cụ nhỏ…

         Không chỉ có thuận lợi, chương trình trình diễn gặp khó khăn khách quan là việc xác định bộ trang phục gốc. Thiếu tướng, nhạc sĩ An Thuyên - Chủ tịch Hội đồng tư vấn chia sẻ: Trong ngành âm nhạc còn đang tranh luận đâu là làn điệu gốc thì việc xác định chính xác đâu là trang phục gốc của từng dân tộc hoặc chi phái của một dân tộc là việc bất khả. Tuy nhiên, Hội đồng tư vấn sẽ xây dựng quy chế thẩm định cụ thể như: Mẫu trang phục nào được sử dụng lâu nhất, kiểu dáng phổ biến nhất, mẫu trang phục nào được đại đa số sử dụng nhất… thì được xem là trang phục gốc.

          Ông Hoàng Xuân Lương cung cấp thêm thông tin quan trọng: Chương trình trình diễn trang phục truyền thống sẽ góp phần thực hiện đề tài cấp Nhà nước để nghiên cứu, xác định lại thành phần các dân tộc Việt Nam dự kiến kéo dài trong 3 năm (2012-2015). Năm 1979, Tổng cục Thống kê công bố Việt Nam có 54 dân tộc anh em nhưng  thực tế thì có gần 20 chi phái trong các tộc người muốn  xác định lại tên dân tộc mình vì họ có trang phục và tiếng nói riêng.

          Nhà nước ra tay!

          Trang phục của các tộc người thiểu số không chỉ đơn thuần là che thân, bảo đảm sức khỏe mà con mang giá trị văn hóa. PGS Nguyễn Từ Chi - chuyên gia về người Mường đã phát hiện rằng: Trang phục phụ nữ Mường với ba phần: Áo, cạp váy và váy như mô hình hóa quan niệm vũ trụ “ba tầng, bốn thế giới” của người Mường. Cạp váy (giống như thắt lưng) đại diện cho tầng người sống nên được trang trí nhiều và các hoa văn cạp váy là nơi duy nhất còn lưu lại được dư ảnh của nghệ thuật Đông Sơn.

          Chính vì tầm quan trọng của trang phục trong việc phân biệt các tộc người, cung cấp các dữ liệu tin cậy để lý giải lịch sử và văn hóa tiền nông nghiệp cho nên việc gìn giữ trang phục truyền thống của các tộc người thiểu số là điều cấp thiết. Càng cấp bách hơn vì nguy cơ trang phục biến mất hoặc bị đồng hóa tự nhiên đã hiển hiện trước mắt. Đơn cử, hầu hết các chương trình ca múa nhạc đều sử dụng trang phục cách điệu, các trang phục dân tộc bày bán ở các điểm du lịch giờ đây đa số sản xuất theo lối công nghiệp, thêm vào đó là sự "đổ bộ" của trang phục kiểu Âu-Mỹ lên vùng đồng bào dân tộc sinh sống… Những điều trên sẽ khiến đồng bào quên đi cách sản xuất thủ công và không ưa mặc trang phục truyền thống. Vì xu hướng trên không thể đảo ngược nên không thể bảo tồn trang phục truyền thống theo kiểu vận động thuần túy mà chỉ còn trông chờ các hành động bảo tồn cụ thể từ Nhà nước.  
          Thời gian qua, việc lưu giữ các trang phục truyền thống ở các bảo tàng chuyên ngành và đặc biệt là sự ra đời của Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ sự quyết tâm và hiệu quả của Nhà nước trong việc bảo tồn trang phục truyền thống, tuy nhiên chừng đó vẫn là chưa đủ.

           Nhà nghiên cứu văn hóa, PGS-TS Đỗ Lai Thúy cho rằng: Cần phải nhân rộng mô hình “bảo tàng sống” trên toàn quốc, nghĩa là những nơi nào có đông một tộc người sinh sống thì chọn lấy một bản để bà con sinh hoạt, ăn mặc như ngàn đời nay. Ông Hoàng Xuân Lương đưa ra một sáng kiến: Nếu có thể dùng biện pháp hành chính yêu cầu các cán bộ người dân tộc thiểu số khi làm việc hoặc hội họp nên mặc trang phục truyền thống để làm mẫu cho đồng bào noi theo. Hai ý kiến trên nếu đưa vào thực hiện thì cần có kinh phí và các văn bản pháp quy, tất cả phải chờ Nhà nước ra tay!

 (BOX):
        Sau các cuộc tuyển chọn ở cơ sở, 255 thí sinh gồm đầy đủ 54 dân tộc đến từ 63 tỉnh, thành phố sẽ trình diễn các trang phục truyền thống tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam (thị xã Sơn Tây, Hà Nội) vào 20 giờ ngày 28-11. Cuộc trình diễn sẽ được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV2 và VTV5 của Đài Truyền hình Việt Nam. 

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2011

THỜI ĐÀM (XIV): BÌNH THƯỜNG NHƯ... CÂN ĐƯỜNG HỘP SỮA!



Mãi đến những tháng cuối năm 2011, lĩnh vực xuất bản mới có một ấn phẩm tạo ra dư luận chia làm hai phe khen-chê sôi nổi. Bất ngờ hơn, không phải một cuốn sách ken đầy chữ mà chỉ là cuốn thành ngữ sành điệu bằng tranh mang tên Sát thủ đầu mưng mủ (NXB Mỹ thuật và Công ty văn hóa và truyền thông Nhã Nam) của họa sĩ Thành Phong mới nguyên do của những tranh cãi bất phân thắng bại.

Việc biên soạn những từ ngữ “lệch” này đã có tiền lệ với cuốn Sổ tay từ-ngữ lóng tiếng Việt (NXB Công an nhân dân, 2008) do Đoàn Tử Huyến và Lê Thị Yến soạn theo kiểu từ điển bỏ túi, giải thích nghĩa các từ lóng rõ ràng. Sát thủ đầu mưng mủ rất khác bởi ngoài những từ lóng ghép thành câu có ý nghĩa (ví dụ: Phi công trẻ lái máy bay bà già), nhiều câu thành ngữ được tuyển chọn chỉ là cách chơi chữ về âm (ví dụ: Đau khổ như con hổ) mà không có ý nghĩa nào cụ thể. Chưa kể một số hình minh họa khá thô, diễn đạt chưa đúng ý nghĩa của thành ngữ. Đó là những cơ sở cho những người chê cuốn truyện tranh là nhảm nhí, làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Họ đặt câu hỏi chính đáng: Sẽ ra sao nếu như những người trẻ chưa đủ hiểu biết, sử dụng bừa bãi những thành ngữ sành điệu này?

Ở chiều ngược lại, những người thích cuốn truyện tranh cũng có lý khi lập luận rằng: Những thành ngữ trên chỉ là những câu nói dùng trong tán gẫu của một bộ phận thanh niên thời nay, cộng với những minh họa ngộ nghĩnh có tác dụng xả “xì-trét”. Một vài hình minh họa vô cùng sáng tạo đầy ý nghĩa, ví dụ: Dã man như con ngan là câu vô nghĩa nhưng họa sĩ đã vẽ hình một ngan già cầm cổ ngan con bắt ăn, gợi người đọc đến chuyện các bảo mẫu hành hạ trẻ em từng khiến dư luận căm phẫn. Về cơ bản, cuốn truyện tranh này chỉ đọc cho vui, chứ có cho tiền cũng chẳng ai dại dùng thành ngữ sành điệu vào trong văn bản hành chính hoặc trong ngữ cảnh giao tiếp sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực! Vì vậy, không nên quá lo lắng đến mặt chưa tích cực của cuốn sách.  

Muốn khen hay chê cuốn thành ngữ sành điệu bằng tranh hay nói rộng ra là ngôn ngữ lóng cần phải hiểu đúng bản chất của hiện tượng ngôn ngữ này. Giả dụ, đây là lần đầu tiên và cuối cùng kiểu ấn phẩm tập hợp những câu nói thời thượng được phát hành thì cũng không thể ngăn chặn cách nói này ngừng lan truyền, vì nó vẫn tiếp tục tồn tại ở môi trường internet với tốc độ nhanh như… tên lửa. Sâu xa hơn, cơ chế sản sinh của những thành ngữ này là cách diễn đạt hài hước xuất phát từ hiện thực cuộc sống; chẳng hạn, lối sống thực dụng của một vài kiều nữ luôn cặp với đại gia ngày càng phổ biến thì câu: Trăm lời anh nói không bằng làn khói A còng, sớm muộn gì cũng xuất hiện! Vì mang trong mình “chất sống” của hiện thực mà ngôn ngữ lệch chuẩn này đi vào đời sống và văn chương (tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng…) một cách tự nhiên. Với những câu chỉ là biến tấu từ vỏ âm thanh mà vô nghĩa thì chắc chắn vẫn sẽ sinh sôi vì tiếng Việt là ngôn ngữ đa âm tiết, giàu nhạc tính sẽ gây cảm giác thích thú khi nghe. Chính những lí do trên mà ở nước ta lẫn các nước trên thế giới, chưa một nhà ngôn ngữ học lẫn người quản lý văn hóa nào có ý định “dẹp bỏ” triệt để những ngôn ngữ không chuẩn mực!

Đã không thể kiểm soát được sự sinh sôi của thành ngữ sành điệu thì chỉ có cách hướng dẫn những người sử dụng, nhất là giới trẻ dùng đúng nơi đúng lúc. Sự giáo dục kiên trì và lâu dài mới hình thành thói quen văn hóa kiểu như việc đi lễ chùa thì không ăn mặc hở hang! Với những người vô văn hóa, họ sẽ ít dùng những câu thành ngữ hài hước vài ba từ này, vì những con người kể trên ít không có tính hài hước, hễ bực tức sẽ phun ra một đến hai từ ngắn gọn và đầy tục tĩu. Vì vậy, không nên quá lo lắng vì mặt trái của những thành ngữ sành điệu, hãy cứ để mọi việc phát triển bình thường như… cân đường hộp sữa!

                                                HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011

DỰ ÁN "KHẢO SÁT, NGHIÊN CỨU CÁC HÀNH VI CẢN TRỞ BÁO CHÍ TÁC NGHIỆP": TÂM HUYẾT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ NHÀ BÁO


 
(Chú thích ảnh: Trần Xuân Thanh (trái) đã bị phạt 6 tháng tù giam theo Điều 257 Bộ luật Hình sự do hành hung 2 phóng viên kênh VTC14 và báo An ninh Thủ đô-thành viên có chân trong đoàn công tác liên ngành đi kiểm tra hành lang an toàn đường sắt ở khu vực xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, Hà Nội vào ngày 14-6-2011. Ảnh: Vtc.vn)  

Chỉ tính từ tháng 8 đến 10-2011, đã có 6 vụ nhà báo bị cản trở tác nghiệp. Con số cho thấy việc cản trở nhà báo tác nghiệp có xu hướng tăng; trong khi, chưa có bất cứ nghiên cứu bài bản, toàn diện nào về tình trạng trên. Tháng 6-2011, được sự tài trợ của Đại sứ quán Anh tại Hà Nội, RED Communication (Tổ chức khoa học trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) đã đứng ra khảo sát nghiên cứu các hành vi cản trở báo chí tác nghiệp và mới đây đã tổ chức Hội thảo “Báo cáo kết quả nghiên cứu và đóng góp hoàn thiện khung chính sách bảo vệ nhà báo tác nghiệp” tại Hà Nội.

Nghiên cứu thiết thực, kịp thời

Cản trở nhà báo tác nghiệp là một vấn đề “nóng”, cho nên Hội thảo không chỉ thu hút giới báo chí mà còn có sự góp mặt của đại diện của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam… Kết quả nghiên cứu của dự án được in thành tập tài liệu hơn 100 trang đã phản ánh khá toàn diện thực trạng cản trở nhà báo tác nghiệp.

Đáng nói hơn, phương pháp nghiên cứu dự án mang tính khoa học cao, có thể làm mẫu cho các nghiên cứu khác. Việc khảo sát được thực hiện từ ngày 1-7 đến 15-8-2011 theo hai hình thức: Khảo sát trên 6 báo điện tử với nhóm bạn đọc được xác định trước. Khảo sát trực tiếp với 384 người làm báo (trong đó 41,93% chưa có thẻ nhà báo) bằng 17 câu hỏi có sẵn và 60 nhà báo, cán bộ liên quan đến tác nghiệp báo chí.

327/384 (tức 87,9%) người làm báo thừa nhận đã từng bị cản trở trong công việc. Những người làm báo cũng nhận diện 12 nhóm hành vi cản trở bao gồm: Né tránh cung cấp thông tin, gây cản trở, mua chuộc, gián tiếp ngăn chặn, thu giữ phương tiện tác nghiệp, phá hủy phương tiện tác nghiệp, đe dọa, giữ người, quấy rối tình dục, vu khống, tấn công gây thương tích, trả thù.    

Các hành vi cản trở báo chí ở Việt Nam tuy tinh vi nhưng chưa có nhiều ảnh hưởng đến tính mạng nhà báo như ở nước ngoài; cho nên, hậu quả của các hành vi cản trở báo chí mới thuộc dạng “nhẹ” đó là: Không viết được bài (69,01%), mất tinh thần (30,47%), thiệt hại về thân thể (17,45%), bỏ nghề (2,34%)...   

Nguyên nhân của các hành vi tác nghiệp là rất đa dạng, trong đó cũng có phần do chính nhà báo tự… chuốc họa vào thân. Bà Hà Kim Chi (Trưởng ban Ban Kiểm tra của Hội Nhà báo Việt Nam) lấy ví dụ về nhiều trường hợp các nhà báo không đặt lịch hẹn làm việc, hoặc thiếu lịch sự khiến đối tượng không nhiệt tình cung cấp thông tin. Mặt khác, nhiều nhà báo bị cản trở khi nhà báo có dụng ý xấu khi đặt vấn đề làm việc hoặc không khách quan khi đặt vấn đề làm việc.

Một nguyên nhân khách quan là do người làm báo chưa có thẻ nhà báo, có nghĩa 5.000/17.000 người đang hoạt động báo chí bị gạt ra khỏi việc tiếp cận sự thật do chưa được công nhận là nhà báo.

Nguyên nhân khác xuất phát từ phía cơ quan báo chí là do tòa soạn chưa đủ uy tín, nội bộ tòa soạn mất đoàn kết không bảo vệ được người làm báo. Ông Nguyễn Thanh Hà (Tổng thư ký toàn soạn VTC News) nói thêm, điều này giải thích vì sao, nhiều phóng viên trẻ ganh đua vào làm việc ở một số cơ quan báo chí nhất định, không phải chỉ vì thu nhập tốt mà do cơ quan luôn hỗ trợ các phóng viên trong các tình huống nguy hiểm.

Song, nguyên nhân chính của các hành vi cản trở báo chí đều xuất phát từ đối tượng cản trở; trong đó bị cản trở từ nhân viên và cán bộ Nhà nước là cao nhất (75,26%), từ doanh nghiệp (42,97%), đối tượng xã hội (côn đồ, lâm tặc, buôn lậu...) là 38,8%...

Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ nên không thể hạn chế các hành vi cản trở nhà báo tác nghiệp. Luật chuyên ngành đã có nhiều quy định, mới nhất là Nghị định số 02/2011/NĐ-CP ngày 6-1-2011 với nội dung phạt tiền cao nhất là 30 triệu đồng đối với các hành vi sau: “Đe dọa, uy hiếp tính mạng nhà báo; Hủy hoại, cố tình làm hư hỏng hoặc thu giữ trái phép phương tiện, tài liệu hoạt động báo chí của nhà báo”. Trên thực tế, các vụ hành hung người làm báo bị xử lý rất ít. Lí do là các bên liên quan chưa thống nhất xem hoạt động báo chí là một hoạt động công vụ để qua đó sử dụng Điều 257 Bộ luật Hình sự: “Tội chống người thi hành công vụ” để khởi tố những kẻ hành hung nhà báo.

Đề xuất các giải pháp toàn diện

Trong khuôn khổ một ngày của Hội thảo, nhiều ý kiến của các nhà báo cho rằng: Để bảo vệ các nhà báo tốt hơn cần có các giải pháp toàn diện. Quy định pháp luật chưa được triển khai trên thực tế là do xã hội chưa nắm bắt được đầy đủ quy định về hoạt động báo chí, quyền tác nghiệp hợp pháp của phóng viên. Cho nên, truyền thông để tuyên truyền giáo dục là giải pháp đầu tiên và mang tính liên tục để góp phần gián tiếp bảo vệ người làm bá trong quá trình tác nghiệp.

Nhưng trước mắt, các cơ quan chức năng cần kiện toàn pháp luật, xây dựng thông tư hướng dẫn cụ thể thế nào là hành vi cản trở, phân loại theo mức độ nguy hiểm để có mức phạt tương ứng…; thống nhất trong nhận diện và xử phạt các đối tượng gây cản trở cho người làm báo. Bên cạnh đó, cơ quan chức năng cũng cần: Xây dựng quy chế phối hợp cung cấp thông tin, xử lý thông tin giữa Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam, và các cơ quan báo chí khi giải quyết các vụ việc cản trở. Xây dựng kênh tiếp nhận thông tin về tình hình cản trở, hành hung nhà báo từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Xây dựng cơ chế phối hợp (thông tư liên tịch) giữa ngành thông tin và truyền thông với ngành công an trong việc xử lý các vụ việc liên quan đến cản trở người làm báo.

Các nhà báo cũng đề xuất một vài để nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nhà báo Việt Nam đó là: Tăng cường nhân sự cho Ban Kiểm tra Trung ương Hội theo hướng tăng cường số lượng cán bộ chuyên trách. Các cấp Hội mở lớp đào tạo cho người làm báo về kỹ năng tác nghiệp nhằm đối phó với những cản trở tác nghiệp. Kiến nghị xây dựng cơ chế chính sách, pháp luật, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho họt động tác nghiệp của phóng viên. Truyền thông rộng rãi trong công chúng về vị trí, vai trò của Hội trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phóng viên.

Những kiến nghị từ báo cáo kết quả dự án và những kiến nghị trực tiếp của những người làm báo trong Hội thảo vừa là tiếng nói tâm huyết vừa là cơ sở khoa học, chuyển đến các cơ quan chức năng để xây dựng các giải pháp đồng bộ mà quan trọng nhất là các văn bản pháp quy để bảo vệ quyền tác nghiệp hợp pháp của người làm báo.   

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 17 tháng 10, 2011

NOBEL VĂN HỌC 2011: NHÀ THƠ CỦA NHỮNG THAO THỨC SIÊU HÌNH



1. Vào mỗi mùa trao giải Nobel, Nobel Văn học luôn là giải thưởng tạo ra nhiều sự tranh cãi. Ngoài lí do văn chương luôn có những đánh giá khác nhau dựa trên nhiều cách đọc; giải thưởng Nobel còn tạo hay trao cho những gương mặt quá mới mẻ như Cao Hành Kiện (Nobel 2000), Herta Muller (Nobel 2009) hoặc những người dính líu đến chính trị như Orhan Pamuk (Nobel 2006).  

Chính vì sự khó lường nên không chỉ được những người trong nghề theo sát từng giờ mà còn là dịp để… dân cá cược trổ tài! Hai ngày trước giờ công bố giải thưởng, nhiều người đã tin tưởng đổ tiền để đưa nhà thơ Adonis (Xi-ri) lên đầu bảng với tỷ lệ cá cược là 4/1. Adonis được đặt nhiều kỳ vọng vì từ lâu ông được đánh giá là nhà thơ viết bằng ngôn ngữ Ả-rập quan trọng nhất; mặt khác, Adonis được “tiếng thơm” khi lên tiếng phê phán chính phủ Xi-ri không nên đàn áp người biểu tình.

Một nhà văn khác luôn đứng đầu danh sách dự đoán là Haruki Murakami (Nhật Bản) với tỷ lệ 8/1. Tuy nhiên, tác giả tiểu thuyết Rừng Na Uy thuộc kiểu nhà văn ăn khách thường không được Viện Hàn lâm Thụy Điển để ý. Một dạng nhà văn khác cũng không được dân cá cược tin tưởng đó là những nhà văn cách tân mà đại diện là Thomas Pynchon-tác giả tiểu thuyết Cầu vồng của trọng lực.

Trường hợp nhà thơ Tomas Tranströmer của nước chủ nhà Thụy Điển được xem là có nhiều biến động kỳ lạ tại nhiều hãng cá cược. Lúc đầu, ông ở vị trí cao với tỷ lệ cá cược ở tầm 7/1. 10 tiếng trước khi công bố giải thưởng, ông bị văng ra khỏi tốp 5-điều mà chẳng mấy người ngạc nhiên vì quy luật trên đã diễn ra nhiều năm. Nhưng bất ngờ 7 giờ đồng hồ sau, dân cá cược khắp nơi dồn tiền vào cái tên Tomas Tranströmer khiến ông vọt lên đầu bảng. Và vào lúc 13 giờ (tức 18 giờ theo Việt Nam) ngày 6-10, Peter Englund-Thư ký thường trực của Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố: Tomas Tranströmer là người đoạt giải Nobel văn học 2011.

2. Dân cá cược dồn tiền vào cái tên Tomas Tranströmer sát giờ công bố giải xuất phát từ những suy luận logic: Giải năm nay đã được dự đoán sẽ trao cho một nhà thơ vì kể từ Wisława Szymborska (Nobel 1996) chưa nhà thơ nào được vinh danh. Nếu là nhà văn Thụy Điển thì kể từ năm 1974 khi bộ đôi nước chủ nhà là Eyvind Johnson và Harry Martinson ẵm giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển chưa trao cho những người đồng hương thêm một lần nào. Mặt khác, nếu trao giải cho Adonis, Viện Hàn lâm Thụy Điển gần như công khai ủng hộ làn sóng cách mạng “Mùa xuân Ả-rập” vẫn còn nóng bỏng, qua đó tạo ra những tranh cãi không cần thiết. Mấy yếu tố trên chỉ là phụ, cái chính là sự nghiệp thơ của Tomas Tranströmer đã được khẳng định với toàn thế giới khi thơ ông được dịch ra hơn 60 ngôn ngữ khác nhau và vô số các giải thưởng văn học quan trọng như: Giải Aftonbladets, Giải Bonnier cho thơ, giải Neustadt, giải Petrarca-Preis… Vì vậy, Nobel năm nay là một Nobel xứng đáng và sẽ không gây ra sự tranh cãi.

Tiểu sử cuộc đời của Tomas Tranströmer sẽ không làm nhiều người ưa chuyện giật gân thích thú. Ông không phải là mẫu nhà văn thích xê dịch như Jean-Marie Gustave Le Clézio (Nobel 2008) hay tham gia hoạt động chính trị như Mario Vargas Llosa (Nobel 2010)…, cả đời ông làm việc trong ngành tâm lý học (chuyên nghiên cứu tội phạm vị thành niên) và lặng lẽ sáng tác thơ. Đến ngay như quan niệm làm thơ của ông cũng rất giản dị: “Viết một bài thơ chẳng bao giờ dễ dàng, nhưng khi có thể viết được, thì đó là một thứ tâm trạng vui chơi nhưng đồng thời lại nghiêm túc”. 

Tomas Tranströmer sinh ngày 15-4-1931 tại thủ đô Stockholm, trong một gia đình trí thức (bố là nhà báo và mẹ là giáo viên). Ông bén duyên với thơ ca từ khi còn học phổ thông với nhiều bài thơ xuất hiện trên các báo. Thi tài của ông được khẳng định ở quê nhà ngay từ tập thơ đầu tiên mang tên 17 bài thơ (1954). Các tập thơ tiếp theo khẳng định Tomas Tranströmer là nhà thơ Bắc Âu vĩ đại nhất còn sống. Tên tuổi của ông cũng sớm vượt ra ngoài biên giới Thụy Điển nhờ bản dịch tiếng Anh của nhà thơ Mỹ Robert Bly và nhanh chóng được xem như như một bậc thầy thơ ca. Nhà thơ Joseph Brodsky (Nobel 1987) ca ngợi Tomas Tranströmer: “Nhà thơ có tầm quan trọng bậc nhất, có sự thông minh không thể tưởng tượng nổi… Tôi đã đánh cắp hơn một ẩn dụ của ông”.

Sức hút của Tomas Tranströmer sớm lan đến các nhà thơ-dịch giả Việt Nam biết đến từ những năm 1980. Đặc biệt, cuốn sách: Toàn tập thơ: Mười một tập (1954-1996) dày hơn 300 trang của Tomas Tranströmer đã được nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh (N.X.S) chuyển ngữ từ tiếng Pháp do NXB Văn học ấn hành năm 2000 với sự đồng ý của tác giả và sự tài trợ của Viện Thụy Điển ở Stockholm. Một số bài thơ trong cuốn sách này cũng được trichs trong cuốn Thơ Thụy Điển (NXB Hội nhà văn, 2009).

3. Thành thực mà nói, để nắm bắt đầy đủ nghệ thuật thơ Tomas Tranströmer phải là một người biết tiếng Thụy Điển. Do quá trình dịch thơ nên tính nhạc trong thơ Tomas Tranströmer bị mất đi rất nhiều. Tuy nhiên, những gì còn lại, nhất là cách ông nhìn con người và thế giới vẫn đủ giúp người đọc hình dung về một tài năng thơ ca hiếm có. Lời nhận xét của Viện Hàn lâm Thụy Điển có thể xem là một dẫn nhập hữu ích để tiến vào thế giới thơ Tomas Tranströmer: “Qua những hình ảnh súc tích và trong mờ, ông đưa chúng ta tiệm cận sự mới mẻ của hiện thực. Ông viết về những vấn đề lớn: Về cái chết, lịch sử, ký ức, thiên nhiên. Bạn không bao giờ cảm thấy nhỏ bé sau khi đọc thơ của Tomas Tranströmer”. Tuy hình thức thơ Tomas Tranströmer thay đổi theo thời gian nhưng tựu chung ông luôn là người đổi mới ngôn ngữ thơ ở hình tượng thông qua phép ẩn dụ. Nhờ vậy, mỗi hình ảnh được đổi mới sẽ gián tiếp giúp người đọc có cái nhìn mới mẻ, trong sáng, hồn nhiên và sống động trước một sự vật hay sự việc tưởng chừng đã được thấu hiểu.

Ở giai đoạn đầu sự nghiệp, nhất là tập thơ đầu tay, Tomas Tranströmer ưa thích hình thức thơ cổ điển có vần luật với sự miêu tả đầy lãng mạn, qua giọng thơ thể hiện sự chính xác của cảm quan, chẳng hạn như bài thơ Ostinato (Thuật ngữ âm nhạc chỉ sự lặp lại nhạc điệu giọng trầm):

Dưới cái điểm bất động của xác thuyền đắm giạt vào bờ, đại dương vung vẩy và gầm lên trong ánh sáng, mù quáng gặm hết dãy hàng rào cỏ biển, và thổi phả bọt sóng vào bờ.

Mặt đất tự bao phủ mình bằng lớp dày bóng tối đàn dơi bay đo chiều dài bằng tầm cánh bay. Xác thuyền đắm đứng im và tự biến thành ngôi sao. Đại dương tiến về phía trước vừa gầm rú vừa thổi bọt sóng vào bờ. (N.X.S dịch).

Song, ở những tập thơ tiếp theo, Tomas Tranströmer có sự chuyển đổi thi pháp theo hơi hướng của chủ nghĩa siêu thực (surréalisme) với những hình ảnh tân kỳ xuất lộ từ tiềm thức. Chủ nghĩa siêu thực được chủ soái của phong trào là nhà thơ Pháp André Breton (1896-1966) định nghĩa trong Tuyên ngôn chủ nghĩa siêu thực lần thứ nhất là: “Cơ chế tự động của tâm lý thuần khiết dùng để diễn đạt hoạt động đích thực của tư tưởng hoặc bằng ngôn từ, hoặc bằng chữ viết, hoặc bằng các cách thức khác. Được tư tưởng xui khiến, vắng mặt mọi sự kiểm soát của lý trí, ngoài mọi thành kiến mỹ học và đạo đức”. Vốn là nhà tâm lý chuyên nghiệp, Tomas Tranströmer thừa nhận ảnh hưởng từ tiềm thức đến công việc sáng tạo của mình: “Mọi thứ đều đến từ bên trong, từ tiềm thức. Đó là cái nguồn của mọi thứ. Tôi có nhiều phương tiện để đáp ứng với những gì tôi nhận được từ nội tâm, nhưng tôi không bao giờ bảo chính mình phải viết về một điều gì đó”. Đọc những câu thơ như: Tảng nước đá treo ở bờ mái nhà/ Băng giá: kiến trúc gôtic bị đảo ngược/Những con vật trìu tượng, những vú bằng kính. (bài thơ Sáu mùa đông, N.X.S dịch), dễ nhận ra một lối viết gần với lối viết tự động (écriture automatique) với sự liên kết tự do các ý tưởng, sử dụng các hình ảnh như là biểu tượng theo lối tư duy tiền logic. Song, dù có tân kỳ bao nhiêu, ông vẫn giữ được sự trong sáng, độ sâu sắc ba chiều hiếm có của hình ảnh rút ra từ cách nhìn sâu vào đối tượng. Và để diễn đạt hình ảnh từ trong tiềm thức khá khó khăn như lời ông tự nghiệm: “Có khi hình ảnh hiện rõ một điểm cố định với những con chữ chính xác để diễn tả. Nhưng đôi khi, nó đến như một hình ảnh mà ngôn từ bất lực và tôi phải vất vả để làm chữ”.

Cũng chính ở giai đoạn này, thơ của Tomas Tranströmer bắt đầu hình thành tư tưởng rõ rệt. Có thể xem, Tomas Tranströmer là nhà thơ của những thao thức siêu hình, tương tự như suy nghĩ của nhà triết học người Đức Immanuel Kant (1724-1804): “Hai điều tràn ngập tâm tư với sự ngưỡng mộ và kính sợ luôn luôn mới mẻ và gia tăng mỗi khi nghĩ đến, đó là: Bầu trời đầy sao trên đầu tôi và quy luật luân lý ở trong tôi” (Phê phán lý tính thực hành, NXB Tri thức, 2007). Đối với ông, con người là bí ẩn, tự nhiên là một dạng câu đố cần giải mã, cái thực và hiện tồn là những điều huyền bí. Như vậy, thơ của ông để chiêm nghiệm những vấn đề bản thể của con người và thiên nhiên.
          
Theo thông lệ trao giải Nobel, tháng 12 tới Tomas Tranströmer sẽ đọc một diễn từ, nhưng với di chứng của đột qụy từ năm 1990 ông liệt nửa người nên không thể tự mình nói lên suy nghĩ về văn chương và cuộc đời. Có thể, nhà thơ thuở thiếu thời ước mơ làm một nhạc sĩ sẽ chơi dương cầm bằng tay trái, thay vì đọc một diễn từ. Và lúc đó, ông sẽ lại đắm mình vào ký ức tuổi hai mươi-cái tuổi khởi đầu của 17 bài thơ êm dịu như những bản đàn!

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2011

CÙNG BÀN LUẬN (IV): "NHÀ TRƯỜNG THẤT BẠI THÌ CẢ XÃ HỘI THẤT BẠI"

Ngày 10-10 là hạn chót để các trường đại học, cao đẳng hoàn tất việc nhận hồ sơ xét tuyển nguyện vọng 3 đã trôi qua. Tuy nhiên, nhiều ngành học ở hàng loạt trường đại học, cao đẳng đã lâm vào tình trạng không tuyển đủ chỉ tiêu, dẫn đến việc phải đóng cửa.

Nguyên nhân dẫn đến thảm cảnh trên nằm ở cơ chế “một cửa” quá thông thoáng khiến việc mở nhiều ngành học mới quá dễ dàng. Thêm vào đó, khâu hậu kiểm còn “lỏng”, dẫn đến những kẽ hở để các trường đại học, cao đẳng không thực hiện đúng những cam kết về chất lượng đào tạo.

Trình trạng “cung đã vượt cầu” quá nhanh khiến ngày “sập tiệm” của một số trường đại học ngoài công lập đến sớm hơn, và các nhà đầu tư bắt đầu hiểu rằng: Giáo dục không phải là lĩnh vực dễ hốt bạc như tưởng tượng! Nhưng chịu thiệt thòi nhiều hơn là những sinh viên đã và đang học ở các ngành mới mở. Cơ sở vật chất của trường chủ yếu đều đi thuê nên không đảm bảo được khâu thực hành. Giáo trình được soạn một cách vội vàng, nặng tính lý thuyết mà không có tính ứng dụng, khiến cho các sinh viên ra trường không đủ năng lực để hoàn thành công việc. Cá biệt, nhiều sinh viên sau khi ra trường lâm vào tình cảnh thất nghiệp. Nhưng xét rộng ra, thiệt hại lớn nhất chính là đất nước đã bỏ lỡ một cơ hội để hình thành một đội ngũ nhân lực chất lượng cao, khiến cho việc phát triển kinh tế-xã hội sẽ gặp không ít khó khăn. Mối quan hệ nhân-quả này đã được nhà nhà nghiên cứu giáo dục Phạm Anh Tuấn chỉ rõ: “Nhà trường thất bại thì cả xã hội thất bại”.  

Mới đây, Bộ Giáo dục đào tạo đã ban hành Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT ngày 17-2-2011: “Quy định điều kiện, hồ sơ, quy trình mở ngành đào tạo, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng”. Thông tư này đã có những điều khoản bắt buộc để mở ngành đào tạo và có quy trình kiểm tra và xác nhận các điều kiện thực tế về độ ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và chương trình đào tạo. Đây có thể xem là bước sửa sai đúng lúc và đáng hoan nghênh nhưng vẫn chỉ là giải pháp mang tính tạm thời.

Về lâu dài, giáo dục đại học cần có một chiến lược lâu dài xuất phát từ một triết lý giáo dục phục vụ cộng đồng. Những người có ý định mở một ngành học mới cần phải tránh tư duy “thương mại hóa”. Giáo dục là để nâng cao trình độ nhân lực, góp phần phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước chứ bản chất của giáo dục không phải là một hoạt động kinh doanh thuần túy. Vì vậy, các trường đại học, cao đẳng cần phải khảo sát nhu cầu nhân lực mà các địa phương đang cần, tránh tình trạng đào tạo tràn lan kiểu “sống chết mặc bay” làm lãng phí nhân lực đã được đào tạo. Các trường đại học cần phải được phần tầng hợp lý để chia sẻ trách nhiệm đào tạo. Không thể để tình trạng một như ở tỉnh nọ, một ngành đã đủ biên chế ở địa phương là “sư phạm tiểu học” mà hai trường đại học trong tỉnh đó vẫn cứ tuyển sinh hàng năm, trong khi tỉnh đó lại thiếu các giáo viên mầm non, ngoại ngữ và tin học. Giáo dục đại học cần tập trung vào các ngành công nghệ cao, bởi dù có nhập công nghệ hiện đại nhưng không có người sử dụng thì hiệu quả sản xuất không thể đạt mức tối đa. 

Từ nay đến năm 2020-cái mốc hoàn thành mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không còn bao lâu, yếu tố con người là cái gốc của mọi thành công; chính vì vậy, nền giáo dục đại học cần có những thay đổi triệt, hoàn thành trọng trách đáp ứng đủ nhân lực chất lượng cao để giúp đất nước phát triển bền vững.

HÀM ĐAN

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

ĐẠI HỘI THÀNH LẬP HỘI KIỀU HỌC VIỆT NAM: "ĐƯỜNG XA NGHĨ NỖI SAU NÀY MÀ KINH"


Theo dự kiến, vào ngày 14-10 tới đây, Đại hội thành lập Hội Kiều học Việt Nam sẽ diễn ra tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam (Hà Nội) với sự tham gia của gần 300 hội viên sáng lập. Sự kiện này có thể xem một điểm sáng cho sinh hoạt khoa học văn chương vốn lâu nay trầm lắng.

1. Chúng tôi đến tìm nhà riêng TS Phan Tử Phùng (Trưởng ban vận động thành lập Hội Kiều học Việt Nam) ở số 2-Q37 Nguyễn An Ninh (Hà Nội) và được ông cho biết ngôi nhà này cũng là nơi đặt trụ sở tạm thời của Hội. Chưa có một trụ sở riêng với tiện nghi đầy đủ, có thể nhận ra sự khó khăn về kinh phí mà Hội đang gặp phải.

Tuy nhiên, TS Phùng tỏ ra lạc quan với vấn đề khó khăn tài chính bởi ông cho rằng khó khăn lớn nhất là Nhà nước cho phép Hội thành lập đã được giải quyết. Ông Phùng cho biết, Hội Kiều học được Bộ nội vụ cho phép thành lập theo quyết định số 1400/QĐ-BNV vào ngày 14-7-2011. Quyết định này chính thức kết thúc quá trình gần 3 năm ông Phùng cùng 13 người khác trong Ban vận động thành lập Hội làm hồ sơ xin phép Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch; và bổ sung thêm văn bản ý kiến của một loạt các cơ quan tổ chức là: Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Nội vụ, Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện Văn học, Viện nghiên cứu văn hóa dân gian, Viện Hán Nôm, Hội Nhà văn Việt Nam. Ông Phùng giải thích, sở dĩ phải mất nhiều thời gian để được pháp luật thừa nhận do nhiều các cá nhân và tổ chức chưa nhận ra sự cần thiết phải của một Hội nghiên cứu chuyên sâu (thay vì là một Trung tâm nghiên cứu); trong khi lại mô hình Hội nghiên cứu chuyên sâu lại rất phổ biến ở nhiều nước như: Tổ chức Quốc tế nghiên cứu Balzac (GIRB) của Pháp hoặc Hội Hồng học (Hội nghiên cứu tiểu thuyết Hồng lâu mộng) của Trung Quốc…

Dù “sinh sau đẻ muộn” nhưng có thể nhìn thấy trước triển vọng phát triển của Hội cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Trước tiên, Hội đã được các cơ quan chức năng công nhận để được hoạt động trong khuôn khổ các quy định của pháp luật, thêm nữa Hội còn có điều lệ cụ thể; cho nên, Hội sẽ có điều kiện phát huy ảnh hưởng của mình đối với hoạt động nghiên cứu Truyện Kiều trong nước và quốc tế một cách “chính danh”. Trong điều lệ của Hội Kiều học đã quy định hội viên của Hội có thể là bất cứ ai, miễn là người đó yêu mến Truyện Kiều và tuân thủ điều lệ của Hội. Vì vậy, sự lớn mạnh về số lượng và tầm ảnh hưởng đến dư luận chắc chắn sẽ được đảm bảo thay vì chỉ đặc tuyển hội viên là các nhà nghiên cứu.

Một điều nữa cần lưu ý, thước đo hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bất cứ một Hội nghiên cứu nào vẫn là chất lượng của các công trình nghiên cứu. Sự khả thi trong kết quả nghiên cứu của Hội Kiều học là rất cao vì đa số nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội-nhân văn nói chung và nghiên cứu chuyên sâu truyện Kiều ở nước ta đều là thành viên sáng lập Hội như: GS Nguyễn Đình Chú, GS Nguyễn Duy Quý, GS Vũ Ngọc Khánh, GS Trần Đình Sử, PGS-TS Trần Nho Thìn, PGS-TS Đỗ Lai Thúy, PGS-TS Trương Đăng Dung… Thêm vào đó, một kiệt tác như Truyện Kiều thì không bao giờ cạn kiệt ý nghĩa vì mỗi lý thuyết văn học đều có thể khai triển thêm các ý nghĩa mới từ văn bản Truyện Kiều.

2. Trong dự thảo chương trình hoạt động của Hội Kiều học trình đại Hội có tất cả 18 hoạt động. Đương nhiên vì đang là dự thảo nên thích “vẽ” ra bao nhiều hoạt động cũng chẳng làm sao, để đi vào các hoạt động thực sự được tiến hành còn cần phải được toàn thể hội viên biểu quyết thông qua.

Ngoài các hoạt động chuyên môn chỉ đang là… ước mơ và còn lâu mới có thể thực hiện như: Xây dựng dự án nhà lưu niệm Nguyễn Du ở nơi ông từng sống là Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Quảng Bình, Huế…; các hoạt động chuyên môn còn lại có tính thiết thực cao hoàn toàn tiến hành trong nay mai như: Tổ chức việc phục nguyên một bản Kiều Nôm đạt đến mức đồng thuận cao nhất về câu chữ của nguyên tác Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du (đã thất lạc), Hoàn chỉnh một bản Truyện Kiều quốc ngữ chính thức; Biên soạn và xuất bản cuốn Từ điển Truyện Kiều của Hội Kiều học trên cơ sở bổ sung, hoàn chỉnh cuốn Từ điển Truyện Kiều của học giả Đào Duy Anh (NXB Khoa học xã hội, 1974); Sưu tầm, sao chụp, in ấn những bản Kiều Nôm, Quốc ngữ và các bản dịch Truyện Kiều ra tiếng nước ngoài… Tuy thiết thực và cấp bách nhưng khó có thể thực hiện ngay vì ngoài khó khăn về vấn đề tài chính thì một điều hiển nhiên cần phải được lưu ý đó là rất khó để kêu gọi các nhà nghiên cứu chung tay hợp sức để nhanh chóng hoàn thành khối lượng công việc kể trên. Đơn cử, hiện tại, số lượng những người suốt đời nghiên cứu Truyện Kiều chỉ đếm trên đầu ngón tay; những nhà nghiên cứu văn học trung đại thì không ít nhưng họ còn có nhiều đối tượng nghiên cứu khác như: thơ Hồ Xuân Hương, Chinh phụ ngâm… Cho nên, Hội Kiều học rất dễ đi vào vết xe đổ là ôm đồm làm quá nhiều việc mà không hoàn thành được việc nào!

Thế nên, việc ra đời của Hội Kiều học Việt Nam là điều đáng mừng, nhưng với những công việc khó khăn của người trong cuộc thì những người ngoài cuộc cũng chỉ có thể nghĩ đến một câu Kiều để chia sẻ: “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”.  

HÀM ĐAN