Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

LIÊN HOAN PHIM QUỐC TẾ VIỆT NAM LẦN THỨ I: "THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP?"

Liên hoan phim quốc tế Việt Nam lần thứ I (gọi tắt là LHP) sắp đến “giờ G”. Sự chờ đợi của những người điện ảnh Việt Nam đang dần nóng lên khi họ sắp được thưởng thức những bộ phim của những nền điện ảnh tiên tiến, được tiếp xúc với những thần tượng ngỡ không bao giờ được thấy ở đời thực. Bên cạnh những niềm hi vọng LHP thành công tốt đẹp vẫn còn đó bộn bề nỗi lo.

Chuẩn bị chưa “chuyên”!

Nếu đòi hỏi một LHP lần đầu tiên được tổ chức ở một nền điện ảnh kém phát triển như Việt Nam lại hoàn hảo từ A đến Z như ở các LHP Âu-Mỹ là điều không tưởng.

Nhìn khách quan, những đơn vị tổ chức cũng đã có nhiều cố gắng để LHP đạt đến tầm “chuyên nghiệp”. Trước tiên, thời điểm tổ chức LHP được đánh giá là tương đồng với giai đoạn phát triển nhanh của điện ảnh Việt Nam biểu hiện qua lãi ròng nhờ bán vé và phản hồi tích cực từ dư luận. Ban tổ chức (BTC) LHP cũng có tinh thần cầu thị khi chủ động đi Đông, đi Tây học tập các nước bạn như: đề cao tính chất “festival” (liên hoan) hơn là việc thi thố thắng thua và không thương mại hóa LHP khi hạ giá vé hết mức. Công tác truyền thống cũng đặc biệt được coi trọng khi thông tin sớm cho các đơn vị báo chí, phát tờ rơi tại các rạp phim và đặc biệt lập một website: http://www.vniff.com không chỉ đẹp về giao diện mà hơn hết là có tất cả thông tin cần biết về LHP.



Bên cạnh mặt tích cực, những hạt “sạn” trong công tác chuẩn bị lại có vẻ lộ ra nhiều hơn những ưu điểm. Dù kế hoạch tổ chức LHP đã được công bố hơn một năm trước nhưng có vẻ LHP cũng giống nhiều sự kiện ở nước ta là… nước đến chân mới nhảy! Chẳng hạn do thời gian gấp gáp, BTC không kịp tổ chức Hội chợ phim. Nghiêm trọng hơn, ngày 13-10 (còn 4 ngày tới ngày khai mạc), báo điện tử Vietnamnet dẫn lời đạo diễn Hà Sơn cho biết ông chưa nhận được giấy mời của BTC về việc Trung úy tham dự LHP trong khi thông tin về việc bộ phim chính thức dự LHP đã đăng tải trên website của LHP trước đó hơn một tuần. Giả dụ đoàn làm phim Trung úy từ chối không dự LHP thì khi đó nhiều khả năng nước chủ nhà mất một suất dự thi hạng mục phim truyện nhựa.

Nét mới của LHP sự liên kết giữa cơ quan quản lý là Cục Điện ảnh với các doanh nghiệp chuyên tổ chức sự kiện và truyền thông là công ty BHD và Tập đoàn truyền thông Việt. Điều này tránh cho Cục Điện ảnh phải trực tiếp tham gia nhiều việc sở đoản. Thế nhưng, việc giao phó cho đơn vị tư nhân mà thiếu kiểm tra, đôn đốc đã khiến hiệu quả truyền thông không tốt. Ngoài việc phát tờ rơi cho người đến xem phim ở rạp, lẽ ra, cần chú ý đến những đối tượng ít có cơ hội thưởng thức điện ảnh. Không thấy poster LHP dán ở các cơ quan, trường học hay treo băng-rôn về LHP ở các trục đường chính ở Hà Nội. Vì thế, tận ngày 15-10, không ít sinh viên Trường đại học sân khấu điện ảnh Hà Nội liên tục liên lạc với chúng tôi hỏi thông tin về liên hoan phim. Ngay cả với cánh phóng viên, không thấy BTC gửi địa chỉ website LHP để các nhà báo khai thác thông tin. Nếu không có nguồn tin riêng cung cấp, chúng tôi chắc cũng không biết website về LHP đang tồn tại.



Ngoài ra, sự tổ chức đã thiếu khoa học lộ ra từ đâu khi địa điểm các sự kiện của một festival điện ảnh lại quá xa nhau, trong khi thời gian trình chiếu của các phim thì lại trùng hoặc sát giờ nhau. Công tác an ninh cho LHP cũng làm nhiều đặt dấu hỏi, nhất là khi sẽ có ba triển lãm ảnh, hai chiếu phim và các giao lưu với minh tinh như Ngô Ngạn Tổ (Hồng Kông) ở ngoài trời. Nếu xảy ra sự cố đáng tiếc nào đó, chắc chắn uy tín của LHP sẽ chết từ trong “trứng nước”.

Việc chuẩn bị chưa chuyên nghiệp của BTC, nhiều người đã lường trước. Điều những người yêu điện ảnh mong là cần rút kinh nghiệm trong công tác chuẩn bị để làm tốt hơn ở lần thứ II, tránh đi theo vết xe đổ của một vài sự kiện văn hóa tầm “quốc tế” tổ chức đến lần thứ ba mà vẫn chẳng bằng lần đầu.

Kì vọng ở chất lượng chuyên môn

Công tác chuẩn bị tuy quan trọng nhưng không phải là tất cả để quyết định sự thành công của LHP. Các hoạt động chuyên môn của LHP chưa diễn ra thì chưa thể nói LHP thành công hay thất bại.

Tuy tính chất là festival nhưng điều nhiều người mong đợi nhất vẫn là kết quả của các hạng mục giải thưởng. Theo như thông lệ các LHP, Giải cống hiến sẽ được công bố trước khi LHP khai mạc. Giải cống hiến của LHP được loan ra khiến mọi người đều hai lòng khi thuộc cố đạo diễn, NSND Hồng Sến (1933-1995)-đạo diễn tiêu biểu nhất của điện ảnh cách mạng Việt Nam gắn với những bộ phim kinh điển như: Cánh đồng hoang, Mùa gió chướng, Nhiệm vụ hoa hồng, Chiến trường chia nửa vầng trăng…

Ngoài hai giải thưởng hỗ trợ các nhà làm phim là Giải thưởng NETPAC (Mạng lưới quảng bá điện ảnh châu Á), Giải thưởng hỗ trợ hậu kỳ - Technicolor Châu Á, về những hạng mục tranh giải chính, BTC tỏ ra khôn ngoan khi không “bày” quá nhiều hạng mục giải thưởng “hoành tráng” mà chỉ tinh gọn ở ba hạng mục: phim truyện, phim tài liệu, phim ngắn kèm theo là giải cho Đạo diễn xuất sắc nhất, Nam diễn viên xuất sắc nhất và Nữ diễn viên xuất sắc nhất. Ban giám khảo ở các hạng mục đều là những người giỏi chuyên môn như đạo diễn Người Mỹ trầm lặng Phillip Noyce, đạo diễn Bao giờ cho đến tháng Mười Đặng Nhật Minh… (phim nhựa), điều người ta hi vọng là sự công tâm của ban giám khảo để trao giải cho những tác phẩm xứng đáng.

Các bộ phim tranh giải đều là những bộ phim chỉ đến từ châu Á nhưng chính điều này tạo ra cơ sở ngang bằng tránh tình trạng quá chênh lệch chất lượng nghệ thuật giữa cá phim. Theo dự đoán của những người sành điện ảnh, nước chủ nhà nhiều khả năng sẽ giành giải ở hai hạng mục là phim tài liệu và phim ngắn.

Những sự kiện bên lề LHP cụ thể là ba tọa đàm và một hội thảo về phim 3D cũng sẽ thu hút nhiều người quan tâm. Điều mà ai cũng lo ngại là những hội thảo dự định tổ chức với những cái tên nghe rất kêu như: Diễn đàn Giải pháp tăng cường sản xuất phim Việt Nam, Xây dựng nền công nghiệp điện ảnh Việt Nam sẽ bàn về điều gì mới mẻ và thiết thực hay chỉ để “xôm trò” cho LHP, kết quả tọa đàm sẽ chuyển đến cơ quan nào và quan trọng là có tác động nào không tới đường lối chính sách giúp điện ảnh nước nhà tăng tốc?

Tăng tốc nền điện ảnh, khẳng định đẳng cấp trên “bản đồ” quốc tế bằng những bộ phim có tính nghệ thuật cao hoặc có doanh thu lớn chính là con mục tiêu của điện ảnh Việt Nam và điều này, về lâu về dài, sẽ giúp LHP có sức hút các nền điện ảnh hàng đầu thế giới chủ động tham dự chứ không cần nhọc công mời mọc như hiện nay.

BOX:

Diễn ra từ ngày 17 đến 21-10, LHP quốc tế Việt Nam lần thứ I có 22 bộ phim tranh giải và 45 phim trình chiếu giới thiệu đến từ 23 quốc gia. Lễ khai mạc và lễ bế mạc trao giải lễ sẽ được tường thuật trực tiếp trên VTV1 vào 18 giờ 30. Vé khai mạc và bế mạc bán tại Megastar (Tầng 6, Tòa nhà Vincom,191 Bà Triệu, Hà Nội) và Trung tâm chiếu phim Quốc Gia (87 Láng Hạ, Hà Nội). Vé phim bán tại các cụm rạp : Megastar, Trung tâm chiếu phim quốc gia, Platinum Cineplex (Tầng 4, tòa nhà The Garden, Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội) và tại trụ sở Liên hoan Phim ở Nhà Hát Lớn (1 Tràng Tiền, Hà Nội). Người yêu điện ảnh có thể vào trang website: http://www.vniff.com để cập nhật lịch chiếu phim và các thông tin khác.

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010

BÌNH CHỌN... CARDVISIT!!!

Cái nghề của tui thì vô cùng quảng giao, thế nên không thể thiếu cái em Cardvisit. Sau một thời gian "tán tỉnh", năn nỉ i ôi đã được một nường họa sĩ nhận đì-zai free hào hiệp (nợ tiền trả dễ, nợ tình trả thế lào đây???:)). Nàng đì-zai mấy mẫu đẹp nong nanh khiến khổ chủ băn khoăn vò đầu bứt tai. Thui, đành nhờ bà con gần xa góp ý (Dù nhiều khả năng rơi vào bi kịch đẽo cày giữa đường!!!). Tất cả có 5 mẫu kể cả sơ khảo và chung khảo. Các đồng chí chỉ cần pm ở duới mục comment là ok. Tks trước

Đã có 3 người có comment "miệng":

- Tác giả Phương Linh chọn 1
- Đ/c Vân Chi: chị họa sĩ chọn 1
- Mẹ 2 người đẹp chọn 3

Những người tiếp theo cm qua YM:

- Đ/c Hưng: 2
- Đ/c Huyền Anh: 3
- Đ/c Hải: 1
- Đ/c Hạnh: 1
- Đ/c Bình: 1
- Đ/c Phương: 1
- 1 bác Đại tá: 1
- Blogger Tà Ảnh: 1 
Lời cuối cảm ơn tha thiết tới đồng chí/họa sĩ Lê Cẩm Phương Linh!


4 mẫu đầu tiên (sơ khảo)

3 mẫu cuối (gồm 2 mẫu ở dưới cùng và thêm mẫu mới):

Thứ Hai, 11 tháng 10, 2010

SÁCH BẢN ĐẦU TIÊN...

Đang nợ bài tùm lum: nợ báo nhà, báo viết thuê, báo blog (bài phim lịch sử) nhưng vẫn cố rặn ra mấy chữ trên blog để sống và học tập khẩu hiệu: "Không nên hoãn cái sự sung sướng lại". Cái sung sướng ở đây là vừa mua được sách cũ. Cũ nhưng hay và đặc biệt hơn đều là bản in lần đầu tiên-khổ chủ có thói quen mua sách bản in lần đầu tiên.

Muốn làm gì tôi thì làm (J.C. Oates) - NXB HNV 94 (480 trang). Hơi khó hiểu vì chuyện số trang. Nguyên tác cuốn này là 563 pages. Hụt kha khá đây! Cuốn này tái bản năm 01 chia làm 2 tập. Tra trong dữ liệu Thư viện quốc gia xem số trang thì mỗi tập đều 442 trang tức 884 trang trọn bộ. Có vấn đề j đây??? Rảnh rỗi gặp bác dịch giả Vũ Đình Bình mới được. Hmmm

Phê bình văn học Trung Quốc đương đại (T.M. Sơn tuyển, dịch) - NXB KHXH 04. Đáng chú ý là các bài viết về tiểu thuyết

Văn học so sánh-Nghiên cứu và triển vọng-05. Các bài só sánh đi vào các ví dụ cụ thể lại dở hơn các bài so sánh các vấn đề lí luận khái quát hơn. Thích bài của bác Trần Ngọc Hiếu (tức Hải Ngọc).

Văn hóa học (Đoàn Văn Chúc)-97. Tác giả là một người đáng trọng lúc sinh thời. Cuốn sách tuy không phải là chuyên luận có hệ thống nhưng mỗi bài đều đi khá sâu vấn đề đặt ra.

A. Zorba-Con người hoan lạc (D. Tường dịch)-89. Cuốn này tái bản năm 06. Nhưng còn có cuốn cỏ hơn là A.Z con người chịu chơi (chắc là in trong xì gòn) Đã đọc cách đây 2 năm. Mua để chơi!!!

Sáng tạo và giao lưu (Phạm Vĩnh Cư)-04. Đã đọc từ lâu sau khi chôm sách từ Đ. Không thích sách này, nói chung tầm thầy Cư phải viết hay hơn những gì có trong cuốn sách. Mua để chơi!!!

Chị em gái (Stéphane Denis)-07 Đang đọc, chưa có nhận xét...

Mười hai truyện phiêu dạt (G.G. Marquez)-95 . Gặm nhấm từ từ...

....

Nhắn nhe các bloggers: Bác nào có cuốn Ký giả chuyên nghiệp (John Hohenberg), Hiện đại thư xã, Sài Gòn, 1974) thì ới một tiếng dưới mục comment vì khổ chủ đang cần mua. Đương nhiên là sách in chứ không phải sách copy. Nếu có 2 cuốn thì càng tốt.:) Thêm hình (chôm từ sachxua.net):

    

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

VỀ PHIM LỊCH SỬ....

Đang rất bận nên chưa tìm hiểu sâu về phim lịch sử để viết bài tử tế nhưng có mấy ý kiến sau đây: (sau này viết rồi sẽ đăng dưới mấy ý kiến này và thay nhan đề)

Chuyện phim lịch sử ta giống Tàu là điều đương nhiên vì: phim trường, đạo cụ của ta vừa không có và không xác định được chính xác thực tế nên mượn của người ta thì không giống mới là lạ. Nên nếu nhìn điểm này mà vu cho các nhà làm phim tội "thân Tàu" thì những người lớn tiếng phê phán cần im mồm lại.

Đằng sau cái việc phim lịch sử là chuyện chính trị. Ai chả biết thời điểm này rất nhạy cảm. Nhưng cần phân biệt giữa cái việc mấy nhà làm phim Tàu không hiểu rõ lịch sử nước ta và dẫn đến một kịch bản xa lạ; hay là cố tình "xâm lăng văn hóa". Cần phải phân biệt rõ: vô tình hay cố ý???

Về phía mấy ông doanh nghiệp bỏ tiền làm phim, cũng cần phân biệt: đâu là ý muốn cung tiến và đâu là trò đánh bóng thương hiệu.Hay là cả hai đều 50-50!!!

Hai điều này, thực ra rất khó để phân biệt vì nó nằm trong những ý nghĩ cá nhân làm sao có thể phân tích. 

Tội vạ lớn nhất vẫn là các cơ quan quản lí. Chỉ có thể nói một chữ: ngu! Không có chính sách đầu tư làm phim lịch sử, đến gần Đại lễ mới hô hào làm. Sau khi đã "xã hội hóa" làm phim lịch sử thì lại không kiểm soát quá trình làm dẫn đến những chuyện rối rắm như hiện nay. 

Hoan nghênh các bác lên tiếng chống phim vỏ Việt ruột Tàu. Nhưng phương pháp chống của các bác có vấn đề, nó nằm ở thái độ bài Tàu triệt để mà không tính đến tính nghệ thuật của phim. Điều này giống như những năm Đổi mới. Những người muốn thực thi Đổi mới dùng những biện pháp độc tài. Điều này khiến cho những người quan sát bên ngoài nghi ngờ thực tâm của những người Đổi mới. Nên lai tỉnh, lai tỉnh ở phương pháp! 


Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2010

HỘI CHỢ-TRIỂN LÃM SÁCH QUỐC TẾ VIỆT NAM LẦN THỨ III: "HỮU DANH..."

“Triển lãm-Hội chợ Sách Quốc tế Việt Nam 2007” tổ chức tại Trung tâm triển lãm Văn hóa-Nghệ thuật Việt Nam (2 Hoa Lư, Hà Nội) đã được tổng kết bằng 2 chữ: thất bại! Ngỡ tưởng, các đơn vị tổ chức và tham gia đã thu được nhiều kinh nghiệm quý báu để làm tốt ở hội chợ kế tiếp. Thế nhưng, 3 năm sau, Hội chợ-Triển lãm sách quốc tế Việt Nam lần thứ III (gọi tắt là Hội chợ sách) tổ chức tại Trung tâm Hội chợ triển lãm Việt Nam (148 Giảng Võ, Hà Nội) từ ngày 17 đến 21-9 vẫn chưa khắc phục những điều bất cập.

Đến hội chợ để…chào người quen

Hạn chế đầu tiên và dễ thấy nhất là công tác quảng bá. Nếu việc quảng bá tốt bao nhiêu, hệ quả sẽ là tỉ lệ thuận với số lượng người đến tham dự. Năm nay, Hội chợ sách có thêm các đơn vị xuất bản sách từ nước ngoài, nhất là sự tham gia lần đầu của Hội chợ sách quốc tế lớn nhất thế giới Frankfurt (Đức). Hội chợ sách được gắn với sự kiện Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội nên có rất nhiều ấn phẩm “hoành tráng” như: 1.000 bản in cuốn “1.000 năm Thăng Long-Hà Nội” của nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, tập thơ “Hoa Lư thi tập” của Hoàng Quang Thuận với giấy dát vàng và bìa gỗ đỏ nặng tới 54kg… và gần một chục hội thảo bên lề. Tóm lại, những yếu tố cần để “hút” khách đã có nhưng tiếc số lượng người đến quá ít, trung bình không quá 1.000 người/ngày.



Nếu so với hậu quả gây tắc đường Điện Biên Phủ, Võ Thị Sáu do người đông như “trẩy hội” tại “Hội chợ sách thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VI” tổ chức tại công viên Lê Văn Tám (Quận I) hồi tháng 3-2010 thì mới thấy hội chợ sách ở Hà Nội đã rơi vào thảm cảnh “vắng như chùa Bà Đanh”; kể cả hai ngày nghỉ cuối tuần (18 và 19-9), khiến không một đơn vị nào đạt doanh thu trên 10 triệu đồng/ngày. Một phần nguyên nhân là do văn hóa đọc của Hà Thành văn hiến suy giảm rõ rệt nhưng nguyên nhân chính vẫn là quảng bá kém. Dù là người ham đọc sách nhưng nếu không qua đường Giảng Võ hoặc chú ý mục “tin văn hóa” trên báo đài thì chẳng bao giờ biết hội chợ sách quốc tế diễn ra những 5 ngày ngay tại trung tâm Hà Nội. Vì thế, đa phần người đến xem toàn là dân “mọt sách” đã biết mặt, biết tiếng nhau. Quỹ thời gian “vàng ngọc” để tìm sách hay đã phải cắt bớt để liên tục… chào người quen!

Có lẽ đã lường trước khả năng vắng khách nên một vài đơn vị có thương hiệu chắc chắn như Công ty văn hóa Phương Nam, Nhà xuất bản Tri thức không tham dự. Phần lớn những đơn vị khác cũng tỏ ra không mặn mà trong việc quảng bá thương hiệu. Những đơn vị này chỉ đơn giản thuê một gian hàng trưng bày những cuốn sách… tồn kho. Những cuốn sách mới cũng chỉ đem theo hai bộ, một bộ để bán một để trưng bày; người đến sau không có sách để mà mua như trường hợp gian hàng NXB T luôn được nhiều người hỏi mua bộ sách của một người Pháp viết về văn hóa Việt. Đó là chưa kể thái độ phục vụ-một phần trong việc gây dựng tên tuổi. Chẳng hạn, hôm khai mạc, tại gian hàng của NXB Q nổi tiếng chỉ có một anh nhân viên trông coi. Khách đến anh ta không chào hỏi, mời mọc mà mải… chơi game bằng điện thoại!

Nhìn tổng quan, có thể thấy các đơn vị làm sách mới ra đời tỏ ra năng động hơn hẳn. Những đơn vị như Thái Hà books, Alpha books, NXB Dân Trí, NXB Thời Đại… tận dụng thời gian hội chợ không chỉ để bán sách mà bằng mọi cách để khách hàng biết đến tên tuổi sinh sau đẻ muộn của mình. Các hình thức phát tờ rơi, giảm giá hết cỡ, ra mắt sách mới, mua trên 200 ngàn đồng sẽ có quà tặng, tổ chức hội thảo chuyên đề… Có thể nói, cùng với các đơn vị nước ngoài, những đơn vị làm sách trẻ này chính là điểm nhấn cho hội chợ sách, giúp người ta tin vào sự đổi mới thực chất trong tương lai chứ không chỉ “hữu danh” ở hiện tại.

Trên đường… chuyên nghiệp

Nếu phải so sánh, thì chính tại thời điểm bây giờ, là giai đoạn ngành xuất bản phát triển rực rỡ nhất. Chủng loại phong phú từ sách triết học cao siêu đến sách dạy… yêu. Hình thức ấn phẩm đa dạng từ sách bỏ túi đến sách điện tử (ebook). Song, qua những buổi hội thảo bên lề và thực tế các gian hàng trong hội chợ sách đã khiến ngay cả người ngoại đạo cũng nhận ra tính nghiệp dư vẫn tồn tại trong ngành xuất bản.

Nhìn vào gian hàng của một số nhà xuất bản như NXB Thể thao thì thấy các ấn phẩm rất nghèo nàn chủ yếu là sách luật của các môn thể thao và dạng sách lịch sử thể thao rút gọn mà nội dung không hơn từ điển mở Wikipedia; những cuốn sách thể thao nước ngoài nổi tiếng chưa được chuyển ngữ. Đây là hệ quả từ mô hình xuất bản cũ kĩ, mỗi ngành có một nhà xuất bản của ngành đó, quá bám vào xuất bản sách trong ngành mà không chịu mở rộng các chủng loại sách khác, dẫn đến nhà xuất bản không phát triển.

Số ít những đơn vị xuất bản năng động hơn, muốn vươn ra biển lớn thì gặp vô số các khó khăn do có quá ít kinh nghiệm trong lĩnh vực xuất bản. Một điều đơn giản là việc đăng kí “mã số tiêu chuẩn quốc tế cho sách” (ISBN). Nếu được đăng kí thì sách bằng tiếng Việt sẽ bán trên mạng và nhất là bán ở những nơi có nhiều Việt kiều sinh sống như ở Mỹ vì ở nước này chỉ sách có mã ISBN mới bán được. Một ví dụ khác là một cuốn sách được làm cẩn thận nhất thiết phải có vài trang chỉ dẫn (index), muốn tìm nội dung gì chỉ cần xem cái “từ khóa” ở trang chỉ dẫn. Cả hai điều này sẽ chứng minh đẳng cấp chuyên nghiệp của một cuốn sách nhưng lại ít nhà xuất bản Việt Nam lưu tâm thể hiện qua những cuốn sách mới xuất bản được trưng bày tại hội chợ sách.

Những điều trên thực ra chỉ là những điều nhỏ nhặt không khó bằng các vấn đề về bản quyền, chống sách lậu, luật cho sự phát triển của sách điện tử… Nhưng có lẽ, trước khi giải quyết các vấn đề phức tạp cần nhiều thời gian thì các đơn vị xuất bản sách ở Việt Nam nên bắt tay vào làm ngay những điều nhỏ nhặt bởi thông thường làm điều nhỏ có tốt mới mong làm tốt điều lớn hơn.

HÀM ĐAN

Thứ Bảy, 18 tháng 9, 2010

BẢN CHẤT HỘI CHỨNG "BẤT CẦN ĐỜI"

Gần đây, dư luận lại xôn xao trước một clip bạo lực học đường xảy ra hôm 8-9, nạn nhân là em Nguyễn Thị Hà Như-học sinh trường THPT Hà Huy Tập (TP. Vinh, Nghệ An). Tuy nguyên do không khác các vụ hành hung trước đó nhưng mức độ bạo lực thì nghiêm trọng hơn hẳn càng làm cho vấn đề bạo lực học đường trở nên nhức nhối trong bối cảnh bắt đầu một năm học mới.

Vấn đề bạo lực học đường đã được báo chí mổ xẻ nhiều nhưng đã đến lúc không chỉ đổ lỗi cho gia đình, nhà trường hay xã hội chung chung mà cần nhìn thẳng ra bản chất của vấn đề.

Việc những trẻ em vị thành niên xích mích thời nào cũng có, nhưng dẫn đến “động chân động tay” thì mới có gần 20 năm trở lại đây. Từ lâu, những vụ việc nữ sinh đánh nhau, xé quần áo xảy ra ngay trong những trường chuyên lớp chọn chứ không chỉ ngoài đường; nhưng trước đây, học sinh chưa có điện thoại để quay phim phát tán các clip nên người lớn không biết để can thiệp. Và nếu ai chăm theo dõi thời sự thì dễ nhận ra: Tương ứng với các vụ bạo lực học đường thì các vụ bạo lực của người lớn cũng xảy ra nhiều hơn hẳn mà nguyên nhân đôi khi rất… lãng nhách như: “nhìn đểu”, vỗ vai, va chạm khi đi đường… Đặc biệt là đa số các vụ bạo lực lại xảy ra ở đô thị!

Khi kinh tế phát triển “phi mã” làm biến đổi xã hội dẫn đến các giá trị văn hóa ứng xử chuẩn mực trước đây trở nên mất giá trị; trong khi đó, văn hóa tinh thần như “con rùa” lẽo đẽo theo sau không kịp để thiết lập các giá trị mới hoặc chí ít cũng điều chỉnh hành vi ứng xử lệch lạc. Sự kém hiệu quả trong việc định hướng và kiểm soát hành vi của giáo dục và luật pháp càng khiến cá nhân ứng xử với các cá nhân khác theo cách thức nguyên thủy-tức hành động theo bản năng. Ai cũng biết trong mỗi con người đều có phần bản năng-phần vô thức nhưng nhờ văn hóa và các thiết chế xã hội-tức cái ý thức nên hành vi con người được điều chỉnh để hành động không theo bản năng thú tính thuần túy. Một khi cơ chế kiểm soát suy yếu, con người chẳng hề e ngại thực hiện hành động tội ác.

Với các trẻ vị thành niên-độ tuổi đang trong quá trình tiếp nhận các cơ chế kiểm soát nhằm kìm hãm bản năng nhưng lại tồn tại trong một môi trường “mở” cho bản năng trỗi dậy như hiện nay sẽ khiến cho trẻ vị thành niên dẫn đến nhận định sai các giá trị. Chẳng hạn, giá trị của một học sinh là sức khỏe và học giỏi thì nhiều học sinh lại cho rằng có nhiều tiền, được ăn ngon mặc đẹp, đến các chốn ăn chơi phồn hoa mới là giá trị đích thực. Lâu ngày, một loạt các nhận thức sai lầm sẽ dẫn trẻ vị thành niên đến sự vô cảm mà nói theo ngôn ngữ vỉa hè là hội chứng “bất cần đời” với câu cửa miệng: “Muốn đến đâu thì đến!”.

Giải quyết vấn nạn bạo lực học đường cần có thời gian và cần sự chung sức của các bên liên quan. Nhưng trước khi có các hành động cụ thể, nhất thiết phải nhận thức rõ tầm quan trọng của văn hóa trong việc tái cấu trúc các giá trị ứng xử, góp phần điều chỉnh nhân cách và hành vi con người đi theo chiều hướng văn minh.

HÀM ĐAN

BẢN CHẤT HỘI CHỨNG "BẤT CẦN ĐỜI"

Gần đây, dư luận lại xôn xao trước một clip bạo lực học đường xảy ra hôm 8-9, nạn nhân là em Nguyễn Thị Hà Như-học sinh trường THPT Hà Huy Tập (TP. Vinh, Nghệ An). Tuy nguyên do không khác các vụ hành hung trước đó nhưng mức độ bạo lực thì nghiêm trọng hơn hẳn càng làm cho vấn đề bạo lực học đường trở nên nhức nhối trong bối cảnh bắt đầu một năm học mới.

Vấn đề bạo lực học đường đã được báo chí mổ xẻ nhiều nhưng đã đến lúc không chỉ đổ lỗi cho gia đình, nhà trường hay xã hội chung chung mà cần nhìn thẳng ra bản chất của vấn đề.

Việc những trẻ em vị thành niên xích mích thời nào cũng có, nhưng dẫn đến “động chân động tay” thì mới có gần 20 năm trở lại đây. Từ lâu, những vụ việc nữ sinh đánh nhau, xé quần áo xảy ra ngay trong những trường chuyên lớp chọn chứ không chỉ ngoài đường; nhưng trước đây, học sinh chưa có điện thoại để quay phim phát tán các clip nên người lớn không biết để can thiệp. Và nếu ai chăm theo dõi thời sự thì dễ nhận ra: Tương ứng với các vụ bạo lực học đường thì các vụ bạo lực của người lớn cũng xảy ra nhiều hơn hẳn mà nguyên nhân đôi khi rất… lãng nhách như: “nhìn đểu”, vỗ vai, va chạm khi đi đường… Đặc biệt là đa số các vụ bạo lực lại xảy ra ở đô thị!

Khi kinh tế phát triển “phi mã” làm biến đổi xã hội dẫn đến các giá trị văn hóa ứng xử chuẩn mực trước đây trở nên mất giá trị; trong khi đó, văn hóa tinh thần như “con rùa” lẽo đẽo theo sau không kịp để thiết lập các giá trị mới hoặc chí ít cũng điều chỉnh hành vi ứng xử lệch lạc. Sự kém hiệu quả trong việc định hướng và kiểm soát hành vi của giáo dục và luật pháp càng khiến cá nhân ứng xử với các cá nhân khác theo cách thức nguyên thủy-tức hành động theo bản năng. Ai cũng biết trong mỗi con người đều có phần bản năng-phần vô thức nhưng nhờ văn hóa và các thiết chế xã hội-tức cái ý thức nên hành vi con người được điều chỉnh để hành động không theo bản năng thú tính thuần túy. Một khi cơ chế kiểm soát suy yếu, con người chẳng hề e ngại thực hiện hành động tội ác.

Với các trẻ vị thành niên-độ tuổi đang trong quá trình tiếp nhận các cơ chế kiểm soát nhằm kìm hãm bản năng nhưng lại tồn tại trong một môi trường “mở” cho bản năng trỗi dậy như hiện nay sẽ khiến cho trẻ vị thành niên dẫn đến nhận định sai các giá trị. Chẳng hạn, giá trị của một học sinh là sức khỏe và học giỏi thì nhiều học sinh lại cho rằng có nhiều tiền, được ăn ngon mặc đẹp, đến các chốn ăn chơi phồn hoa mới là giá trị đích thực. Lâu ngày, một loạt các nhận thức sai lầm sẽ dẫn trẻ vị thành niên đến sự vô cảm mà nói theo ngôn ngữ vỉa hè là hội chứng “bất cần đời” với câu cửa miệng: “Muốn đến đâu thì đến!”.

Giải quyết vấn nạn bạo lực học đường cần có thời gian và cần sự chung sức của các bên liên quan. Nhưng trước khi có các hành động cụ thể, nhất thiết phải nhận thức rõ tầm quan trọng của văn hóa trong việc tái cấu trúc các giá trị ứng xử, góp phần điều chỉnh nhân cách và hành vi con người đi theo chiều hướng văn minh.

HÀM ĐAN

Thứ Sáu, 17 tháng 9, 2010

NGANG TẦM THẾ GIỚI

Một lần trò chuyện về đời văn của mình, nhà văn X kể: “Hồi tôi khoảng hơn 20 tuổi, tôi có gửi một truyện ngắn trinh thám cho một tạp chí chuyên về văn học. Sau khi gửi mấy hôm, Tổng biên tập tạp chí mời tôi lên tòa soạn nói chuyện. Ngồi chưa ấm chỗ, “ông Tổng” đã nắm chặt tay tôi, mắt nhìn trìu mến, lời nói nghẹn ngào đứt quãng: “Truyện… ngắn… của… em… ngang tầm… thế giới”. Được khen như vậy, trong lòng cứ sướng âm ỉ mãi. Bẵng một thời gian, không thấy ai nhắc đến, tôi mới nhận ra truyện ngắn chỉ gây chú ý về đề tài, còn kỹ thuật viết thì quá xoàng. Tôi không phải dạng người dễ bỏ cuộc, nên tôi đổi mới lối viết và từ đó mới có thành tựu sáng tác. Bây giờ, nhớ lại lời khen “ngang tầm thế giới” mấy chục năm trước thấy buồn cười; hồi ấy, chắc “ông Tổng” nói đùa trêu tôi”.

Câu chuyện của nhà văn X quả là câu chuyện vui. Nhưng thử đặt vấn đề nghiêm túc nhân giai thoại nói trên, đó là: Văn học Việt Nam hiện đại nằm vị trí nào trên “bản đồ’ văn học thế giới? Đã đích thực “ngang tầm thế giới”chưa?

Tháng 1-2010, Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức. Hội nghị này đã làm lộ ra thực tế, văn học Việt Nam hiện đại không được người đọc năm châu biết đến. Vấn đề không chỉ là ở khâu quảng bá kém, nguyên nhân chính là tính nghệ thuật của tác phẩm văn học Việt Nam chưa đủ sức lan xa để “găm” vào trí nhớ người đọc nước ngoài. Văn học Việt Nam hiện đại chưa thể (chứ không phải là không thể) ngang tầm thế giới-thực tế trên đã được những chuyên gia văn chương trong và ngoài nước chứng minh bằng những công trình nghiên cứu thuyết phục. Bởi lẽ, văn học Việt Nam hiện đại Việt không sinh ra trường phái hay trào lưu văn chương mang tính “độc sáng” để có thể là gây tác động tới văn học nước khác như chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của các nước Mỹ Latinh từng làm được. Kể cả những sáng tạo đỉnh cao là Thơ Mới, văn xuôi hiện thực phê phán trước năm 1945 chỉ là những “quả ngọt” cuối mùa được thừa hưởng từ văn học châu Âu. Những nhận định trên không phải là sự tự ti hay tâm lí vọng ngoại mà chỉ là cái nhìn khách quan, trung thực như tinh thần của triết gia Socrates: “Hãy tự biết mình”.

Khổ nỗi, đến tận bây giờ, có nhà văn vẫn chưa tự biết ta, biết người. Chuyện là, nhân một tập thơ của nhà thơ Y được trao giải, dư luận trong nước phản đối kết quả của hội đồng chung khảo vì tính nghệ thuật của tập thơ không xứng đoạt giải. Như để bảo vệ, nhà văn Z-người trong hội đồng phát biểu hùng hồn với ở một cuộc họp nghiêm chỉnh: “Muốn hiểu được tập thơ này phải đạt tầm cỡ thế giới”. Nếu cứ suy luận từ câu nói của nhà văn Z thì được kết luận: Văn học Việt Nam hiện đại đã có một tác phẩm ngang tầm thế giới!

Cứ giả, nhà văn Z nọ đang nói vui như trường hợp “ông Tổng” năm nào khen truyện ngắn của nhà văn X thì chẳng ai để tâm. Đằng này, ông lại hết lời xác nhận một tập thơ chưa ngang tầm với các tập thơ trong nước vọt lên đạt chuẩn thế giới thì rõ ràng ông Z thuộc tuýp người “tự mình yêu mình” bất thường mà theo cách nói ngoài vỉa hè, quán xá là “tự sướng”.

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 16 tháng 9, 2010

GIỮ CÁI "ĐẦU LẠNH"

Những fan của đội tuyển Việt Nam đã có thể thở phào sau lễ bốc thăm chia bảng AFF Suzuki Cup 2010 hôm 15-9 bởi kết quả bốc thăm hết sức thuận lợi cho Việt Nam khi đội chủ nhà chỉ phải tiếp Xin-ga-po, Mi-an-ma và đội nhì vòng sơ loại. Quả thực, ở bảng B, chỉ có Xin-ga-po là đối thủ đáng gờm; Mi-an-ma trẻ trung nhưng chưa thể gây khó cho đội tuyển Việt Nam; còn riêng đội nhì vòng sơ loại vẫn chỉ là đội bóng “lót đường” theo đúng nghĩa đen. Đã thế, trận gặp đối thủ ngang sức ngang tài Xin-ga-po lại ở lượt cuối. Cho nên, vé vào bán kết là điều nằm trong tầm tay đội tuyển Việt Nam dẫu không cần tung ra 100% khả năng.

Việc gặp những đối thủ “dưới cơ” ở vòng bảng chưa chắc đã là điều may cho đội tuyển Việt Nam như đa số nhiều người mừng tưởng. Còn nhớ, lần duy nhất Việt Nam vô địch khu vực là giải AFF Cup 2008. Vòng bảng hai năm trước, Việt Nam có khởi đầu tồi tệ khi thua Thái Lan 0-2, nhưng nhờ trận thắng may mắn kì lạ 3-2 trước Ma-lai-xi-a, Việt Nam mới không bị loại. Thoát khỏi “cửa tử”, Việt Nam chơi thăng hoa và vô địch một cách xứng đáng. Tình thế bị dồn vào chân tường rồi bất ngờ lên ngôi như Việt Nam tại AFF Cup 2008 lại được U23 Ma-lai-xi-a tái hiện ở Seagames 25 tại Lào năm ngoái. Vòng bảng AFF Cup 2010 có thể xem là màn khởi động cho Việt Nam nhưng màn khởi động “nhẹ” lại là nguy cơ dễ khiến tinh thần thiếu “lửa” và lối chơi thiếu gắn kết khi mà đối thủ ở vòng bán kết đều có thực lực và khó lường như nhau. Thái Lan dẫu sa sút thời gian gần đây vẫn là một “ông lớn” với một đội hình đồng đều. Ma-lai-xi-a sau thời gian xuống dốc đã bắt đầu vươn lên với dàn cầu thủ trẻ tài năng, nhiều khát vọng. In-đô-nê-xi-a tuy trình độ kém hơn nhưng cũng có thể gây bất ngờ.

Trong các phát biểu sau lễ bốc thăm, HLV Ca-lít-tô tỏ ra thận trọng, không xem thường đối thủ nào. Ông muốn đội tuyển Việt Nam thi đấu hết sức mình trong từng trận đấu. Những lời nói trên chứng tỏ ông Ca-lit-tô vị chiến lược gia biết ta, biết người. Thập niên 1990, bóng đá Thái Lan thống trị Đông Nam Á, những giải đấu trong khu vực chẳng qua là để tìm… đội á quân. Bước sang thế kỷ XXI, trình độ bóng đá giữa các nước ngày càng thu hẹp, chức vô địch là sự cạnh tranh “đa cực”, bất cứ đội bóng nào nếu hội tụ đủ các yếu tố thuận lợi đều có khả năng xưng vương. Chức vô địch AFF Cup 2008 là dấu mốc khẳng định đẳng cấp của bóng đá Việt Nam tại Đông Nam Á nhưng không có nghĩa là Việt Nam là đội mạnh nhất, vượt trội những người anh em trong khu vực như Thái Lan trước đây. Người hâm mộ có thể tin tưởng ở khả năng bảo vệ chức vô địch nhưng ảo tưởng về sức mạnh của đương kim vô địch vô hình trung lại tạo ra sức ép lên đôi chân các tuyển thủ. Chỉ mong các cầu thủ-những “diễn viên chính” giữ được cái “đầu lạnh” như “ông thầy”; có vậy, Việt Nam mới tránh được thất bại tại “ngưỡng cửa thiên đường” như ở Seagames 25.

HÀM ĐAN

GIỮ CÁI "ĐẦU LẠNH"

Những fan của đội tuyển Việt Nam đã có thể thở phào sau lễ bốc thăm chia bảng AFF Suzuki Cup 2010 hôm 15-9 bởi kết quả bốc thăm hết sức thuận lợi cho Việt Nam khi đội chủ nhà chỉ phải tiếp Xin-ga-po, Mi-an-ma và đội nhì vòng sơ loại. Quả thực, ở bảng B, chỉ có Xin-ga-po là đối thủ đáng gờm; Mi-an-ma trẻ trung nhưng chưa thể gây khó cho đội tuyển Việt Nam; còn riêng đội nhì vòng sơ loại vẫn chỉ là đội bóng “lót đường” theo đúng nghĩa đen. Đã thế, trận gặp đối thủ ngang sức ngang tài Xin-ga-po lại ở lượt cuối. Cho nên, vé vào bán kết là điều nằm trong tầm tay đội tuyển Việt Nam dẫu không cần tung ra 100% khả năng.

Việc gặp những đối thủ “dưới cơ” ở vòng bảng chưa chắc đã là điều may cho đội tuyển Việt Nam như đa số nhiều người mừng tưởng. Còn nhớ, lần duy nhất Việt Nam vô địch khu vực là giải AFF Cup 2008. Vòng bảng hai năm trước, Việt Nam có khởi đầu tồi tệ khi thua Thái Lan 0-2, nhưng nhờ trận thắng may mắn kì lạ 3-2 trước Ma-lai-xi-a, Việt Nam mới không bị loại. Thoát khỏi “cửa tử”, Việt Nam chơi thăng hoa và vô địch một cách xứng đáng. Tình thế bị dồn vào chân tường rồi bất ngờ lên ngôi như Việt Nam tại AFF Cup 2008 lại được U23 Ma-lai-xi-a tái hiện ở Seagames 25 tại Lào năm ngoái. Vòng bảng AFF Cup 2010 có thể xem là màn khởi động cho Việt Nam nhưng màn khởi động “nhẹ” lại là nguy cơ dễ khiến tinh thần thiếu “lửa” và lối chơi thiếu gắn kết khi mà đối thủ ở vòng bán kết đều có thực lực và khó lường như nhau. Thái Lan dẫu sa sút thời gian gần đây vẫn là một “ông lớn” với một đội hình đồng đều. Ma-lai-xi-a sau thời gian xuống dốc đã bắt đầu vươn lên với dàn cầu thủ trẻ tài năng, nhiều khát vọng. In-đô-nê-xi-a tuy trình độ kém hơn nhưng cũng có thể gây bất ngờ.

Trong các phát biểu sau lễ bốc thăm, HLV Ca-lít-tô tỏ ra thận trọng, không xem thường đối thủ nào. Ông muốn đội tuyển Việt Nam thi đấu hết sức mình trong từng trận đấu. Những lời nói trên chứng tỏ ông Ca-lit-tô vị chiến lược gia biết ta, biết người. Thập niên 1990, bóng đá Thái Lan thống trị Đông Nam Á, những giải đấu trong khu vực chẳng qua là để tìm… đội á quân. Bước sang thế kỷ XXI, trình độ bóng đá giữa các nước ngày càng thu hẹp, chức vô địch là sự cạnh tranh “đa cực”, bất cứ đội bóng nào nếu hội tụ đủ các yếu tố thuận lợi đều có khả năng xưng vương. Chức vô địch AFF Cup 2008 là dấu mốc khẳng định đẳng cấp của bóng đá Việt Nam tại Đông Nam Á nhưng không có nghĩa là Việt Nam là đội mạnh nhất, vượt trội những người anh em trong khu vực như Thái Lan trước đây. Người hâm mộ có thể tin tưởng ở khả năng bảo vệ chức vô địch nhưng ảo tưởng về sức mạnh của đương kim vô địch vô hình trung lại tạo ra sức ép lên đôi chân các tuyển thủ. Chỉ mong các cầu thủ-những “diễn viên chính” giữ được cái “đầu lạnh” như “ông thầy”; có vậy, Việt Nam mới tránh được thất bại tại “ngưỡng cửa thiên đường” như ở Seagames 25.

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 15 tháng 9, 2010

NHÌN LẠI MÙA PHIM HÈ 2010: THIẾU ƯU ĐÃI TRẺ EM

Sướng như trẻ phố!

Trừ những gia đình lao động nghèo ở khu “ổ chuột”, bất cứ gia đình nào ở đô thị Việt Nam ngày nay đều dư sức sắm một đầu “đọc” đĩa, chí ít dán nhãn “made in China” nửa triệu đồng để thỏa mãn việc xem phim tại nhà. Giá thuê đĩa rẻ như mua kẹo với giá 3 ngàn đồng/2 ngày; đã thế, đĩa phim còn xuất hiện sớm hơn phim chiếu rạp như phim Up (Vút bay) vào năm ngoái. Xông xênh hơn, chỉ cần bỏ ra 50 ngàn đồng/tháng là có thể sử dụng dịch vụ truyền hình cáp công nghệ Analog với 5 kênh chuyên chiếu phim hoạt hình kèm thêm một số kênh phim truyện như HBO, Star Movies… thỉnh thoảng có chiếu một số phim thiếu nhi đặc sắc như The Simpsons (Gia đình Simpson), Kungfu Panda (Kungfu gấu trúc), Home Alone (Ở nhà một mình)… Thành phố cũng là nơi các tổ chức văn hóa trong và ngoài nước đứng chân, nên không chỉ vào dịp hè mà mỗi khi có sự kiện quan trọng nào đó đều có những buổi chiếu phim miễn phí hay ưu đãi đặc biệt với giá vé chỉ khoảng 5 đến 10 ngàn đồng. Vì thế, chẳng ở đâu sướng như ở phố, khi vấn đề với trẻ em không phải có được xem phim hay không mà là sắp xếp thời gian để thưởng thức môn nghệ thuật thứ 7.

Việc xem phim ở nhà tuy đáp ứng nhu cầu về số lượng phim nhưng khoái cảm từ âm thanh và hình ảnh từ phim chiếu trên màn ảnh rộng ở rạp vẫn hơn hẳn những màn hình ti-vi. Cho nên, con số ấn tượng 155.608 lượt trẻ em đi xem phim với giá ưu đãi của Trung tâm chiếu phim quốc gia (nơi duy nhất ở Hà Nội giảm giá cho trẻ em) từ 25-5 đến 31-8 là điều dễ hiểu. Nhưng không phải ở rạp nào cũng lưu ý tới nhu cầu thưởng thức phim chiếu rạp của trẻ em. Bằng chứng, sau khi liên hệ với 36 rạp phim ở các thành phố từ Bắc vào Nam, kết quả số rạp chiếu phim có ưu đãi cho học sinh suốt mùa hè 2010 không quá 5 rạp. Mức giá ưu đãi thấp nhất là 5 ngàn đồng không có… chỗ ngồi, còn trung bình là 15 đến 20 ngàn đồng. Giá vé tuy chưa thể giúp tất cả trẻ em vào rạp nhưng đã giảm đến 1/3 thậm chí là một nửa giá vé đồng hạng. Đa số các rạp còn lại có chiếu phim miễn phí 1 đến 2 buổi cho các học sinh có giấy chứng nhận học sinh giỏi và học sinh tiên tiến.

Có hai lí do chính dẫn đến việc xem nhẹ chiếu phim ưu đãi cho trẻ em. Đầu tiên, là việc xem phim đã thông qua đa phương tiện như đã nói ở phần trên. Một lí do khác để các rạp (nhất là các rạp ở thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh) bào chữa cho việc hạn chế chiếu phim ưu đãi cho trẻ em là khó khăn về tài chính. Phim được nhập phải ưu tiên những phim dành cho người lớn có thu nhập ổn định mới mong có lãi để trụ lại với xu hướng nhiều người thích xem phim ở nhà. Những phim mà trẻ em có thể xem được đều là những phim ngoại giá nhập cao có muốn cũng khó có thể giảm giá vé. Các rạp ở tỉnh chỉ có thể chiếu phim miễn phí cho học sinh khi làm nhiệm vụ tuyên truyền vào các dịp kỷ niệm các sự kiện cách mạng bằng các phim như: Hồ Chí Minh-chân dung một con người (1990), Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông (2003)… Những bộ phim này đều là những phim khá nhưng ít khi chiếu vào dịp hè khi học sinh được nghỉ học và không hợp với tâm lí độ tuổi chỉ “biết ăn, biết ngủ, biết học hành”; hơn nữa, các bộ phim này không phải là phim mới nên không được nhiều học sinh thích thú.

Về phía các cơ quan có thể tổ chức cho học sinh xem phim vào dịp hè là trường học và nhất là Đoàn thanh niên cũng không có hành động tích cực. Đơn cử, chỉ có 41 buổi chiếu do nhà trường kí hợp đồng với Trung tâm chiếu phim quốc gia cho học trên tổng số hơn 600 trường ở cả ba cấp trong các quận nội thành của Hà Nội.

Trẻ quê nhờ cậy… ti-vi

Việc xem phim trên màn ảnh rộng với các vùng quê từ lâu nay chỉ trông chờ các đội chiếu phim lưu động, trong đó có các đội chiếu phim của quân đội. Các đội chiếu phim đương nhiên phải chú trọng cho bà con ở miền núi, hải đảo-những nơi quá khó khăn trong việc có thể tự mua sắm thiết bị điện tử gia dụng để xem phim. Cho nên, sẽ chẳng lạ nếu có vùng quê Hưng Yên ở chỉ cách Hà Nội 50 cây số 10 năm qua chưa tổ chức chiếu phim bao giờ. Theo anh Hồng Thiện-người dân ở huyện Mỹ Hào cho biết: Trước năm 2000, cũng có chiếu đủ loại phim tại nhà văn hóa các xã với giá vé 2 đến 5 ngàn đồng do công ty chiếu bóng của tỉnh với tần suất 2-3 lần/tháng, nhưng sau đó không còn tổ chức chiếu phim nữa.

Một vùng quê huyện Đông Anh thuộc về Hà Nội cũng không hơn gì miền quê xa xôi khác. Bạn Nguyễn Nết-người làng Lỗ Khê cho hay: Từ lúc sinh ra đến giờ, chị chỉ một lần duy nhất xem phim vào dịp hè ở quê. Đó là vào năm 2007, làng Lỗ Khê đạt thành tích xuất sắc trong hoạt động thanh niên nên được “chiêu đãi” bằng phim Ký ức Điện Biên (2004). Để xem phim qua màn ảnh rộng, những bạn trẻ như bạn Nết chỉ còn cách đi vào nội thành xem ở các rạp như người ở phố. Để không phải đi xa và quá tốn kém, những trẻ em miền quê cũng chỉ biết nhờ cậy vào phim chiếu trên ti-vi để xem phim. Số phim và chất lượng các phim lại tùy thuộc vào gia cảnh của gia đình các em. Như vậy, sẽ có nhiều trẻ em ở nông thôn thiệt thòi không được xem phim để giải trí lành mạnh; và nếu không có hoạt động hè thường xuyên ở địa phương thì nguy cơ các em sa vào các hoạt động kém lành mạnh khác như chơi game, cờ bạc, đua xe… là điều khó tránh khỏi.

Thiết nghĩ, khi mà kinh tế ngày càng phát triển thì các cơ quan có trách nhiệm nên quan tâm tới việc duy trì tới nhu cầu chính đáng của các em vào dịp hè. Không chỉ giúp các em thư giãn vào kì nghỉ mà còn giúp các em hình thành nhân sinh quan lành mạnh, trong sáng thông qua các bộ phim giàu tính nhân văn. Và biết đâu, trong số những đứa trẻ được xem phim miễn phí ngày hôm nay sẽ có người trở thành một đạo diễn điện ảnh lừng danh trong tương lai như Vương Gia Vệ (Hồng Kông)-người mà trước khi đi học đã ngồi xem phim ở những rạp chiếu giá rẻ những năm 1960.

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 13 tháng 9, 2010

HUYỀN TÍCH "NGÔI NHÀ MỘT ĐÊM"

Làng Sơn Đồng (huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội) vốn nổi tiếng khắp trong Nam ngoài Bắc bởi đây là làng nghề chuyên tạc tượng và những đồ thờ cúng nhưng ít người biết rằng trong ngôi làng nghề này còn có một di sản văn hóa đặc biệt đó là một ngôi nhà cổ được xây dựng chỉ trong… một đêm.

Vang bóng một thời

Ông Nguyễn Viết Vi chủ nhân của ngôi nhà huyền thoại kể một cách chậm rãi về huyền tích đã được truyền tụng suốt 335 năm qua.

Năm 1675, dưới đời vua Lê Hy Tông (1675-1705), Đô đốc Thái bảo Nguyễn Công Triều (1614-1690) mượn voi của triều đình để kéo nguyên vật liệu, phục vụ việc xây dựng đình chùa, miếu mạo, đường sá cho dân chúng làng Đông Lao, phủ Hoài Đức (nay là thôn Đông Lao, xã Đông Lao, huyện Hoài Đức) kiệt sức mà chết. Theo luật thời ấy: hoặc là ông phải đền một con voi đúc bằng bạc nặng bốn tấn đúng bằng trọng lượng con voi thật; hoặc là phải chịu xử trảm. Vốn là quan thanh liêm, Đô đốc Nguyễn Công Triều dồn hết sản nghiệp cũng chỉ đổ được có 4 cái chân voi bằng bạc; án tử hình coi như đã tuyên. Người được giao xét xử vụ án là Tham tụng Hình bộ Thượng thư Nguyễn Viết Thứ (1644-1692). Ai cũng biết tính duy tình của người Việt mạnh như thế nào, nó thẩm thấu đến mọi lĩnh vực kể cả luật pháp cho nên trong truyện Kiều mới có câu: “Bề ngoài là lý song trong là tình”. Ông Thượng thư biết đồng nghiệp chẳng qua vô tình phải tội nên tìm mọi cách “biện hộ” cho bị cáo.

Sau nhiều đêm trằn trọc, ông mới nghĩ ra một kế. Nhân một lần “ngự đàm” với nhà vua, ông mới kể một câu chuyện dân gian. Chuyện rằng: Một anh tá điền nghèo phải đi cày thuê cho địa chủ. Một buổi trưa nóng như thiêu như đốt, người và trâu đang cố sức cày cho xong thửa ruộng thì đột nhiên chú trâu lăn quay ra chết. Địa chủ bắt anh tá điền phải đền... Vua nghe vậy, tức khí đập bàn quát: con trâu chết là tại trời, chứ có phải do anh tá điền muốn nó chết đâu. Anh nhà nghèo chả có tội nợ gì hết. Nhân cơ hội ấy, quan Tham tụng Nguyễn liền bẩm tấu vụ án phải đền voi bạc của Đô đốc Thái bảo Nguyễn Công Triều. Vua suy tính một hồi, khen ngợi tài trí của quan Tham tụng và đồng ý xóa tội cho Đô đốc Nguyễn Công Triều.

Từ đó, mối quan hệ vốn khăng khít trước đây nhờ vừa là đồng hương vừa là quan võ nay lại càng bền chặt. Ơn cứu mạng khiến Đô đốc luôn nghĩ đến việc đáp đền. Nhưng hễ Đô đốc nhắc đến việc giúp bạn chút vật chất là bị chối từ dù quan Thượng thư không sung túc. Lần hồi mãi, quan Đô đốc cũng tìm được một kế. Trong một lần đàm đạo, ông Đô đốc cũng cài vào câu chuyện rằng, làm con mà để cha mẹ già sống túng thiếu là không trọn đạo hiếu. Ấy thế mà song thân quan Thượng thư đang phải sống bần hàn ở quê. Đã xem nhau như ruột thịt, nên quan Đô đốc tự lãnh trách nhiệm đền đáp với song thân quan Thượng thư. Trước tiên là dựng một ngôi nhà khang trang ở Sơn Đồng. Cái lý của quan Đô đốc thật khó từ chối nên quan Thượng thư Nguyễn Viết Thứ nói thách: Chỉ nhận ngôi nhà nếu ngôi nhà làm xong chỉ trong… một đêm. Quan Thượng thư mừng thầm vì dù có tài mấy ông bạn thân cũng không thể làm được, âu cũng là một cách thoái thác tế nhị cái món quà vật chất của người bạn vong niên.

Một ngày đầu năm 1676, dân chúng vùng Hoài Đức thấy một đoàn tùy tùng ba trăm người cùng voi, ngựa, trâu, kéo gỗ, gạch, đá, ngói, hoành phi, câu đối… nhằm hướng làng Sơn Đồng thẳng tiến. Đến khu đất rộng 576 mét vuông của gia đình quan Thượng thư Nguyễn Viết Thứ, Đô đốc Nguyễn Công Triều bước vào căn nhà tranh, thi lễ với hai cụ thân sinh của bạn, xin phép dựng ngôi nhà mới. Công việc diễn ra trước một vùng đuốc sáng rực. Sớm tinh sương, bà con đổ đến xem tình hình ngôi nhà thì thật kỳ lạ. Mới chiều qua, nơi đây còn gồ ghề, với mái nhà tranh bé tẹo teo, nay được thay thế bằng ngôi nhà mới 5 gian, 2 chái dài hơn 18 mét. Song thân quan Thượng thư thì mừng đến rơi lệ trước tấm lòng của bạn con mình. Dân địa phương xúm lại chiêm ngưỡng những cây cột nhà bằng gỗ lim chắc, khỏe; trong lòng nhà lát gạch nâu bóng; những bộ hoành phi, câu đối sơn son thiếp vàng… mới tinh.

Sau khi khoản đãi binh sĩ và bà con dân làng xong thì mặt trời vừa đứng bóng. Quan Đô đốc Thái bảo dẫn đoàn tùy tùng báo với người bạn đã thực hiện được lời thách đố. Quan Thượng thư tròn mắt kinh ngạc; đôi bạn vong niên ghì chặt lấy nhau vì cảm động.

Phát huy di sản cha ông

Biết ông Nguyễn Viết Vi là hậu duệ đời thứ 11 của quan Thượng thư Nguyễn Viết Thứ không thuộc hệ con trai trưởng quan Thượng thư nhưng được thừa tự gia sản này. Đem uẩn khúc trên hỏi ông Vi, ông liền giải thích: Vì là nhà này được tặng nên cụ Nguyễn Viết Thứ để lại cho con thứ, chứ nhà đất của cụ đương nhiên thuộc về con trai cả.

Đời trước các cụ chỉ sửa sang đôi chút nên đến nay, ngôi nhà cổ này vẫn gần như nguyên vẹn. Theo lời ông Vi, ngôi nhà này vượng khí. Ngày trước, dưới thời Pháp thuộc, chúng đã phá dỡ bao ngôi nhà, cả đền chùa, nhưng ngôi nhà này không dám động đến, chỉ ngăn làm đôi để phục vụ cho ý đồ của chúng. Ông chỉ lên bức hoành phi với ba chữ vàng "Đức giã viễn", nói rằng, tôi luôn nhắc nhở con cháu ăn ở có đức có tâm. Tài năng, đức độ của hai người bạn tâm giao-cha ông chúng tôi Nguyễn Viết Thứ, Nguyễn Công Triều đáng để con cháu đời sau noi theo. Thời gian cứ trôi đi, con cháu hai dòng họ Nguyễn Viết ở Sơn Đồng và Nguyễn Công ở Đông Lao vẫn khăng khít. Người dân quanh vùng đó, vẫn ca ngợi tài đức và tình bạn của hai vị quan và ngôi nhà kỳ lạ. Ngôi nhà giống như một bức đại tự bằng vàng viết về cái đức và tài của người xưa. Nhiều người đề nghị ông Vi làm đơn để công nhận ngôi nhà là di tích lịch sử văn hóa. Ông vẫn chỉ cười mà rằng: “Công nhận hay không không quan trọng, quan là gìn giữ và được sống trong một kỷ vật quý báu của cha ông”. Ông quan niệm “hữu xạ tự nhiên hương” nên không tuyên truyền về giá trị văn hóa ngôi nhà.

Ông Vi cho xem những bức ảnh đầu những năm 1990, ngôi nhà xuống cấp nghiêm trọng. Ông Vi-vốn làm trong ngành xây dựng, quyết tâm phục dựng ngôi nhà của tổ tiên vào tháng 11-1995, đại tu phần mái và sàn đã xập xệ.Nhờ tâm huyết của ông mà nay ngôi nhà đã trở nên đẹp đẽ hơn, tiếng tăm lan xa; ngôi nhà trở thành niềm tự hào của người dân Sơn Đồng.

Nay, tuy đã đến tuổi xưa nay hiếm nhưng ông Vi vẫn một lòng trân trọng, gìn giữ, coi đây như một kỷ vật vô giá mà ông phải có trách nhiệm bảo vệ. Ông nói rằng được gìn giữ một kỷ vật của cha ông là một vinh dự và niềm tự hào lớn. Ông Vi chỉ tiếc vốn hiểu biết Hán học hạn chế nên không thể sưu tầm thêm tư liệu về cụ Thượng thư Nguyễn Viết Thứ và câu chuyện khác liên quan đến huyền tích “ngôi nhà một đêm”.

HÀM ĐAN

Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2010

HỘI HỌA NGOÀI GIÁ VẼ: NỖ LỰC HÌNH THÀNH "LÀN SÓNG" MỚI

Điều mà những người yêu mỹ thuật mong mỏi bây giờ là chất lượng nghệ thuật của các dự án hội họa ngoài giá vẽ chứ không còn bức thiết đòi hỏi số lượng như trước đây.

Nếu là thị dân sống ở Hà Nội và Sài Gòn, mỗi tháng, người xem ít ra cũng có khoảng 2-3 cơ hội dự các triển lãm mỹ thuật. Trừ những triển lãm mà tác phẩm được “đặt hàng” để tuyên truyền hoặc các tác phẩm “kinh điển” được trưng bày lại thì số triển lãm mới có nhiều đột phá không nhiều, kể cả hội họa phi giá vẽ đang là lĩnh vực mà nhiều nghệ sĩ trẻ lao vào thể nghiệm.

Đi vào đời sống

Hơn chục năm trước, người xem vẫn còn kinh ngạc khi được thưởng lãm những tác phẩm nghệ thuật trình diễn, nghệ thuật sắp đặt… thì nay mọi chuyện đã thay đổi. Người ta không còn xem những nghệ sĩ trình diễn như Đào Anh Khánh trong các chương trình Đáo Xuân là kẻ lập dị, nhiều người còn bỏ ra nhiều phút cố công tìm hiểu ý nghĩa tác phẩm. Thêm vào đó, các website, nhiều trung tâm nghệ thuật ra đời để truyền bá mỹ thuật đương đại; ngoài ra, các phương tiện thông tin, truyền thông đại chúng đã dành nhiều “đất” cho các loại hình mỹ thuật đương đại kèm theo cái nhìn tích cực. Chưa kể đã có cuộc thi nghệ thuật trình diễn thu hút được sự quan tâm của khán giả. Hội họa phi giá vẽ đã có những “quả ngọt đầu mùa” sau hơn một thập niên của “bén rễ” ở nước ta.

Tính tương tác trực tiếp của hội họa phi giá vẽ đã xóa bỏ khoảng cách giữa người xem với tác phẩm. Điều này hơn hẳn các bức tranh vốn chỉ hiện hữu ở những không gian thuần túy nghệ thuật và mục đích vẽ cái hiệu quả của sự tri giác thực tại là đặc trưng của các chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng, chủ nghĩa tối thiểu… nên càng xa cách với cách tiếp nhận của người xem “phổ thông” vốn đòi hỏi một bức tranh phải biểu đạt trung thành thực tại.

Gắn chặt với đời sống, các tác phẩm hội họa phi giá vẽ thường lấy những chất liệu và vật liệu được làm sẵn trong đời sống để hình thành tác phẩm từ cái bếp lò, gường, vòi nước, tủ… Mục đích của tác phẩm thường là nhằm trực tiếp châm biếm, phản biện lại những hành vi, lối nghĩ mà nhiều người xem là bình thường. Chẳng hạn, tác phẩm Sờ thấy vinh quang của nghệ sĩ Phạm Huy Thông được thực hiện vào ngày sĩ tử thi đại học năm 2010. Anh quỳ giữa những hàng bia tiến sĩ ở Văn Miếu, trên lưng là “tấm bia” giấy: “Xin đừng sờ đầu rùa!” để phản ứng lại hành vi xâm hại di tích và gián tiếp đánh đổ niềm tin vào vận may trong thi cử nhờ sờ đầu rùa đá. Trên thực tế, tác động tích cực của tác phẩm chỉ là trong một thời gian ngắn trong phạm vi hẹp nhưng như thế đã đạt được mục tiêu ban đầu đề ra. Tác động lớn hơn của tác phẩm là tạo cảm hứng, kích thích các nghệ sĩ khác tìm tòi và sáng tạo ra các tác phẩm khác tạo thành một trào lưu chứ không còn là sự tự phát như trước đây.

“Phát triển bền vững”

Cụm từ “phát triển bền vững” vốn là câu cửa miệng ở lĩnh vực kinh tế; nhưng nếu dùng cụm từ này để “hô hào” cho hội họa phi giá vẽ hiện nay thì thật thích hợp. Khi mà số lượng các cuộc triển lãm tăng lên, người xem không chuyên ít nhiều nhận ra sự trùng lặp ở các ý tưởng và cách thực hành của các nghệ sĩ. Chưa kể, sự thỏa hiệp trong tư duy nghệ thuật của một số nghệ sĩ, đơn cử trong một triển lãm sắp đặt của một họa sĩ Hà Nội lại trưng hai bức tranh trừu tượng không hề ăn nhập đến cấu trúc triễn lãm lẫn không gian nghệ thuật trưng bày.

Các nghệ sĩ trẻ đang dồn năng lượng sáng tạo vào việc thu hút khán giả và “thuyết phục” những nhà quản lí văn hóa nhìn nhận tích cực tác phẩm chứ chưa thực đi sâu vào việc tìm kiếm tính khả năng biểu đạt mới của hội họa phi giá vẽ. Việc thực hành các loại hình mỹ thuật đương đại của các họa sĩ trẻ phần nhiều vì các bức xức xã hội như một họa sĩ từng viết trong lời đề dẫn triển lãm: “Không hiểu sao tôi thấy mỗi đô thị, cũng chẳng khác cái bếp lò, sáng bóng, nhẵn nhụi lúc mới đầu, nhưng nhanh chóng nhếch nhác”. Thậm chí, đôi khi là sự bắt chước, đi theo một thứ “mốt”. Nhìn trên diện rộng, các tác phẩm hội họa ngoài giá vẽ vẫn thiếu một chiều sâu triết học, cụ thể hơn là triết học nghệ thuật. Ngay từ khởi đầu, các sinh viên mỹ thuật tiếp cận hội họa phi giá vẽ theo kiểu “cuỡi ngựa xem hoa” thông qua bộ môn Lịch sử mỹ thuật chứ họ không được học một chương trình giảng dạy mỹ thuật đương đại riêng như ở các nước châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan…

Hiển nhiên, không ai sáng tác dựa trên lý thuyết nhưng nếu nghiên cứu lý thuyết một cách bài bản là nền móng cho việc “đi xa” trong con đường sáng tạo; qua đó, mỗi tác phẩm sẽ được “bảo hiểm” bởi nội lực văn hóa của nghệ sĩ. Tín hiệu đáng mừng gần đây là hai cuốn sách của Cynthia Freeland do Như Huy dịch là: Thế mà là nghệ thuật ư?, Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật cùng với các bài lẻ giới thiệu lý thuyết nghệ thuật đương đại là một nỗ lực để bắt kịp với tầm tư duy, nhận thức của mỹ thuật thế giới.

Tự do sáng tạo

Việc đòi hỏi nhà nước cấp tiền hỗ trợ cho các loại hình mỹ thuật đương đại là điều khó ở thời điểm hiện tại và điều này thực ra không cần thiết bởi hơn chục năm phát triển của hội họa ngoài giá vẽ phát triển bởi tiền cá nhân nghệ sĩ và của các tổ chức phi lợi nhuận trong và ngoài nước. Chẳng hạn, họa sĩ Ngô Lực không hề khá giả nhưng vẫn bỏ ra vài chục triệu cho dự án Vào chợ, Ra đường là minh chứng hùng hồn.

Trong tương lai, muốn hay không, các cơ quan quản lý phải có hàng loạt chính sách cụ thể với mỹ thuật đương đại nếu không muốn mỹ thuật Việt Nam “giẫm chân tại chỗ”. Những nỗ lực cá nhân của các nghệ sĩ như Như Huy, Ly Hoàng Ly, Ngô Lực, Trần Lương, Đào Anh Khánh… đương nhiên là đáng quý, nhưng để tạo bước đột phá trong nghệ thuật, hình thành một làn sóng mới cho hội họa phi giá vẽ là một khối lượng công việc khổng lồ nhiều khi vượt qua khả năng của các cá nhân. Những vấn đề về không quan trình diễn, việc giảng dạy trong nhà trường… đương nhiên thuộc về các nhà quản lý.

Trên hết, với các nghệ sĩ, điều họ cần là sự tự do trong việc thực hành các ý tưởng. Thái độ của của cấp quản lí hiện nay là không phản đối nhưng cũng không nhiệt tình ủng hộ, thỉnh thoảng lại răn đe với những tác phẩm bị cho là quá trớn như màn trình diễn nude Bay lên của nữ họa sĩ Lại Thị Diệu Hà tại Nhà sàn Đức hồi tháng 8 vừa qua. Khi mà các cấp quản lí chưa phân biệt giữa nude là cách biểu đạt nghệ thuật, giúp người xem thanh tẩy khác hoàn toàn với nude để giải trí, mang tính kích dâm thì chắc chưa thể kì vọng ở sự thay đổi được tư duy quản lý nghệ thuật. Điều này, đồng nghĩa với việc làm sao nghệ sĩ đa phương tiện có thể phản ảnh được các thực tế đang đè nặng lên cuộc sống và dự báo những nguy cơ xấu có khả năng xảy ra trong một tương lai không xa khi mà họ lại thuộc một hệ thống đào tạo cũ kĩ và được những quan chức mỹ thuật quản lý theo kiểu “bảo hoàng”

Tự do đó là yếu tố đầu tiên và sau cùng để nghệ thuật đích thực!

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 30 tháng 8, 2010

TỔ QUỐC TRÊN HẾT!

Chỉ cần học qua cấp 3, bất cứ người Việt Nam nào cũng thấu rõ hoàn cảnh khó khăn như nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa non trẻ ra đời cách đây 65 năm. Để giải quyết các vấn đề dân sinh cần rất nhiều tiền. Nhưng khi đó, ngân hàng Đông Dương đang bị Nhật chiếm chỉ còn hơn 1,2 triệu đồng Đông Dương mà non nửa (586 ngàn đồng) là tiền hào rách còn đồng tiền mới của Chính phủ vẫn chưa ra đời. Thế nên, việc đóng góp của người dân, đặc biệt là các nhà tư sản thực to lớn giúp Chính phủ “vô sản” vượt khó.

Không phải chờ đến khi nước nhà độc lập mà ngay khi Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh còn trong “bóng tối”, các nhà tư sản đã bí mật ủng hộ. Ngoài tấm lòng yêu nước, đa phần tầng lớp tư sản Việt Nam từ khi ra đời đều bất mãn với chính sách khai thác thuộc địa của Pháp và sau này là Nhật. Các chính sách kinh tế của thực dân đã kìm hãm sự phát triển của tư sản Việt Nam nên trước năm 1945 các doanh nghiệp chỉ ở mức vừa và nhỏ chiếm 1% tổng số vốn và chỉ sử dụng 9% số lao động trong công nghiệp. Thiểu số là vậy nhưng nếu phải thống kê đầy đủ những cái tên và đóng góp của các nhà tư sản cho Chính phủ thời kỳ lập nước cộng hòa phải là một cuốn sách dày dặn của các nhà làm sử chuyên nghiệp.

Nói đến nhà tư sản yêu nước, một trong những người nổi tiếng còn lưu lại ngày nay là ông Đỗ Đình Thiện (1904-1972). Ông không phải là người đóng góp nhiều nhất trong Tuần lễ vàng và Quỹ Độc lập nhưng lại là người đóng góp tất cả những gì làm ra cho cách mạng và sau năm 1954 là viên chức nhà nước nhưng không hề lấy lương.

Ông Thiện đi du học ở thành phố Toulouse đã gia nhập Đảng cộng sản Pháp và sau đó bị trục xuất vì tội rải truyền đơn vào năm 1932. Cho nên, không khó để cắt nghĩa hành động vào tháng 8-1943, ông đưa 3 vạn đồng Đông Dương cho người phụ trách tài chính Đảng là Nguyễn Lương Bằng khi trong tay chỉ có 24 đồng. Cũng trong năm 1943, ông còn đưa cho ông Nguyễn Tạo (sau này là Phó Chủ nhiệm Ủy ban nông nghiệp trung ương) 2 vạn đồng.

Theo sắc lệnh số 4 ngày 4-9-1945 do chủ tịch Hồ Chí Minh kí đã cử ông bà Đỗ Đình Thiện “làm phụ trách Quỹ trung ương ở Hà Nội” trong Tuần lễ vàng. Để có thể vận động những bạn làm ăn ủng hộ cách mạng, bản thân ông bà Thiện đã làm gương khi ủng hộ 10 vạn đồng (trị giá 4 kg vàng) vào Quỹ Độc lập và 100 lạng vàng vào Tuần lễ vàng. Đặc biệt, ông Thiện còn bỏ ra 1 triệu đồng bức tranh vẽ Bác vào ngày 23-9-1945 rồi sau đó tặng lại cho Thành phố Hà Nội để rước chân dung Bác biểu dương lực lượng cách mạng.

Năm 1946, trước nhu cầu in tiền, ông Thiện bỏ tiền mua nhà in Taupin (nay là số 5 Lê Duẩn-Hà Nội) tặng cho chính phủ. Khi quân Pháp chiếm lại Hà Nội, nhà máy in tiền chuyển về đồn điền Chi-nê mà ông Thiện mua từ năm 1943 với giá 2 ngàn lượng vàng từ tỉ phú Pháp Bô-ren. Chính đồn điền này sản xuất 200 tấn thóc đã nuôi đoàn quân chiến khu II mùa 1946-1947. Ngày 24-2-1947, sau khi đồn điền bị ném bom, ông bà Thiện giao lại đồn điền cho Đảng quản lí còn hai ông ba lên chiến khu làm việc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem gia đình ông như người nhà bởi chính sự đóng góp vô tư của ông Thiện. Khi ông đau ốm rồi qua đời, những người đứng đầu Đảng và nhà nước luôn đến thăm viếng.

Nhưng không phải trường hợp nhà tư sản có đóng góp cho cách mạng như ông Thiện cũng được công nhận bởi những lí do khách quan. Nhờ sự giới thiệu của anh Trần Kiến Quốc (con tướng Trần Tử Bình) mà đại tá Nguyễn Duy Thành đã đồng ý kể câu chuyện về người cha là ông Nguyễn Duy Thân (1917-1952) và những câu chuyện liên quan đến nhà các nhà tư sản ủng hộ cho cách mạng chưa được chứng nhận.

Trước khi bị bị đi tù Sơn La vào năm 1941, ông Thân-vốn sinh ra trong gia đình buôn bán đã bí mật vận động nhiều nhà tư sản ủng hộ cách mạng. Đến khi Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền ở Hà Nội, ông được cử làm 1 trong 5 ủy viên Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội. Ông thuyết phục những người quen như cụ Tam Kỳ, cụ Hương Sang, ông thủ bạ Tuân… hiến tiền và tài sản cho chính quyền non trẻ. Trong đó, trường hợp vận động thành công nhất người họ hàng cùng quê Đình Bảng (Bắc Ninh) là cụ Tam Kỳ (tên thật là Nguyễn Hữu Nhâm). Có lần, để tránh mật thám Pháp theo dõi, ông Nhân phải rút tấm sét 10 vạn đồng Đông Dương cho người em tham gia cách mạng, đợi rút tiền xong, ông mới đăng báo kêu mất tấm séc. Hòa bình lập lại, ông Nguyễn Hữu Nhâm đã đứng ra huy động giới thương nhân Hà Nội mua lại nhà máy Da Thụy Khuê với giá 2 triệu đồng tiền Đông Dương. Sau này, ông Nhâm đã được nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, Bằng gia đình có công với nước.

Người chứng nhận công với nước cho ông Nhâm không phải là ông Thân bởi ông Thân đã mất đột ngột khi học ở Trung Quốc năm 1952. Vì thế, nhiều người ủng hộ bí mật cho cách mạng thông qua ông Thân đều không có người chứng nhận. Một chuyện lạ kì khác là bản thân ông Thân là Đại biểu quốc hội khóa I nhưng ông không có một giấy chứng nhận có công với nước vì vợ của ông là bà Phan Thị Sang (1919-2010) cũng là Đại biểu quốc hội khóa I không muốn làm hồ sơ để xin công nhận cho chồng! Theo sự lí giải của Đại tá Nguyễn Duy Thành vì cụ bà không muốn mang tiếng là “công thần”.

Trong những ngày màu thu cách mạng, có những người đóng góp thầm lặng cho sự độc lập của nước nhà những mãi tới hơn nửa thế kỷ sau mới được công nhận. Đó là trường hợp của vợ chồng ông Nguyễn Dực và bà Lê Thị Tý.

Ông Nguyễn Dực (1921-2000) vốn là con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Trước năm 1945, ông là chủ cửa hàng Nguyễn Dực Radio ở 43 Hàng Bài. Dù giàu sang nhưng ông vẫn tự nguyện tham gia cách mạng và đóng góp số tài sản cá nhân rất lớn thời bấy giờ là các thiết bị âm thanh hiện đại nhất thời mua từ Kong Kong, Singapore. Ngày 17- 8, mít-tinh tại Nhà hát Lớn, không chỉ Nguyễn Dực làm công việc phụ trách âm thanh mà người vợ ông Dực là bà Lê Thị Tý đang có mang 7 tháng chính là chủ nhân của lá cờ đỏ sao vàng lớn nhất cho buổi lễ (34,5 m2).

Ngày 25-8-1945, ông Dực là người đầu tiên đọc trước micro câu: “Đây là Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam. Phát thanh từ Hà Nội, trên làn sóng điện 41 mét”. Đó là thời khắc đánh dấu sự ra đời của Đài Tiếng nói Việt Nam.

Đến ngày 2-9-1945, ông Nguyễn Dực chịu trách nhiệm phụ trách âm thanh cho buổi lễ Độc Lập. Ông chuẩn bị 3 micro để đề phòng có bất trắc trong đó chiếc micro ở giữa 4 mặt hiệu Phillips là cái micro tốt nhất. Thật may là nó đã hoạt động tốt. Để âm thanh truyền xa, ông Dực sử dụng một lượng dây điện rất lớn kéo dài từ vườn hoa Ba Đình đến nhà thờ Cửa Bắc và vườn hoa Lê-nin bây giờ.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Nguyễn Dực đem tài sản riêng đóng góp xây dựng Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Ông sống lặng lẽ đến cuối đời; cho đến năm 1996, nhân một bài báo trên tờ Người cao tuổi, các cơ quan chức năng mới biết đến những việc làm của ông Dức hồi năm 1945. Năm sau, ông được công nhận cán bộ tiền khởi nghĩa.

Ba câu chuyện với những hoàn cảnh và sự đóng góp khác nhau của các nhà tư sản yêu nước chắc đã đủ để phác qua tinh thần của một lớp người bỏ qua quyền lợi và no ấm của cá nhân để đặt lợi ích của Tổ Quốc lên trên hết.

HÀM ĐAN

HÀNH TRÌNH QUỐC CA VIỆT NAM

(Sau khi kiểm duyệt, kết luận: Bài quá nhạy cảm nên không được lên báo!:))

Nhiều bạn trẻ sinh trong thời bình, hẳn sẽ lấy làm ngạc nhiên nếu biết tác giả quốc ca Tiếng gọi công dân của Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975) lại là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước-một nhạc sĩ trọn đời đi theo lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Sự trớ trêu này không lỗi của riêng ai mà chẳng qua là hệ quả những nối tiếp các biến động chính trị ở Việt Nam trong suốt thế kỷ XX dẫn đến sự ra đời của nhiều chính quyền dẫn đến tình trạng trong một vùng lãnh thổ có nhiều bản quốc ca.

Nước Việt tiền hiện đại dưới sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa cũng sử dụng âm nhạc là một phần thiết yếu của lễ giáo nhà nước. Buổi lễ quan trọng nhất được của các vương triều phong kiến cử hành là lễ tế Nam Giao. Ở đó, vua làm chủ tế làm lễ tế trời-biểu trưng chúa tể vạn vật. Thời Nguyễn, bản nhạc Đăng đàn cung được dùng cho lễ tế Nam Giao. Ngoài ra, bản nhạc cũng được dùng cho các đám rước trang trọng khác. Đăng đàn cung mang tính biểu trưng trong nghệ thuật thanh sắc Việt Nam thể hiện trước hết ở nghuyên lý đối xứng, hài hòa: không có nhịp lẻ mà chỉ có nhịp chẵn (2, 4 phách); từng câu nhạc cũng chia thành các ô chẵn một cách cân đối. Điều này tạo cho bản nhạc đều đặn, trang nghiêm khó được người hiện đại quen nghe nhạc phi cung thể tiếp nhận. Đăng đàn cung vốn không lời, thường được phường bát âm cử tấu với chủ âm từ tiếng kèn và sáo trúc theo đúng mô hình âm nhạc thời Đại Việt. Sau này, bản nhạc được đặt lời với ca từ tính hài hòa nói về sự cân bằng theo thuyết thiên mệnh: “Kìa là núi vàng bể bạc. Có sách trời, sách trời định phận…”. Đăng đàn cung được một số người Việt xem như nhạc mang tính quốc gia. Tuy nhiên, bài hát vốn mang đậm văn hóa Trung Hoa rút cục bị lãng quên như bao nhiêu nét văn hóa truyền thống phong kiến Việt Nam để nhường chỗ một thể loại nhạc phương Tây, đó là hành khúc.

Nếu nói thể loại nhạc phương Tây ảnh hưởng tới âm nhạc Việt Nam hiện đại nhiều nhất chắc chắn phải là hành khúc. Hành khúc là đoạn nhạc có nhịp đều mạnh vốn được sử dụng nhiều nhất ở các ban nhạc quân đội lúc diễu binh. Hành khúc có thể viết trên nhiều loại nhịp khác nhau nhưng phổ biến nhất là nhịp 4/4 và 2/2.

Tiếp xúc với âm nhạc của thế giới phương Tây, thế hệ “ông Tây An Nam” lẽ dĩ nhiên cảm thấy ấn tượng với các ca khúc với nhịp quân hành mạnh mẽ như La Marseillaise (Bài ca những người Marseille), La chanson du départ (Bài hát lên đường)... Những nhà cách mạng cảm thấy khí thế hào hùng sực sôi toát ra từ những bản hành khúc thúc giục họ nổi dậy chống ngoại bang. Vào năm 1930, những bài hát cách mạng như bài Rot Front (Mặt trận đỏ) của Đức, bài Bandiera rossa (Bài ca cờ đỏ) của Ý và kể cả bài La Marseillaise đã được đặt lời Việt.

Sự sáng tạo hành khúc Việt chỉ ra đời từ nhóm sinh viên miền Nam ra học ở Viện đại học Đông Dương gồm: người viết nhạc Lưu Hữu Phước và hai bạn soạn lời là Mai Văn Bộ và Nguyễn Thành Nguyên. Nghe những tin tức về Khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ khởi nghĩa đều trong năm 1940, “bộ ba” liền sáng tác chung bài Quốc dân hành khúc (La Marche des Étudiants) với lời tiếng Pháp của Mai Văn Bộ. Quốc dân hành khúc chịu ảnh hưởng từ các đặc điểm phong cách và giai điệu với La Marseillaise-hình mẫu của hành khúc châu Âu. Dương Đức Hiền-Chủ tịch Tổng hội sinh viên gợi ý “bộ ba” viết lời ca mới để thành bài hát chính thức cho sinh viên. Năm 1942, lời mới chính là bài hát Tiếng gọi sinh viên trở thành bài hát chính thức của Viện đại học Đông Dương và phổ biến khắp Việt Nam như một tiếng gọi yêu nước đối với lớp thanh niên.

2 năm sau, Văn Cao-nhạc sĩ mới 21 tuổi đã nổi danh với các ca khúc lãng mạn như: Trương Chi, Bến xuân, Buồn tàn thu, Thiên thai… đã âm thầm sáng tác bài hát cho Việt Minh trên căn gác số 45 Nguyễn Thượng Hiền (Hà Nội) trong bối cảnh đồng bào của ông đang chết đói đầy đường. Khi ấy, Văn Cao không biết rõ lực lượng Việt Minh. Văn Cao chỉ chủ ý viết một bài hát giản dị sao cho những người lính Việt Minh có thể hát được. Văn Cao viết trên sự tưởng tượng cho cả đoàn quân và cho cả đất nước tương lai. Tiến quân ca của Văn Cao không khác La Marseillaise với những khung cảnh, hình ảnh của lá cờ pha máu, trở thành tiếng gọi cho nhân dân tập hợp thành quân đội với tinh thần yêu nước. Tiến quân ca nhanh chóng trở thành bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh. Ngày 18-8-1945, tại Hội nghị ở Tân Trào, Việt Minh là tuyên bố Tiến quân ca là quốc ca.

Trước đó một ngày, tại cuộc mít tinh trước Nhà hát Lớn Hà Nội, lễ kéo cờ triều đình và trình bày bài Đăng đàn cung diễn ra. Vài phút sau, những đội viên Việt Minh đã đã phất cờ đỏ sao vàng từ ban công nhà hát và kéo hạ cờ triều đình và chiếm lấy diễn đàn cùng micro. Những người Việt Minh khác đứng trong đám đông khán giả tổ chức hát hai bài Tiến quân ca và Diệt Phát xít.

9 ngày sau, một đoàn người Việt Nam gồm ban nhạc lính tập hợp trước doanh trại nơi đoàn đại biểu của quân đồng minh. Ban nhạc cử lần lượt quốc ca các nước đồng minh và cuối cùng là quốc ca của chính quyền mới. Theo lời kể của nhân viên OSS (tiền thân của CIA) là đại tá Archimedes Patti, chỉ huy quân đội Việt Minh là Võ Nguyên Giáp có mặt nói với ông rằng: “Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam lá cờ của chúng tôi được trưng trong một buổi lễ quốc tế và quốc ca của chúng tôi được chơi vì sự kính trọng đối với một vị khách nước ngoài. Tôi sẽ nhớ mãi giây phút này”.

Cùng thời gian này, Đảng Đại Việt và Quốc Dân đảng hợp nhất với nhau và vào tháng Mười Một 1945 đã quyết định lấy bài hát Việt Nam minh châu trời đông của Hùng Lân là bài đảng ca. Nhưng sự thắng thế của Việt Minh đã đưa Tiến quân ca trở thành Quốc ca vào ngày 8-11-1946. Trước đó vài tháng, một nhóm địa chủ và doanh nhân người Việt ở miền Nam thân Pháp thành lập Nam Kỳ Cộng Hoà Quốc. Một đoạn lời dịch trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn từ thế kỷ 18 làm quốc ca.

Ngày 6-6-1948, với sự trợ giúp của Pháp, Nguyễn Văn Xuân và Bảo Đại thành lập một chính phủ lâm thời. Cố vấn Nguyễn Tôn Hoàn-bạn đồng môn y khoa với Lưu Hữu Phước đề xuất dùng Thanh niên hành khúc với việc thay từ “công dân” cho từ “thanh niên”. Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước phản đối trên tờ Văn nghệ số 3 (6&7-1948) việc “chính phủ bù nhìn” dùng nhạc phẩm của ông để “buôn dân bán nước”. Năm 1956, Quốc hội Việt Nam cộng hòa đã tổ chức một cuộc thi nhằm tuyển chọn một quốc ca mới bởi vì tác giả bản quốc ca hiện tại đứng về phe Cộng sản. 30 bài hát đã được gửi đến cuộc thi nhưng bài ca của Lưu Hữu Phước vẫn là quốc ca của miền Nam Việt Nam cho đến năm 1975.

Sự phức tạp chưa dùng ở đây. Trước khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã được đề nghị viết một bài hát về một cuộc cách mạng miền Nam. Bài hát Giải phóng miền Nam được diễn lần đầu trong một buổi phát thanh trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam tháng 12-1960. Việc giữ bí mật được tuân thủ tuyệt đối đến nỗi Lưu Hữu Phước phải lấy bút danh ghi là Huỳnh Minh Siêng. Bài hát đã được gửi vào Nam ngày 19-12-1960 và nhanh chóng được công nhận đây là bài hát chính thức của Mặt trận. 9 năm sau, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam lấy bài Giải phóng miền Nam làm quốc ca của chính phủ mới.

Hai bản quốc ca tồn tại lâu nhất ở trong thế kỷ XX đã bị sửa ca từ nhiều lần. Riêng bài Tiếng gọi công dân gần 10 lần sửa, có lần không rõ người sửa là ai! Bài Tiến quân ca sửa căn bản vào tháng 9-1955. Như câu thứ bảy “Thề phanh thây uống máu quân thù” (bản năm 1944) được đổi thành “Vì nhân dân chiến đấu không sờn” để tránh hiểu lầm không đáng có về bản chất quân đội cách mạng.

Sau khi thống nhất đất nước, trên trang nhất báo Nhân dân (3-7-1976) in bài Tiến quân ca không đề tên tác giả đi cùng Nghị quyết số 5 công bố quốc ca của nước có tên mới Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là bài Tiến quân ca. Nhưng vào năm 1980, điều 144 của Hiến pháp ghi: “Quốc ca nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Quốc hội thông qua”. Thế nên, số báo Nhân dân (28-4-1981) thông báo cuộc thi chọn quốc ca mới. Từ 19-5 đến 19-12-1981, ban tổ chức đã nhận được 1420 tác phẩm của 1181 tác giả. 74 tác phẩm được chọn qua vòng một. Sau vòng hai, chỉ còn 17 bài hát và được hoà âm, dàn dựng, thu âm ở ba dạng: đơn ca, tác phẩm nhạc không lời và đồng ca.

Sau khi 17 bài hát được chọn vào chung khảo được truyền đi khắp Việt Nam, một vòng tuyển chọn thu hẹp lại lấy 5 bài để Quốc hội bầu chọn. Từ lúc này, không có thêm đề cập nào về cuộc thi chọn quốc ca mới trên báo chí. Và cuối cùng vào năm 1992, điều 143 Hiến pháp đã phê chuẩn: “Quốc ca của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài “Tiến quân ca”.

HÀM ĐAN

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2010

LỜI ĐÁP CỦA NỮ GIỚI

Năm 1975, một kênh truyền hình Pháp đề nghị các nhà làm phim nữ làm một bộ phim 7 phút để trả lời cho câu hỏi: “Qu’est ce qu’ être femmes?” (Làm thế nào nhận biết sự hiện hữu của phụ nữ?). Ngay lập tức, nữ đạo diễn Agnès Varda (sinh năm 1928) liền thực hiện bộ phim ngắn Réponse de femmes: Notre corps, notre sexe (Lời đáp của nữ giới: Thân thể chúng tôi, giới tính chúng tôi) như để chinh phục một cách nghệ thuật “đề bài” hóc búa đã cho sẵn. Đó cũng là mục tiêu của chuỗi phim “Điện ảnh nữ” của chương trình VIDEO ART VIDEO của trung tâm DOCLAB tại Viện Goethe Hà Nội (58 Nguyễn Thái Học, Hà Nội) muốn truyền tải cho những người đang và sẽ thực hiện phim nghệ thuật tại Việt Nam.

Về mục đích, với dung lượng chưa đến 10 phút, bộ phim Lời đáp của nữ giới: Thân thể chúng tôi, giới tính chúng tôi khá giống như một đoạn phim quảng cáo đồ điện tử hoặc một đoạn phim tuyên truyền kiểu như kêu gọi người đời không nên hút thuốc lá. Đi tìm một hình thức biểu đạt thích hợp để “nhấn” những dấu hiệu chứng tỏ sự hiện hữu của giới nữ không phải là dễ. Cần lưu ý rằng: Quãng thời gian thập niên 1970, dư âm của cuộc cách mạng tình dục tháng 5-1968 vẫn còn tồn tại, phong trào nữ quyền đòi sự bình đẳng giữa nam và nữ lan khắp phương Tây nên rất dễ khiến đạo diễn rơi “cạm bẫy” là “ngoa dụ” về quyền năng phái nữ bằng một khẩu khí độc thoại, lên lớp và rao giảng. Đó là điều tối kị trong kiểu “phim tuyên truyền”. Đạo diễn Agnès Varda đã tỏ ra “cao tay” khi trả lời câu hỏi triết lí bằng những thủ pháp hiện đại và mới mẻ so với nghệ thuật điện ảnh những năm 1970.

Đầu tiên các nhân vật trong phim không phải là diễn viên chuyên nghiệp mà chỉ là người phụ nữ bình thường. Máy quay thường đặt cố định để những người phụ nữ trả lời trực tiếp trước ống kính khiến bộ phim đạt đến sự tự nhiên và tối giản. Tuy vẫn là phim có đóng diễn nhưng thoáng xem có cảm tưởng đây là phim tài liệu không đóng diễn khi những phụ nữ bình thường tự nói về 2 điểm khu biệt phụ nữ với đàn ông: thân thể và giới tính. Chính hai tiêu điểm này là mạch chính của bộ phim nối kết với các hình ảnh phi tuyến tính của một bộ phim không có cốt truyện và nhân vật chính từ sự phát triển thể chất và tâm sinh lí của phụ nữ theo thời gian.

Triết lí bộ phim được đẩy cao bởi những lời thoại đề thẳng trực tiếp đến sự bất công trong nhận thức xã hội dành cho phụ nữ bằng ví dụ từ đời sống vừa quen vừa lạ nhưng có sức lay động lớn. Chẳng hạn, một phụ nữ cho rằng việc lấy cơ thể phụ nữ so sánh với sự vững chải của bàn ghế trong một áp phích quảng cáo là một hành vi khiếm nhã, không văn minh. Tính trực tiếp cũng được triệt để khai thác với phương châm “chỉ vào trực tiếp sự vật” bằng những khung hình cận cảnh trực tiếp vào cơ thể phụ nữ nude để làm nổi bật vấn đề cơ thể và giới tính. Phong cách làm phim này khiến các nhà phê bình xếp Agnès Varda vào bậc tiền phong của trường phái Làn sóng mới Pháp cũng với các nhà làm phim và nhà văn đổi mới như Alain Resnais, Chris Marker, Marguerite Duras, Alain Robbe-Grillet…

Đổi mới về hình thức triệt để nhưng đạo diễn không quên nhiệm vụ đòi sự bình đẳng của phụ nữ khi để chính những người đàn ông-những người từ xưa đến nay bằng mọi cách định-nghĩa-phụ-nữ như cách lập thuyết của nhà nữ quyền Pháp Simone de Beauvoir (1908-1986) đã thay đổi nhận thức: “Cần phải thay đổi lại từ đầu”. Vậy là, một thể loại phim tưởng chừng như công thức và khuôn sáo lại được phát huy hiệu quả biểu đạt bằng một nghệ thuật điện ảnh bậc thầy. Bài học cho những người làm phim trẻ và khán giả Việt Nam là không có đề tài nào là không thể làm thực hiện và mọi chất liệu đều có hể trở thành nội dung có tính nghệ thuật nếu như có tài năng sáng tạo của những người sản xuất.

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 16 tháng 8, 2010

NỖI NIỀM CON RỂ NHÀ VĂN VŨ TRỌNG PHỤNG

Đến thăm Khu tưởng niệm và mộ phần nhà văn Vũ Trọng Phụng phải vượt qua đoạn đường Láng ngày đêm người qua như mắc cửi. Sau vài phút luồn lách trong những ngõ hẹp vốn là đường làng Mọc xưa, hẳn nhiều khách tham quan không ngờ lại lọt vào một không gian thanh vắng đến mức cô tịch.

Khuôn viên rộng hơn 200 mét vuông quả là yên nghỉ lí tưởng của nhà văn quá cố; nhưng nơi đây là nơi sinh sống của con rể và các cháu chắt của văn sĩ họ Vũ. Ông Nghiêm Xuân Sơn-con rể nhà văn cho hay: “Đặt mộ ông cụ trong vườn nhà là tôi học theo người Nam Bộ đấy. Ở miền Bắc, chẳng ai làm thế”. Không chỉ vượt qua sự kiêng kị tập quán, ông Sơn thậm chí đã từng phải vượt qua sự dị nghị người thân để lo cho người bố vợ ông chưa từng gặp lúc sinh thời. Người ngoài văn giới chỉ cần nhìn những hiện vật phong phú liên quan của đến tác giả Số đỏ đã đủ cảm nhận tình cảm của ông Sơn vượt trên quan hệ thông thường của con rể đối với bố vợ.

Dễ cũng đến hơn 2 năm không gặp ông Sơn, trông ông có vẻ yếu; quả là thời gian chẳng tha một ai, thoắt cái ông Sơn sắp sang tuổi 75. Nhưng mọi sự mệt mỏi của thể xác dường như biến mất, ông trở nên sôi nổi, hoạt bát hẳn lên khi nói về người bố vợ thiên tài. Ông hơi buồn khi cho biết: Chẳng rõ Khu tưởng niệm có được công nhận là Di tích lịch sử-văn hóa trước ngày Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội hay không? Đây không phải là lần đầu ông mong mỏi việc chứng nhận Khu tưởng niệm thành là di tích; nhân dịp Đại lễ, ông Sơn lại đưa ra đề nghị một lần nữa, lập tức được dư luận ủng hộ. Lâu nay, các nhà nghiên cứu văn học trong và ngoài nước đã đánh giá Vũ Trọng Phụng là nhà văn số một sáng tác trên chất liệu là đời sống và con người Hà thành trước năm 1945. Chính quyền địa phương, Hội nhà văn Việt Nam đã gửi văn bản tới các cơ quan chức năng để sớm công nhận Khu tưởng niệm. Gia đình nhà văn chỉ xin chứng nhận, đất đai cùng mọi cơ sở vật chất gia đình vốn lâu nay đã tự lo lấy không nhờ vả tới nhà nước. Dẫu không hài lòng về sự chậm trễ nhưng ông Sơn vẫn đề nghị nếu có khó khăn thì gia đình sẽ giúp bởi chỉ một khi được công nhận là Di tích lịch sử-văn hóa đồng nghĩa với việc không ai có quyền xâm phạm vào nơi yên nghỉ của nhà văn.



Ông Sơn luôn lo sợ công sức lâu nay sẽ uổng hoài bởi những người không hiểu biết hoặc không tha thiết với di sản văn hóa. Ông Sơn nhắc lại những câu chuyện không vui về những Khu tưởng niệm của các văn sĩ nổi tiếng trở nên tiêu điều do người thân ở xa không có điều kiện chăm lo. Ông cũng sợ bi kịch nhà cụ Vương Hồng Sển trong thành phố Hồ Chí Minh bị hư hại sau khi giao cho cơ quan thiếu trách nhiệm. Theo ông Sơn, tốt nhất Khu tưởng niệm vẫn để gia đình quản lí như vậy mới có điều kiện bảo vệ và phát triển. Ông cũng nhắc lại việc kiên quyết từ chối không để Khu tưởng niệm trở thành điểm du lịch thu tiền.

Kinh phí đầu tư cho Khu tưởng niệm lâu nay vẫn lấy ở nhuận bút tái bản tác phẩm của nhà văn. Ông Sơn tiết lộ kế hoạch xuất bản lại Toàn tập Vũ Trọng Phụng với sự bổ sung phần chưa chính xác hoặc còn thiếu từ những bản gốc mới được các nhà văn bản học phát hiện. Đó là một trong nhiều việc làm tới đây liên quan đến Khu di tích. Như để chứng minh cho lời nói của mình, ông Sơn dẫn khách tới gian trưng bày mới tạm gọi là “Vũ Trọng Phụng với hôm nay” để đặt những cuốn sách, những bức ảnh mới nhất liên quan đến khu di tích. Ông say sưa kể về lai lịch từng bức ảnh như một hướng dẫn viên mới vào nghề. Những người khác cũng mải mê trong những di sản của kí ức mà quên mất tuổi đời của người con rể nhà văn Vũ Trọng Phụng…

HÀM ĐAN