Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

CÙNG BÀN LUẬN (VIII): XÂY DỰNG QUY CHẾ CHẨN ĐOÁN VÀ CHỮA BỆNH TỪ XA

Trong phiên họp thứ 6 Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 13 mới đây, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến trả lời chất vấn cho biết: Phấn đấu đến 2015, việc giải quyết tình trạng quá tải bệnh viện sẽ có bước tiến rõ nét. Trong khi chờ lời hứa từ Bộ Y tế trở thành sự thực, một hy vọng góp phần làm giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên được mở ra khi Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Sở Y tế TP Hồ Chí Minh chính thức vận hành hệ thống chẩn đoán và chữa bệnh từ xa.

Hệ thống chẩn đoán và chữa bệnh từ xa được triển khai dựa trên thiết bị MCU (thiết bị hỗ trợ điều khiển hội nghị truyền hình đa điểm) và sử dụng đường truyền MegaWan của mạng MetroNet TP Hồ Chí Minh. Hiện tại, hệ thống này được lắp đặt tại 3 bệnh viện tuyến hỗ trợ gồm: Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Nhi Đồng 1, Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình. Các bệnh viện này sẽ hỗ trợ chuyên môn cho các tuyến cơ sở gồm: Bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi (TP Hồ Chí Minh), Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, Bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiểu (Bến Tre), Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang, Bệnh viện đa khoa Kiên Giang.

Trước đây, ở nhiều bệnh viện tuyến trên mới chỉ có hình thức chẩn đoán bệnh từ xa thông qua điện thoại nhưng hiệu quả không cao. Nay, thông qua hệ thống, các bác sĩ tuyến trên có thể xem trực tiếp hình ảnh của bệnh nhân để tư vấn, đưa ra hướng giải quyết chính xác. Điển hình cho hiệu quả hệ thống là Bệnh viện Nhi Đồng 1 đã giúp Bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiểu cứu sống một ca mắc bệnh tay chân miệng độ 4 không kịp chuyển lên bệnh viện tuyến trên.

Không chỉ giúp các bác sĩ tuyến cơ sở yêu cầu được tư vấn, hỗ trợ khi gặp bất cứ ca bệnh khó, vượt quá khả năng chuyên môn mà hệ thống cũng có thể sử dụng trong huấn luyện, đào tạo theo định kỳ hoặc đột xuất cho các đơn vị tuyến dưới để phục vụ tốt hơn bệnh nhân ở cơ sở. Qua đó, góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên tại TP Hồ Chí Minh khi mà hiện tại khoảng 30 đến 50% bệnh nhân điều trị nội trú là từ tỉnh khác chuyển lên.

Trong thời gian tới, hệ thống sẽ tiếp tục hoàn chỉnh và mở rộng, có thể nâng số bệnh viện hỗ trợ lên 11 và số tuyến nhận hỗ trợ lên 100 tuyến. Lợi ích hệ thống chẩn đoán và chữa bệnh từ xa đã rõ và có thể nhân rộng cả nước; tuy nhiên các cơ quan chức năng vẫn chưa xây dựng được cơ sở pháp lý quy định quyền lợi cũng như trách nhiệm của các bên liên quan. Người bệnh với những đặc tính sinh học vốn thay đổi nên khó đảm bảo tất cả các ca chẩn đoán, chữa bênh từ xa đều thành công mỹ mãn. Một ca mổ ở tuyến dưới, các bác sĩ ở tuyến trên nhìn qua màn hình chỉ đạo, nếu chuyện không may xảy ra thì trách nhiệm thuộc về ai? Vậy nên, song song với mở rộng hệ thống, các bên liên quan cần sớm xây dựng quy chế để trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt nhằm vận hành hệ thống hiệu quả nhất. 

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

ĐỌC "VỊ TƯ LỆNH CHIẾN TRƯỜNG TRƯỜNG SƠN-ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH"


Trong số các cuộc chiến tranh ở thế kỷ XX, chưa hề có một tuyến chi viện chiến lược từ hậu phương đến tiền tuyến có quy mô lớn và kéo dài dưới mưa bom bão đạn như tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh. Không chỉ có nhân dân ta tự hào về đường Hồ Chí Minh huyền thoại, mà nhiều nhà nghiên cứu chiến tranh Việt Nam trên thế giới còn cho rằng: Quân đội Mỹ thất bại tại Việt Nam có nguyên nhân lớn là do không thể ngăn chặn “mạch máu” chi viện liên tục của miền Bắc xã hội chủ nghĩa cho tiến tuyến lớn miền Nam thông qua đường Hồ Chí Minh.

Nhưng chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, khoảng thời gian đó, một thế hệ người Việt Nam trưởng thành và nhiều người trong số đó chưa thật hiểu rõ về tầm vóc to lớn và hiệu quả mà con đường huyền thoại đóng góp cho ngày toàn thắng của dân tộc. Việc Nhà xuất bản Quân đội nhân dân vừa mới tái bản cuốn sách “Vị Tư lệnh chiến trường Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh” của Đại tá Phan Hữu Đại (Nguyên Chính ủy Sư đoàn ô tô cơ động vận tải 571) thêm một lần nữa muốn bạn đọc hôm nay, nhất là thế hệ trẻ hiểu thêm về ý nghĩa lịch sử của đường Hồ Chí Minh và hình dùng được biết bao mồ hôi và xương máu của thế hệ cha anh đã đổ xuống trên con đường mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Tác phẩm mang nhan đề “Vị Tư lệnh chiến trường Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh” tức nói về Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Tư lệnh Đoàn 559-một vị tướng tài ba, trí tuệ và bản lĩnh đã có công đầu chỉ huy bộ đội các binh chủng hợp thành đánh thắng kẻ thù, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện sức người, sức của cho miền Nam; nhưng đồng thời cũng mô tả theo chiều sâu cuộc chiến đấu của bộ đội Trường Sơn cùng một mảng lớn về nghệ thuật quân sự được vận dụng một cách sáng tạo trên chiến trường Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh mà tác giả Phan Hữu Đại đã thể hiện một cách phong phú và sinh động. Đặc biệt, thông qua phần III cuốn sách “Tỏa sáng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Trường Sơn” được chia làm 9 phần nhỏ khiến người đọc dễ hình dung về quá trình hình thành và phát triển của đường Hồ Chí Minh, cách thức tổ chức binh lực và cách quân và dân ta đánh thắng sự phá hoại tuyến đường của đế quốc Mỹ.

          Cuốn sách chỉ dày hơn 200 trang nhưng với tư cách một người trong cuộc, Đại tá Phan Hữu Đại đã có điều kiện khái quát những công lao to lớn của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên gắn với đường Trường Sơn huyền thoại trong việc xây dựng nên một nền nghệ thuật vận tải chiến lược quân sự, góp phần quan trọng vào nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tuy không phải là người nghiên cứu lịch sử hay nghệ thuật quân sự chuyên nghiệp nhưng tác giả cũng đã đưa ra những nhận xét chuẩn xác trên những tư liệu thực chứng.

Thiết nghĩ, những vấn đề được đề cập trong cuốn sách này có thể đem lại kinh nghiệm quý báu trong công cuộc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc; đồng thời giúp bạn đọc-những ai mong muốn hiểu biết về thân thế và sự nghiệp của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên-một vị tướng tiêu biểu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

LINH THIÊN


Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

TIẾNG VỌNG TỪ BỜ KIA THẾ GIỚI



Nhân sự kiện “Diễn đàn Văn học Việt-Mỹ: Nhìn lại và phát triển” do Hội Nhà văn Việt Nam và Trung tâm William Joiner (Đại học Massachusetts, Mỹ) tổ chức; mới đây, NXB Hội Nhà văn cũng vừa phát hành tập thơ Mỹ với nhan đề “Tiếng vọng từ bờ kia thế giới” gồm hơn 80 bài thơ của 11 tác giả. Vào năm 2004, tuyển tập thơ Mỹ “15 nhà thơ Mỹ thế kỷ XX” (NXB Hội Nhà văn) cũng đã gây được tiếng vang vì đã giới thiệu một cách có hệ thống những đỉnh cao thơ ca Mỹ trong thế kỷ XX. Lần nay, “Tiếng vọng từ bờ kia thế giới” mang giá trị khác bởi đây là tập thơ của các nhà thơ phần lớn là cựu binh Mỹ từng tham gia trong chiến tranh Việt Nam.

Với những cựu binh Mỹ tiến bộ, cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến phi nghĩa khiến những người trong cuộc bị ám ảnh tinh thần dai dẳng thường được gọi là “hội chứng chiến tranh Việt Nam”. Như một lẽ tất yếu, chiến tranh Việt Nam nhanh chóng trở thành một đề tài của văn học nghệ thuật ngay khi “mặt nạ” nhân nghĩa của giới cầm quyền của Mỹ bị lột trần. Với thơ ca, cuộc chiến Việt Nam hiện ra với tất cả sự khắc nghiệt thử thách không chỉ thể xác mà còn cả lương tâm con người:

“Cô bé bị đốt sau võng mạc của anh
Không gì có thể thay đổi được điều đó
Kể cả tình yêu nhân hậu của em
cả không khí mát lành sau mưa
cả rừng cỏ xanh đang mở ra trước mắt chúng ta
tất cả không thể chối bỏ được sự thật đó.”
(Bài thơ “Bài hát bom Na-pan” của Bruce Weigl)

Sau khi chiến tranh kết thúc, những nhà thơ-cựu chiến binh Mỹ yêu chuộng hòa bình kêu gọi Chính phủ Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Một số cựu binh còn thành lập Trung tâm William Joiner để làm cầu nối cho văn hóa và văn học hai nước. Song hành với quá trình giao lưu văn học Việt-Mỹ, thơ của các cựu binh Mỹ cũng có bước chuyển trong nội dung nhằm khám phá cuộc sống và tâm lý đất nước và con người từng ở bên kia chiến tuyến. Chỉ có thấu hiểu lẫn nhau mới có thể xây dựng lòng tin và thơ đã trở thành một “cầu nối” vượt qua những biên giới vô hình của sự hận thù như như những câu thơ đầy khắc khoải trong bài thơ “Chơi bóng rổ với Việt Cộng” của nhà thơ Kevin Bowen tặng nhà văn Nguyễn Quang Sáng:

“Giờ ông đến gõ cửa nhà ta
Gọi chúng ta ra sân chơi vài đường bóng rổ
Sau một hồi ông vụng về, bỡ ngỡ
Những đường bóng gọn gàng tới đích đẹp làm sao
...
Ông nhìn chúng ta mỉm cười
Đó là món quà để con người hạ súng”

Sau những chuyến đi trở lại Việt Nam, những cựu binh Mỹ đã cảm nhận sâu hơn về tính nhân bản của dân tộc Việt Nam-một dân tộc sẵn sàng khép lại quá khứ để hướng tới tương lai. Nhờ đó, những câu thơ của những cựu binh Mỹ trở nên thú vị nhờ cái nhìn từ bên ngoài đã phát hiện nhiều chi tiết bất ngờ ra trong cuộc sống hậu chiến:

“Câu chuyện về sự ra đời của đứa con đầu lòng:
Anh đã trèo tường bệnh viện để ngó xem vợ.
Anh kể đã tràn ngập niềm vui khi nhìn thấy con không bị tật nguyền
Anh đi được nửa đường về mới nhận ra chưa hỏi xem đứa trẻ là trai hay gái.”
(Bài thơ “Bài ca Dioxin” của Kevin Bowen)

          Đọc tập thơ của những nhà thơ từ bờ kia thế giới khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ nhưng nội dung các bài thơ lại quy về một thông điệp của tình bạn giữa người với người như nhà thơ Hữu Thỉnh (Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam) đã viết trong lời giới thiệu: “Họ đã đem đến cho chúng ta tình bạn, bằng thơ, bằng mọi hoạt động xã hội nhiều khi vượt ra khỏi khuôn khổ tư duy cũ kỹ và trịch thượng ngự trị lâu đời trên đất nước họ”.

HÀM ĐAN



Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

THỜI ĐÀM (XX): HỖ TRỢ XUẤT KHẨU VĂN CHƯƠNG VIỆT

Mấy năm qua, việc dịch văn học nước ngoài sang tiếng Việt đã có bước phát triển vượt bậc. Ngoài các loại sách best-seller, nhiều kiệt tác văn chương thế giới như: “Nếu một đêm đông có người lữ khách” của I. Calvino, “Lolita” của V. Nabokov… cũng đã đến với độc giả Việt Nam. “Dịch xuôi” đã ổn nhưng ở chiều “dịch ngược”-tức dịch các tác phẩm Việt Nam ra nước ngoài không có tiến triển nào đáng ghi nhận. Dù đã có Hội nghị Quốc tế giới thiệu Văn học Việt Nam ra nước ngoài cách đây đã 2 năm, chuyện xuất khẩu văn chương Việt vẫn nằm trên giấy. Giống như tình trạng “Cha chung không ai khóc”, người trong giới văn chương ai cũng đau đáu chuyện xuất ngoại văn chương Việt nhưng không có một cơ quan nào chỉ huy công việc “dịch ngược”; hệ quả là chẳng ai làm công việc nói trên!

Tưởng chừng việc “dịch ngược” còn lâu mới tìm thấy lối ra thì bất ngờ Công ty TNHH Văn hóa và Truyền thông Lệ Chi (nhãn hiệu sách Chibooks) của dịch giả Nguyễn Lệ Chi đã ký hợp đồng làm đại diện cho 10 nhà văn đương đại là: Phan Hồn Nhiên, Trần Thu Trang, Cấn Vân Khánh, Bùi Anh Tấn, Vũ Đình Giang, Dương Bình Nguyên, Hồ Anh Thái, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Ngọc Tiến, Nguyễn Đình Tú, với 40 tác phẩm để chào bán ra nước ngoài trong vòng từ 8 đến 10 năm. Chibooks cũng sẽ đầu tư cho việc quảng bá thông tin và PR cho các tác giả tại nhiều quốc gia; ngược lại, Chibooks  nhận 10% giá trị hợp đồng bán bản quyền của mỗi tác phẩm. Trong năm 2012, Chibooks sẽ đi tham dự các Hội chợ sách quốc tế để chào bán bản quyền như: Hội chợ bản quyền sách Kuala Lumpur (Ma-lai-xi-a), Hội chợ sách quốc tế Bắc Kinh (Trung Quốc)… 

Khác với kiểu xuất khẩu hữu nghị do quan hệ cá nhân của các nhà văn đối với các NXB nước ngoài hoặc vì sự yêu thích của các dịch giả nước ngoài đối với tác phẩm văn học Việt Nam, dự án của Chibooks mang tính thương mại nên cần phải chiến lược bài bản mới có thể thành công. Được biết, công việc đầu tiên của Chibooks là dịch tóm tắt tác phẩm hoặc thậm chí dịch một chương đầu ra tiếng Anh, tiếng Trung… Và xây dựng cho mỗi tác giả, mỗi tác phẩm một hồ sơ riêng đầy đủ thông tin về sức ảnh hưởng trong xã hội, những bài báo đã đăng về tác giả hoặc tác phẩm… Công việc đầu tiên tưởng chừng chỉ là chuyện nhỏ lại hết sức quan trọng vì hầu như văn học Việt Nam không có tiếng vang nào với bạn bè quốc tế. Thế mới có chuyện, trong lần giao lưu văn học ở Hà Nội, giới văn chương Thủ đô ngạc nhiên tột bậc vì được một nhà Việt Nam học người Pháp cho biết danh tính một cuốn tiểu thuyết “thường thường bậc trung” lại được xem là tác phẩm văn học lớn của Việt Nam, trong khi nhiều tác phẩm có giá trị hơn lại không hề được biết tới.

Triển vọng của dự án xuất khẩu văn chương Việt có thể xem là khả quan vì Chibooks là đơn vị hiểu rõ các khâu mua bán bản quyền với các đối tác nước ngoài. Mặt khác, 40 tác phẩm mà Chibooks xuất khẩu ra nước ngoài đa phần đều đề cập đến cuộc sống và con người Việt Nam đương đại mới mẻ. Đất nước Việt Nam thường chỉ được biết đến thông qua chiến tranh Việt Nam nổi tiếng, còn một nước Việt Nam đang vươn lên mạnh mẽ trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì chắc chắn không nhiều người nước ngoài biết rõ. Cho nên, các tác phẩm sẽ đáp ứng thói chuộng lạ (exotisme) của độc giả nước ngoài. Vô hình trung dự án cũng sẽ quảng bá hình ảnh đất nước hiệu quả, trong bối cảnh các loại hình văn hóa khác như điện ảnh hay âm nhạc chưa đủ tầm vượt ra ngoài biên giới hình chữ S.

Dự án xuất khẩu văn chương Việt là một nỗ lực đơn độc của một đơn vị tư nhân; thiết nghĩ, các cơ quan chức năng có thể hỗ trợ dự án như các nước khác vẫn đang thực hiện. Ví dụ như ở Hung-ga-ry có Quỹ sách Hung-ga-ry là một trung tâm thông tin văn học và hỗ trợ xuất bản được Bộ Văn hóa Hung-ga-ry thành lập. Quỹ này ngoài hỗ trợ các NXB của Hung-ga-ry còn trợ giúp tài chính cho các NXB nước ngoài muốn dịch và phát hành tác phẩm văn học Hung-ga-ry. Quỹ từng hỗ trợ tài chính để tiểu thuyết nổi tiếng “Không số phận” của nhà văn Hung-ga-ry Kertész Imre (Nobel Văn học 2002) xuất bản sang tiếng Việt năm 2010. Việt Nam đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa tại nước ngoài để quảng bá hình ảnh đất nước, vậy tại sao một dự án có nhiều lợi ích thiết thực như dự án xuất khẩu văn chương Việt lại chưa được hỗ trợ?
HOÀNG BÌNH PHƯƠNG      

Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012

FRANZ KAFKA, THIÊN TÀI ĐƠN GIẢN



Giới nghiên cứu văn học đều xem nhà văn Pháp Marcel Proust (1871-1922), nhà văn Ai-len James Joyce (1882-1941) và nhà văn Séc Franz Kafka (1883-1924) là “tam vị” thiên tài cách tân văn xuôi thế giới trong thế kỷ XX. Marcel Proust và James Joyce thường chỉ được một số ít người đọc yêu thích do lối viết của hai ông quá khó đọc; ngược lại, các tác phẩm của Franz Kafka rất dễ đọc và dễ hiểu.

F. Kafka là người gốc Do thái sinh ra tại TP Pra-ha (thời bấy giờ thuộc Đế quốc Áo-Hung) trong một gia đình thượng lưu. F. Kafka thông thạo tiếng Séc nhưng ông chỉ viết văn bằng tiếng Đức nên nhiều người vẫn xem ông là “vị vua được ngầm tôn vinh của văn xuôi Đức”, dù Cộng hòa Séc hiện nay xem ông là đại văn hào của đất nước và đặt một giải thưởng văn chương danh giá nhất mang tên Franz Kafka.

F. Kafka bẩm sinh cực kì thông minh, hơn 20 tuổi đã đỗ tiến sĩ luật nhưng ông chọn làm công chức bình thường để có thời gian viết văn. Sự nhập cuộc của Franz Kafka vào sinh hoạt văn chương cũng hạn chế, thậm chí trước khi chết vì bệnh lao ông còn nhờ người bạn thân Max Brod đốt hết các bản thảo. Thật may, Max Brod đã không theo lời dặn dò; nhờ đó, người đọc sau này mới khám phá một thiên tài văn chương nhạy cảm đến mức bệnh hoạn.

Những công trình về tiểu sử F. Kafka thường nhấn mạnh đến hai yếu tố ảnh hưởng đến sự nghiệp của ông là nguồn gốc Do thái-dân tộc tha hương và chấn thương tâm lý thủa bé do sống cùng người cha hà khắc. Quả thật, đọc các tác phẩm của Kafka, dễ dàng nhận thấy những ẩn dụ bắt đầu từ hai yếu tố nói trên. Chẳng hạn, nhân viên đo đạc K.trong tiểu thuyết “Lâu đài” (Trương Đăng Dung dịch, NXB Văn học, 1998) được mời đến lâu đài để làm việc nhưng anh không thể vào được lâu đài như một đứa bé bị bỏ rơi, bị ngầm trừng phạt vô cớ. Ngay cả các tên nhân vật như K., Josef K., Samsa (biến âm Kafka) cũng mang tính quy chiếu đến bi kịch cá nhân của F. Kafka.  
          F. Kafka khiến người ta kinh ngạc vì dường như ông tiên đoán được tương lai. Trong tiểu thuyết “Vụ án” (Phùng Văn Tửu dịch, NXB Văn hóa Thông tin, 2002), vào một buổi sáng, hai người mặc đồ đen đến nhà Josef K. tuyên bố anh ta có tội mà không hề giải thích và gần 1 năm sau giết Josef K. một cách thản nhiên. Cốt truyện này dường như tiên đoán được sự kết án vô cớ và giết hại thường dân vô tội của Đức quốc xã sau này. Thật ra, F. Kafka không có tài tiên tri mà chẳng qua ông nhìn thấu được sự tan rã các mối liên kết cuộc sống xã hội tiền hiện đại. Ông nhận ra xã hội hiện đại sẽ trở nên vô tình do kỹ thuật hoá và quan liêu hoá. 
Tất nhiên, F. Kafka là một nhà văn nên ông thể hiện các thông điệp thông qua hình tượng và hình ảnh chứ không bằng khái niệm, các mô hình nghiên cứu như nhà khoa học nhân văn. Để diễn đạt thế giới hiện đại vô tình, ông sáng tạo ra tình trạng con người lạc vào mê cung bị chi phối bởi thiết chế đầy quyền lực và bí ẩn thông qua hình tượng lâu tài, tòa án... Nhờ sự trừu tượng hóa nhân vật (nhân vật bị mất danh tính, tiểu sử chỉ còn lại tên gọi là ký hiệu như K.) và xóa nhòa tính cụ thể không gian và thời gian (không biết câu chuyện xảy ra thời điểm nào, ở địa danh nào cụ thể) nên các tác phẩm của F. Kafka có tính phổ quát cao, mang tính điển hình hơn hẳn chủ nghĩa hiện thực đang thống trị văn chương đương thời.

Vị thế độc nhất vô nhị của F. Kafka trong văn chương được định danh vì ông được xem là nhà văn đầu tiên sử dụng tính phi lý là đối tượng nhận thức khách quan ẩn đằng sau đời sống bề ngoài hợp lý. Cuộc cách mạng văn chương của Kafka còn thông qua lối viết đặc biệt thường được gọi là “lối viết độ không” đầy dửng dưng, khách quan đến mức lạnh lùng vô cùng thích hợp với nội dung về cái phi lý.

Bề ngoài truyện của Kafka có vẻ hoàn toàn bình thường thậm chí nếu đọc lướt có thể xem là nhạt nhẽo do ông vẫn giữ toàn bộ cấu trúc truyền thống của giao tiếp ngôn ngữ với tính mạch lạc và logic cú pháp nhưng ông đã đưa vào tính phi logic, tính rời rạc và phi lý của nội dung. Hiệu quả đặc biệt lối viết kiểu F. Kafka là tất cả đều rõ ràng, không có gì khó hiểu ngoài một biến cố thường ở đầu truyện. Ví dụ, trong truyện vừa kinh điển “Hóa thân” (Tuyển tập Franz Kafka, NXB Hội Nhà văn, 2003), ngay câu đầu tiên là một sự cố biến dạng: “Một buổi sáng tỉnh giấc băn khoăn, Gregor Samsa nằm trên giường thấy mình biến thành một con côn trùng khổng lồ”. Điều lạ lùng nằm ở điểm dù trong hình hài con bọ nhưng tâm tính G. Samsa vẫn là con người và anh ta dần thích nghi với hình hài con bọ như chưa hề có sự cố hóa thân. Khác với motif người hóa thành động vật trong truyện cổ tích (người hóa thành động vật sau đó lại thành người như truyện “Tấm Cám” của Việt Nam), con bọ-người G. Samsa chỉ có thể có kết cục là cái chết để giải thoát do không thể trở lại thành người, nghĩa là cái phi lý biến thành cái bình thường hàng ngày. Và như vậy, F. Kafka cũng phần nào ngầm phê phán sự tha hóa bản tính tốt đẹp của con người dưới tác động của hoàn cảnh. Sự phi logic và sự phi lý bắt đầu khi con người tỉnh giấc, đó được xem là “chìa khóa” để hiểu kỹ xảo thiên tài đơn giản đến không ngờ của F. Kafka.    

          Những tư tưởng và thủ pháp độc đáo của F. Kafka ảnh hưởng lớn đến hầu hết các nhà văn trong thế kỷ XX và cả ở các loại hình nghệ thuật khác sử dụng yếu tố huyền thoại và huyễn tưởng. Vì vậy, thực ra chiều kích F. Kafka vượt khỏi phạm vi văn chương để ông là một trong những người mở đường cho nghệ thuật hiện đại.

          HÀM ĐAN

Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2012

CÙNG BÀN LUẬN (VII): NỖ LỰC ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH


Dù chưa phải mùa cao điểm du lịch nhưng mỗi ngày TP Hội An (tỉnh Quảng Nam) vẫn đón hàng nghìn khách ghé thăm, chủ yếu là khách nước ngoài. Du khách du lịch Hội An không chỉ du ngoạn phố cổ, thưởng thức ẩm thực, ngắm đèn lồng hoa đăng rực rỡ trong mỗi đêm rằm, mà còn được trải nghiệm trong một hình thức du lịch hoàn toàn mới: “Một ngày làm nông dân phố cổ”. Bỏ ra khoản phí từ 3 đến 5 triệu đồng, các du khách phương xa sẽ đội nón lá, mặc áo nhà nông trực tiếp xắn quần lội ruộng cày cấy, trồng rau và tham gia các hoạt động xay lúa, giã gạo, làm bánh… như một người nông dân Việt Nam đích thực. Hiệu quả bước đầu của hình thức du lịch trên là tích cực khi những du khách nước ngoài đều tỏ ra thích thú được tập làm nông dân Việt Nam chỉ trong vài giờ ngắn ngủi.

Lợi ích tour du lịch này là tăng thời gian lưu trú của khách du lịch, trực tiếp làm gia tăng giá trị nguồn thu. Tour du lịch này còn có điểm độc đáo khi bản thân toàn bộ cộng đồng người dân bản địa được tham gia làm du lịch; giúp cư dân vừa bảo lưu truyền thống văn hóa, vừa chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đặc biệt hơn, thông qua tour du lịch bản thân Hội An nói riêng và ngành du lịch Việt Nam nói chung có thể giới thiệu rộng rãi nền văn minh lúa nước đã có lịch sử hàng ngàn năm.

Hình thức du lịch mang tính cộng đồng, giúp du khách dễ dàng hòa mình vào các hoạt động như người bản địa đã có từ lâu trên thế giới. Ngay ở một số nước Đông Nam Á như In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a, vài năm trước, đã hình thành những khu du lịch sinh thái mà thực chất là những làng xóm chuyên canh lúa nước. Câu hỏi được đặt ra là vì sao nước ta có truyền thống trồng lúa nước lại đi sau ở hình thức du lịch này? Câu trả lời là các địa phương ở nước ta chưa nhận thức được tầm quan trọng của các loại hình thức du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái để nỗ lực đưa các hình thức du lịch mới vào khai thác. Tình trạng chung trong hoạt động du lịch của đa số các địa phương ở nước ta vẫn dừng lại ở việc “ăn sẵn” vào các di sản vật thể hoặc cảnh quan tự nhiên-xem đây là thứ “vốn” duy nhất để phát triển du lịch.

Được biết, tour du lịch “Một ngày làm nông dân phố cổ” ở TP Hội An là do chàng thanh niên Trần Văn Khoa (Giám đốc Công ty TNHH lữ hành Khoa Trần Hội An Eco-Tour) thực hiện. Tour du lịch tưởng chừng có vẻ đơn giản này để đi vào thực tế không hề dễ dàng. Dự án của Khoa sẽ không thực hiện được nếu chính quyền Hội An không có tầm nhìn xa, quyết giữ lại các khoảng xanh và đồng ruộng để phục vụ du lịch bền vững. Có thể xem, việc đưa hình thức du lịch “Một ngày làm nông dân phố cổ” đã chứng minh TP Hội An là một trong những địa phương đi đầu trong việc đa dạng sản phẩm du lịch, biết kết hợp hài hòa giữa lợi thế sở hữu di sản thiên nhiên thế giới phố cổ Hội An với nét văn hóa bản địa độc đáo.

Kinh nghiệm từ tour du lịch “Một ngày làm nông dân phố cổ” ở TP Hội An có thể áp dụng ở bất cứ nơi đâu trên đất nước ta vì mỗi địa phương đều có nét văn hóa và cách thức sinh hoạt riêng. Vấn đề là những người làm du lịch ở từng địa phương có thực sự thay đổi nhận thức, quyết tâm đa dạng hóa sản phẩm du lịch để hướng tới một nền du lịch bền vững hay không?

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

RYUNOSUKE AKUTAGAWA, NGƯỜI CHA CỦA TRUYỆN NGẮN NHẬT BẢN

 (Tuyển tập truyện R. Akutagawa, Vũ Minh Thiều dịch, NXB Gió Bốn Phương, Sài Gòn, 1967)
Trong thời trị vì của Thiên hoàng Minh Trị (1867-1912), Nhật Bản đã tiến hành công cuộc hiện đại hóa một cách mạnh mẽ để trở thành một đế quốc. Với tư tưởng “thoát Á nhập Âu”, đời sống văn hóa tinh thần nói chung và văn học nói riêng ở xứ sở mặt trời mọc bước sang thời hiện đại một cách mau lẹ. Sau thời gian đầu làm quen, mô phỏng văn học phương Tây, bước sang những năm đầu thế kỷ XX, văn học Nhật Bản bắt đầu có những sáng tạo kết tinh. Một trong những cái tên nổi bật, đặt nền móng cho văn học hiện đại Nhật Bản là nhà văn Ryunosuke Akutagawa (1892-1927). Tuy cuộc đời ngắn ngủi nhưng R.Akutagawa đã để lại những truyện ngắn được liệt vào hàng kiệt tác, đưa ông đến danh xưng "Người cha của truyện ngắn Nhật Bản".       
    Ở đất nước có truyền thống văn chương duy mỹ và duy cảm như Nhật Bản, hoàn cảnh cuộc sống thường xuyên có tác động hữu hình tới con người sáng tạo của nhà văn. Thế giới nghệ thuật u buồn và bi quan của R.Akutagawa có lẽ xuất phát việc sớm nếm trải những bi kịch cuộc đời. Khi ông 1 tuổi, bà mẹ phát bệnh điên và ông về làm con nuôi ông cậu là nhà văn Michiaki Akutagawa. Thời niên thiếu của R.Akutagawa khá êm ấm, ông được học hành đàng hoàng và học rất giỏi. Ông tỏ ra có khiếu văn chương từ nhỏ, 7 tuổi đã biết làm thơ Haiku. Tới những năm tuổi 20, ông học văn chương Anh tại Đại học Đế quốc Tokyo và bắt đầu nghiền ngẫm các tác phẩm của các nhà văn phương Tây như: Anatole France, Henri Bergson, August Strindberg… Đây cũng là giai đoạn ông viết những truyện ngắn đầu tay trong sáng, giàu chất thơ như truyện ngắn “Nước dòng sông Cái”. 
Khoảng thời gian từ năm 1916 đến 1925, bút lực của R.Akutagawa tỏ ra sung mãn và chín muồi với hàng loạt truyện ngắn xuất sắc. Song, sức khỏe của ông suy giảm rõ rệt với đủ thứ bệnh về thần kinh, tim và tiêu hóa. Năm 1927, người anh vợ của R.Akutagawa tự sát sau khi đốt nhà để lại món nợ lớn khiến ông phải gắng sức thanh toán. Bế tắc trong đời sống cộng với cạn cảm hứng sáng tạo, đêm 24-7-1927, ông uống thuốc ngủ tự tử. 
Sau khi qua đời, tên tuổi của R.Akutagawa mới trở nên nổi tiếng thông qua bộ phim “Rashomon” (Cổng Rasho) của “Hoàng đế điện ảnh Nhật Bản” Akira Kurosawa (1910-1998). Năm 1951, bộ phim “Rashomon” chuyển thể từ truyện ngắn “Trong rừng trúc” (tên gọi khác là “Bốn bề bờ bụi”) của R.Akutagawa đã giành được Giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice (I-ta-li-a) và giải Oscar đặc biệt (tương đương giải Oscar “Phim nước ngoài xuất sắc nhất” hiện nay). Giới phê bình phương Tây mới phát hiện ra bậc thầy truyện ngắn Nhật Bản ngang tầm với những cây bút truyện ngắn cự phách xuất thân từ châu Âu.
    Người Việt Nam biết đến R.Akutagawa cũng thông qua phim “Rashomon” chiếu ở Hà Nội ngay sau khi giải phóng Thủ đô (1954). Từ thập niên 1960 đến nay, các truyện ngắn của R.Akutagawa được dịch rải rác. Mới nhất là tuyển tập truyện ngắn của R.Akutagawa có nhan đề “Trinh tiết” (Nhiều người dịch, NXB Văn học&Alphabooks, 2006); tuyển tập này đáng đọc hơn cả vì được dịch từ nguyên bản tiếng Nhật, và nhiều truyện ngắn chưa từng dịch ra tiếng Việt trước đó.
    Di sản văn chương độc đáo của R.Akutagawa thể hiện qua hai chặng đường sáng tạo riêng biệt. Trong giai đoạn đầu, R.Akutagawa mượn nội dung của các truyện cổ trong nước và nước ngoài làm nền tảng cho các truyện ngắn. Như trong truyện ngắn “Sợi tơ nhện”, R.Akutagawa đã mượn cốt truyện từ một truyện cổ Ấn Độ, nhưng ông đã sáng tạo rất nhiều khi miêu tả đối lập cảnh giữa Địa Ngục và cõi Niết Bàn vô cùng sinh động. Mặt khác, ông sắp xếp diễn biến câu chuyện một cách tinh tế khiến truyện ngắn giàu kịch tính, tạo căng thẳng cho người đọc suốt cả truyện ngắn. Sáng tác thời kỳ đầu của R.Akutagawa mang tính chất hiện thực mà sự đa dạng về nội dung của các truyện ngắn lớn hơn bất cứ tác phẩm của nhà văn nào cùng thời với ông, phản ánh sự nhạy cảm nội tâm và chiều sâu tri thức của một người am hiểu sâu sắc văn chương Nhật Bản truyền thống và văn học Trung Hoa cổ điển. Những sáng tác của R.Akutagawa trải rộng đề tài trên rất nhiều bình diện xã hội mang tính dụ ngôn sâu sắc.
    Thời kỳ sáng tác thứ hai của R.Akutagawa có sự đổi mới về hình thức kể chuyện triệt để. Tuy cốt truyện không có gì mới lạ nhưng cách kể chuyện của ông ảnh hưởng từ cách kể chuyện đa dạng của văn học phương Tây khiến sự cách tân đi rất xa so với các truyện ngắn Nhật Bản đương thời. Truyện ngắn tiêu biểu nhất cho thời kỳ sáng tác thứ hai của R.Akutagawa là truyện ngắn “Trong rừng trúc”. Truyện ngắn xoay quanh cái chết của một người đàn ông. Những lời khai của các nhân vật liên quan gồm: Người tiều phu, nhà sư, tên cướp, người vợ và người đàn ông-người chồng đã chết thông qua người hầu đồng...; không hề giống nhau khiến quan tòa đang xét xử vụ án-hay đúng ra là chính người đọc hoang mang không hiểu đâu là nguyên nhân dẫn đến cái chết của người chồng. Tư tưởng của truyện ngắn là sự hoài nghi tuyệt đối của R.Akutagawa về cái gọi là sự thật. Sự thật có lẽ không tồn tại mà chỉ hiện hữu qua khúc xạ tâm lý mỗi nhân vật. Chính cấu trúc phân mảnh và lắp ghép của truyện “Trong rừng trúc” đã ảnh hưởng rất lớn đến nghệ thuật tự sự hiện đại thông qua một loạt các tác phẩm lớn là tiểu thuyết “Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa” của Đới Tư Kiệt hay bộ phim “Anh hùng” của đạo diễn Trương Nghệ Mưu...
   Ngày nay, những thành tựu nghệ thuật của R.Akutagawa không còn quá xa lạ; nhưng tinh thần tiền phong trong sáng tạo của R.Akutagawa vẫn mãi là niềm tự hào của văn chương Nhật Bản thời hiện đại.

      HÀM ĐAN

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2012

OSCAR 2012: TRỞ LẠI GIÁ TRỊ CỔ ĐIỂN

Không có bất ngờ

Sáng 27-2 theo giờ Việt Nam, tâm điểm của giới truyền thông đổ dồn về Nhà hát Kodak ở Los Angeles (Mỹ) nơi diễn ra Lễ trao giải Oscar lần thứ 84. Lễ trao giải Oscar năm nay không có nhiều đổi mới, có chăng là các màn xen giữa các phần trao giải phong phú hơn. Người dẫn chương trình là “cố nhân” Billy Crystal-từng 8 lần đảm nhận M.C cho Oscar, đỡ “nhạt” hơn hẳn cặp dẫn chương trình gượng năm ngoái là James Franco và Anne Hathaway.

Điều quan trọng trong mỗi mùa Oscar vẫn là chất lượng các bộ phim. Năm nay, chỉ có 9 phim được đề cử thay cho con số 10 ở hạng mục Phim hay nhất, khiến nhiều người vội kết luận chất lượng các bộ phim Oscar 2012 kém đi. Nhưng nếu theo dõi kỹ, dễ dàng nhận ra rất hiếm có mùa Oscar nào quy tụ nhiều phim hay như Oscar 2012. Chất lượng các bộ phim đồng đều đến mức, có ít nhất 3 đến 4 phim hoàn toàn xứng đáng được vinh danh, thay vì cuộc đua “song mã” như các năm trước.

Oscar 2012 vắng bóng các bộ phim “bom tấn” thay vào đó các bộ phim đều tập trung vào đời tư thế sự, cố gắng khai thác tối đa trình độ diễn xuất của diễn viên và tư tưởng của bộ phim muốn gửi gắm. Nổi bật nhất là bộ phim Pháp The artist (Nghệ sĩ), bộ phim câm đen trắng quay lại với thời kỳ sơ khai của điện ảnh với lối diễn xuất sử dụng ngôn ngữ hình thể tinh tế.

Ở các cuộc đua tiền Oscar như: Quả cầu vàng, Cesar (Pháp), BAFTA (Anh)…, Nghệ sĩ đều tỏ ra “vô đối”. Ở Cannes 2011, Nghệ sĩ đã thất bại trên sân nhà trước kiệt tác điện ảnh của Mỹ The tree of life (Cây đời). Tại Oscar 2012, Nghệ sĩ đã trở nợ sòng phẳng khi cùng phim Hugo đoạt nhiều giải nhất (5 giải), trong đó có ba giải quan trọng là: Phim hay nhất, Nam diễn viên chính xuất sắc nhấtĐạo diễn xuất sắc nhất. Lý do Cây đời trắng tay tại Oscar năm nay là vì bộ phim này cần nhiều thời gian để nghiền ngẫm, nằm ngoài truyền thống của Oscar là vinh danh những bộ phim đơn giản mà sâu sắc.

Những hạng mục còn lại đều không có bất ngờ, Nghệ sĩ sẽ không là Phim hay nhất nếu không có sự diễn xuất xuất thần của tài tử Jean Dujardin. Tương tự, linh hồn bộ phim The iron lady (Bà đầm thép) là huyền thoại Meryl Streep, thủ vai cựu nữ Thủ tướng Anh Margaret Thatcher. Với kinh nghiệm hơn 30 năm trong nghề, Meryl Streep xứng đáng giành giải Oscar cho hạng mục Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất vì đã thể hiện nhiều tính cách trong một con người ở nhiều thời điểm khác nhau, đặc biệt khi cựu Thủ tướng về già sống lủi thủi trong căn nhà với những kỷ niệm.

Dù còn nhiều nuối tiếc cho những tên tuổi tay trắng rời cuộc như đạo diễn Steven Spielberg, Terrence Malick; các diễn viên George Clooney, Brad Pitt, Bérénice Bejo…; tựu chung, Oscar năm nay đã làm hài lòng được số đông công chúng vì đã trao những tượng vàng cho những bộ phim và diễn viên gây được cảm tình cho người xem suốt thời gian qua.

Thay đổi khuynh hướng

Các bộ phim Oscar 2012 đã thay đổi khuynh hướng khi trở lại những giá trị cổ điển của nghệ thuật thứ bảy đó là: sức mạnh biểu cảm hình ảnh, kết cấu đơn giản nhưng đa nghĩa. Sự trở lại này đạt được hiệu quả tích cực không ngờ, khán giả sau thời gian mãn nhãn với các phim “bom tấn” đơn nghĩa, được xem những bộ phim mới lạ mà thân quen như lâu ngày xem lại một bộ phim kinh điển.

Trong hầu hết các bộ phim, các nhân vật chính đều rơi vào tình cảnh bi đát, nhưng cuối cùng nhờ sự nỗ lực của bản thân và giúp đỡ của người xung quanh, cuộc sống của các nhân vật trở lại tươi sáng. Như trong phim Nghệ sĩ, George Valentin là nam diễn viên phim câm đang ở đỉnh cao thì phim có tiếng đột ngột ra đời và anh trở thành người thừa. Nhưng cuối cùng với sự giúp đỡ của nữ diễn viên Peppy Miller-người được anh dìu dắt ở thủa hàn vi; George Valentin tái xuất trên màn ảnh.

Nhưng để đoạt giải Oscar Phim hay nhất đánh bại 8 bộ phim còn lại, Nghệ sĩ phải sử dụng thêm cách biểu đạt độc đáo. Bề ngoài mượn hình thức phim câm, Nghệ sĩ lại đạt được hiệu quả tương tự các bộ phim tâm lý thời hiện đại nhờ tiết tấu phim rất nhanh, nội dung ngồn ngộn kịch tính. Tài năng của những nhà sản xuất là tối giản hóa ý nghĩa hành động nhân vật nên dù phim câm, khán giả cũng có thể hiểu được diễn biến câu chuyện.

Không chỉ riêng Nghệ sĩ, các bộ phim dự Oscar thoạt xem có vẻ đơn giản trong nội dung nhưng cách kể câu chuyện không dễ dãi. Tiêu biểu nhất là phim The help (Người giúp việc) kể về câu chuyện của cô nhà báo da trắng tiếp cận người giúp việc da đen Aibileen Clark và những nữ giúp việc da đen khác, để ghi lại vui buồn nghề giúp việc. Cấu trúc của phim tưởng chừng là cấu trúc đóng khi bắt đầu và kết thúc xoay quanh một cuốn sách về những người giúp việc da đen. Nhưng cuối phim lại gợi mở việc nhân vật Aibileen Clark viết một cuốn sách để thực hiện tiếp ước mơ về người con trai đã chết là trong gia đình sẽ có một người trở thành nhà văn. Rút cuộc, kết cấu phim là mở; và không rõ ai là người kể lại câu chuyện trong phim từ đầu đến cuối. Bộ phim lại phải hiểu khác đi, có thể phim là câu chuyện của một nhà văn xuất thân từ nghề giúp việc.

Dư âm của Oscar 2012 không phải sự hoành tráng các cảnh quay, kỹ xảo cách tân; nhưng với nội dung thấm đẫm tính nhân văn sâu sắc nên sẽ gây ám ảnh người xem lâu dài. Đặc biệt là thông điệp mà các nhà làm phim muốn chuyển tải là kêu gọi con người đoàn kết, không đầu hàng thực tại để bắt tay xây dựng tương lai tốt đẹp hơn như lời thoại của nhân vật Scarlett OHara trong bộ phim kinh điển Cuốn theo chiều gió: “Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới”.

BOX:

Một số giải thưởng khác của Oscar 2012: Nữ diễn viên phụ: Octavia Spencer (Người giúp việc), Nam diễn viên phụ: Christopher Plummer (Những người tập sự), Phim hoạt hình: Rango, Quay phim: Hugo, Chỉ đạo nghệ thuật: Hugo, Kịch bản gốc: Nửa đêm ở Paris, Kịch bản chuyển thể: Những người thừa kế, Phục trang: Nghệ sĩ, Hóa trang: Bà đầm thép, Phim nói tiếng nước ngoài: Sự chia ly (I-ran), Dựng phim: Cô gái có hình xăm rồng, Dựng âm: Hugo, Hòa âm: Hugo, Hiệu ứng hình ảnh: Hugo…

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 22 tháng 2, 2012

MARCEL PROUST, NGƯỜI CHIẾN THẮNG THỜI GIAN

("Dưới bóng những cô gái tuổi hoa"-tập II "Đi tìm thời gian đã mất", NXB Văn học in lần đầu 1992)
Đã 90 năm kể từ khi văn hào Pháp Marcel Proust (1871-1922) đi vào cõi vĩnh hằng; và cũng chỉ còn một năm nữa là tròn một thế kỷ, tập đầu tiên mang tên “Về phía nhà Swann” (1913) trong bộ tiểu thuyết bảy tập “Đi tìm thời gian đã mất” được xuất bản, mọi lời tuyên bố về một tiểu thuyết có thể tạo được cuộc cách mạng văn chương tương tự chỉ còn là những lời lẽ huênh hoang.

Thực ra, tiểu thuyết Pháp sau thời M. Proust cũng đã có những cách tân, như phong trào “Tiểu thuyết Mới” nhưng vẫn chưa đạt đến mức khiến các nhà văn đi sau không ngừng khiếp sợ và tự hiểu phải đi tìm một con đường sáng tạo khác. M. Proust đích thị là một “bóng ma” lởn vởn trong văn chương suốt thế kỷ XX!

Nhưng nếu biết về tiểu sử của M. Proust và dành thời gian nghiền ngẫm kiệt tác “Đi tìm thời gian đã mất”, những người viết sẽ không còn cảm giác “ngợp”, M. Proust sẽ như một “người bạn” đồng hành trong quá trình sáng tạo chông gai mà thú vị.

M. Proust đã giúp nhiều người trả lời câu hỏi đầu tiên: “Vì sao lại muốn viết văn?”, bằng bộ tiểu thuyết “Đi tìm thời gian đã mất” đồ sộ 3000 trang co chữ 8. Kiệt tác của M. Proust chỉ là câu chuyện về thiên hướng viết văn của người kể chuyện từ lúc trẻ đến lúc trưởng thành, anh ta đã tìm lại được thiên đường quá khứ thông qua hành động viết. Như vậy, tiểu thuyết và rộng ra là văn chương là hoạt động thuần túy tinh thần phi vụ lợi. Ở ngoài đời thực, “người khổng lồ văn chương” M. Proust có thể chất vô cùng kém, suốt đời ông bị chứng hen suyễn hành hạ. Bệnh tật và ý thức cái chết thường trực đã khiến M. Proust cách ly hẳn với đời sống nhiều năm liền, viết liên tục suốt ngày đêm, M. Proust là một tấm gương “tử vì đạo”. Người ta có thể đặt giả thiết, nếu khỏe mạnh, M. Proust có thể chỉ xem văn chương là nghề tay trái để theo đuổi một nghề thời thượng hơn như bác sĩ, luật sư…; và gần như chắc chắn, M. Proust nhiều khả năng đã không thể cách tân tiểu thuyết đến mức gần làm “cạn kiệt” thể loại này. M. Proust cũng để lại bài học quý giá, đã là người sáng tạo nghĩa là không thỏa hiệp, cho dù tác phẩm có thể không được chào đón do quá mới lạ. Sinh thời, M. Proust đã tiên liệu “Đi tìm thời gian đã mất” phải cần đến nửa thế kỷ mới được đọc rộng rãi, nhưng không cần chờ lâu như vậy, ngay từ năm 1919, ông sống trong vinh quang khi giành được giải Goncourt-giải thưởng văn chương danh giá nhất nước Pháp cho tập hai “Dưới bóng những cô gái tuổi hoa” (Đây cũng là tập duy nhất trong “Đi tìm thời gian đã mất” được dịch sang tiếng Việt do Nguyễn Trọng Định dịch, NXB Văn học in lần đầu 1992, NXB Hội Nhà văn & Nhã Nam tái bản năm 2008). 

M. Proust cũng đã trực tiếp chứng minh: Một kiệt tác không nhất thiết phải liên quan đến một đề tài lớn. Khác với các tiểu thuyết thế kỷ XIX, trải suốt “Đi tìm thời gian đã mất”, M. Proust không đặt trọng tâm vào những sự kiện lớn của xã hội và cả biến cố hệ trọng của người kể chuyện trở thành cái cớ để làm thay đổi cốt truyện. Ví dụ nổi tiếng nhất là mẩu bánh madeleine: “Một lúc sau, lòng nặng trĩu vì đã qua một ngày buồn tẻ và trước viễn cảnh ngày hôm sau sẽ u ám, như một cái máy, tôi đưa lên một thìa nước chè trong đó tôi đã để mềm một mẩu bánh madeleine. Nhưng ngay đúng giây lát mà hớp nước lẫn với vụn bánh chạm vào miệng tôi, tôi bỗng rùng mình, cảm thấy một cái gì đó kỳ lạ đang diễn ra trong tôi. Một niềm vui thích tuyệt vời lan tỏa trong tôi, tách biệt, mà không gắn gì với khái niệm về một nguyên nhân nào cả. Niềm vui đó đột nhiên khiến mọi thăng trầm trong cuộc sống trở nên hoàn toàn không quan trọng, các tai họa chẳng còn ý nghĩa, và sự ngắn ngủi của cuộc đời trở nên hão huyền, giống như tác động của tình yêu, bằng cách khiến cho con người tôi tràn ngập một tính cách quý giá: hay nói đúng hơn, tính chất đó không phải ở trong tôi, nó chính là tôi. Tôi không còn cảm thấy mình tầm thường, vớ vẩn và dễ tiêu vong” (Trích “Về phía nhà Swann”). M. Proust chỉ nhờ sự việc tầm thường, toàn bộ ký ức đã quay trở lại với người kể chuyện. Sau M. Proust, không còn nhiều nhà văn ham hố đi xây dựng tiểu thuyết “biên niên sử” như trong “Tấn trò đời” của H. de Balzac (1799-1850) hay là một dòng họ trong “Gia đình Rougon-Macquart” của E. Zola (1840-1902).

Chất liệu trong “Đi tìm thời gian đã mất” chỉ quanh quẩn trong giới thượng lưu Paris thời hoa lệ đầu thế kỷ XX, M. Proust đã bị nhiều nhà văn lớn chỉ trích vì thiếu “dấn thân” và sự bé mọn của ý nghĩa; thực ra, M. Proust đã thực hành một điều quan trọng: Chỉ nên viết những gì thông thuộc nhất với cuộc đời mình. M. Proust sinh ra trong một gia đình thượng lưu, tuổi trẻ của ông gắn bó với xã hội thượng lưu như một lẽ tự nhiên ông sử dụng chất liệu xã hội thượng lưu làm chất liệu cho tác phẩm. M. Proust đã đẩy đến cùng cái viết về một chất liệu vi mô nên ông đã gặp cái vĩ mô. Ông đã phân tích chi ly các lề thói xã hội thượng lưu đến mức miêu tả được những bản tính muôn đời của con người, nhất là cái thói đua đòi (snobisme).

Nhưng trên hết vẫn là khám phá đặc biệt của M. Proust trên rất nhiều phương diện nghệ thuật tiểu thuyết, đặc biệt là cấu trúc tiểu thuyết. Cấu trúc “Đi tìm thời gian đã mất” là một thế giới ký hiệu tương ứng, văn bản thời gian hiện tại chồng lên văn bản thời gian quá khứ. M. Proust là người đầu tiên thoái khỏi cái mô hình văn chương phản ánh cuộc sống như những gì cuộc sống vốn có; mà ông phản ánh theo sự chủ quan của ý thức để tạo nên một thế giới độc nhất vô nhị. Thế nên, “Đi tìm thời gian đã mất” được xem là tiểu thuyết vĩ đại nhất trong thế kỷ XX. Nhờ đó, M. Proust đã chiến thắng được sự tàn phá vô hình và vô tình của thời gian!

HÀM ĐAN

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

DỰ ĐOÁN OSCAR 2012


Như mọi năm bổn blog được báo nhà giao viết về giải Oscar nên trước giờ trao giải (Sáng 27-2 theo giờ Việt Nam), thử làm Gia Cát Dự xem thế nào?

Các đề cử Oscar năm nay do gần 6000 thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) lựa chọn. Chỉ có 9 phim được đề cử thay cho 10 đề cử ở hạng mục “Phim hay nhất”, khiến nhiều người vội vàng kết luận chất lượng các bộ phim năm nay có vẻ sụt giảm hơn so với vài màu Oscar trước. Thực ra, gần chục năm trở lại đây, chưa bao giờ chất lượng các phim tranh giải “Phim hay nhất” lại khá đồng đều; đặc biệt, ba bộ phim xứng đáng được gọi là kiệt tác là: “Nghệ sĩ” (The artist), “Cây đời” (The tree of life) và “Chiến mã” (War horse).

Tuy Oscar 2012 hoàn toàn vắng bóng các bộ phim “bom tấn” kiểu như “Avatar” nhưng lại có nhiều bộ phim được thực hiện theo phong cách mới lạ khiến Oscar năm nay có sự thay đổi khuynh hướng rõ rệt. Nổi bật nhất là bộ phim “The artist” (Nghệ sĩ), bộ phim câm đen trắng muốn quay lại với thời kỳ sơ khai của điện ảnh với lối diễn xuất tinh tế giàu chất nghệ thuật của các diễn viên. Phim “Nghệ sĩ” là bộ phim câm đầu tiên trong 83 năm qua được đề cử tại Oscar để tranh giải “Phim hay nhất”, nhưng người ta tin chính “Nghệ sĩ” sẽ có nhiều cơ hội đoạt giải “Phim hay nhất” bởi nhờ sự diễn xuất hoàn hảo của tài tử Pháp Jean Dujardin, nhịp điệu nhanh và dễ hiểu của bộ phim sẽ là “món lạ” khi khán giả đã chán những bộ phim hành động, tâm lý như các năm trước. Dự đoán có vẻ chắc chắn hơn, khi ở các giải thưởng “tiền Oscar” như Quả cầu vàng, phim “Nghệ sĩ” tỏ ra “vô đối”

Đe dọa Oscar cho hạng mục “Phim hay nhất” của phim “Nghệ sĩ” chính là kiệt tác điện ảnh đầy chất thơ của đạo diễn Mỹ Terrence Malick là “The tree of life” (Cây đời). Thật sự thú vị khi hai bộ phim được đánh giá cao nhất tại LHP Cannes 2011 tái chạy đua tại giải thưởng danh giá nhất của nghệ thuật thứ bảy. Ở Cannes 2011, “Cây đời” đã chiến thắng khi giành giải Cành cọ vàng nhưng sẽ khó có thể có cú đúp cho “Cây đời”. Sở dĩ “Cây đời” bị đánh giá thấp hơn “Nghệ sĩ” ở hạng mục “Phim hay nhất” là do nghệ thuật tự sự trong phim này hay thì thật là hay, nhưng khó hiểu và không hợp với gu phim của người Mỹ.

Dự đoán các giải thưởng chính

Phim hay nhất: Nghệ sĩ hoặc Chiến mã
Đạo diễn: Michel Hazanavicius
Nam diễn viên chính: Jean Dujardin
Nữ diễn viên chính: Meryl Streep
Nam diễn viên phụ: Jonah Hill
Nữ diễn viên phụ: Bérénice Bejo
Kịch bản gốc: Nghệ sĩ
Kịch bản chuyển thể: Hugo
Phim hoạt hình: Kung Fu Panda 2





Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012

THỜI ĐÀM (XIX): ĐI VÀO CHIỀU SÂU...


Vài năm trước, có một đơn vị làm sách ra đời với mục tiêu in dòng sách công cụ kinh điển của nước ngoài. Giới làm sách khi đó tin rằng, đơn vị kia sớm muộn cũng lâm vào cảnh lao đao vì một lẽ đơn giản: Loại sách kia hay thì thật là hay, nhưng rất khó đọc.

Ấy thế mà, sau gần 5 năm ra đời, đơn vị làm sách vẫn “sống” khỏe, in hàng trăm đầu sách công cụ chất lượng, người khó tính cũng phải khen ngợi. Đặc biệt, có sách triết học chính trị nói về sự tự do của Anh ở thế kỷ XIX tái bản tới bốn lần. Nỗi lo về nguy cơ không có bạn đọc ban đầu hóa ra là không chính xác, là thừa!

Thành công của đơn vị làm sách công cụ kinh điển trên khiến người ta có thể khẳng định thêm về một chiến lược kinh doanh biết tôn trọng quy luật thị trường. Là đơn vị sinh sau đẻ muộn, thấy sách nào có khả năng bán chạy là lao đầu vào bất kể dòng sách gì thì làm sao cạnh tranh nổi với các “anh cả” đang làm mưa làm gió trên thị trường. Thôi thì nhất nghệ tinh nhất thân vinh, chọn lấy một dòng sách kén người đọc làm chủ đạo cũng có thể có lãi như thường, và nhất là sách kén người đọc thì không lo bị… in lậu. Một khi chất lượng sản phẩm đã đảm bảo, lập tức thương hiệu sách công cụ kinh điển của đơn vị nọ thu hút sự chú ý của người đọc.

Điều quan trọng là đơn vị kia đã nhìn thấy cơ sở bảo đảm thành công của dòng sách kinh điển đó là mặt bằng dân trí nước ta đang ngày càng được nâng cao. Sau thời gian đọc các loại sách giải trí, sách nhập môn dễ hiểu và nhờ thế giới ngày càng “phẳng” nên những kiến thức phổ thông đã trở nên bão hòa với một bộ phận bạn đọc; nhu cầu được hiểu sâu một vấn đề nào đó của nhiều người trở nên tất yếu. Dòng sách công cụ kinh điển của đơn vị làm sách nọ ra đời chẳng khác nào cơn mưa đúng lúc khô hạn. 

Nhìn sang số lĩnh vực khác như giáo dục đại học chẳng hạn, câu chuyện không vui vẻ chút nào. Nhiều nhà đầu tư giáo dục lợi dụng tâm lý sở hữu cái bằng đại học quá mãnh liệt trong xã hội nên mở hàng loạt trường đại học dân lập. Nhưng thực tế, chất lượng sinh viên ra trường của các trường dân lập kém đến nỗi, nhiều đơn vị muốn tuyển dụng phải ghi rõ chỉ nhận hồ sơ đối với sinh viên tốt nghiệp đại học có tiếng tăm. Thế là không kèn không trống, nhiều đại học dân lập tự động đóng cửa khi không đủ sinh viên, bởi những tân tú tài nhận ra không thể mong chờ gì với những trường đại học có tư duy kinh doanh chụp giật.

Nhìn rộng ra các lĩnh vực kinh doanh thuần túy hơn đều chưa phát triển bền vững, chẳng hạn bất động sản, chứng khoán... cũng kẻ khóc người cười. Nguyên nhân sâu xa là nhiều người kinh doanh mà không hiểu quy luật cung cầu, thấy người ta làm được, đang lúc cao điểm bội thu mình lại lao vào tưởng ngon xơi. Đó là nhìn đơn thuần dưới góc độ kinh tế. 
       
Khổ nỗi, trong xã hội, cái tâm lý đám đông, làm theo phong trào còn ăn sâu bám chặt vào tư duy nhiều người nên không xác định được cho mình một con đường. Thấy người ta làm thơ có vẻ dễ quá, thế là mình cũng làm thơ, bán cả gà, lợn trong chuồng đi để lấy tiền in thơ, in xong thì... vứt xó. Dân gian xưa đã mỉa mai những người không có bản lĩnh, cứ theo đuôi thiên hạ trong làm ăn là: "Thấy người ta ăn chè đỗ đen, mình xúc cứt dê đổ bị". Và như thế, nhiều người thất bát quá lại gây cho xã hội những nỗi lo, bớt đi của xã hội những tiếng cười.

Không đi vào chiều sâu, không sống sâu sắc, sống say sưa với điều mình muốn, việc mình làm; không đủ lý trí để kìm hãm lòng tự phụ; không đủ tầm nhìn để biết mình biết người xem mình là ai và đang đứng ở đâu... thất bại là cái chắc.
                                                         
HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2012

KURT VONNEGUT, BẬC THẦY CHÂM BIẾM


Ngày 11-4-2007 sẽ là ngày bình lặng với nước Mỹ, nếu không có một hung tin: Nhà văn Kurt Vonnegut qua đời ở tuổi 85. Dư luận Mỹ đau buồn trước sự ra đi của một trong những nhà văn xuất sắc nhất, nhưng K. Vonnegut hồi còn sống luôn tự mỉa mai đã sống quá lâu. Trong tác phẩm cuối cùng được xuất bản là “A man without a country-A memoir of life in George W. Bush’s America”, 2005 (“Người không quê hương-Hồi ký về nước Mỹ thời George W. Bush” do Nguyễn Khánh Toàn dịch, NXB Thông tấn & Nhã Nam, 2011), ông đùa rằng: “Tôi sẽ kiện công ty thuốc lá Brown&Williamson, nhà sản xuất thuốc lá hiệu Pall Mall, đòi bồi thường 1 tỷ đô!... Và đã nhiều năm nay, ngay trên báo thuốc, Brown&Williamson hứa sẽ giết tôi. Nhưng giờ thì tôi tám mươi hai tuổi rồi”. Suốt cả văn nghiệp với gần 30 tác phẩm, K. Vonnegut luôn thích đùa như vậy vì ông nổi tiếng là bậc thầy châm biếm, kết hợp hoàn hảo “hài hước đen” (black comedy) với các phong cách khác để tạo ra thế giới nghệ thuật độc sáng, tiêu biểu cho chủ nghĩa hậu hiện đại.

Con người ưa hài hước ấy lại có tiểu sử không vui khi sớm đối diện sóng gió cuộc đời. Ông sinh ngày 11-11-1922 tại TP Indianapolis, bang Indiana (Mỹ) trong một gia đình người Mỹ gốc Đức. Cuộc Đại khủng hoảng những năm 1930 đã làm gia đình ông khánh kiệt, bà mẹ mất vì dùng thuốc ngủ quá liều. Lớn lên, ông gia nhập quân đội Mỹ tham chiến trong Đệ nhị thế chiến, bị bắt làm tù binh và suýt chết trong cuộc ném bom kinh hoàng của quân Đồng minh xuống TP Dresden (Đức). Trải nghiệm đó đã làm nền cho tác phẩm nổi tiếng nhất của K. Vonnegut là tiểu thuyết “Lò sát sinh số 5” (1969). Không giống các tác phẩm ai oán viết về Đệ nhị thế chiến, K. Vonnegut sử dụng tính châm biếm và khoa học giả tưởng, đưa anh lính Billy Pilgrim vào một cuộc du hành xuyên thời gian làm nhân vật hài hước trong chiến tranh.

Các tác phẩm tiếp theo là “Bữa sáng của các nhà vô địch” (1973), “Dick mù” (1982), “Quần đảo Galápagos” (1985)… khẳng định vị trí hàng đầu của K. Vonnegut trên văn đàn; các tác phẩm của ông dần dần được giảng dạy trong nhà trường và được đọc đi đọc lại bởi nhiều thế hệ. Ở Việt Nam, mới chỉ dịch tác phẩm “Người không quê hương”.

Các nhà phê bình xếp “Người không quê hương” là tiểu luận nhưng đúng ra cuốn sách này phi thể loại vì tác phẩm kết hợp hồi ký, tiểu luận trên một kết cấu linh hoạt. Cuốn sách tập hợp 12 đoản văn, 1 bài thơ và các tranh tự họa hài hước (họa sĩ là nghề tay trái của K. Vonnegut) đề cập các vấn đề như: Chính trị, nghệ thuật, tình ái… “Người không quê hương” là những suy nghĩ của K. Vonnegut dưới cái nhìn nhân văn và phong cách châm biếm. Chính hai yếu tố này là “xương sống” của tác phẩm khiến “Người không quê hương” tuy phi thể loại, nội dung ở mỗi đoản văn không thống nhất nhưng khiến người đọc chú ý bởi sau tính hài hước, lập tức phải suy ngẫm đến những vấn đề “nóng” của thời cuộc. Chẳng hạn, mở đầu đoản văn “Tôi sẽ cho bạn biết một tin”, K. Vonnegut tếu táo bàn chuyện con người lạm dụng các chất gây nghiện, nhưng tiếp đó ông lại chuyển sang vấn đề nghiêm túc là việc con người khai thác vô độ nhiên liệu hóa thạch, ông viết: “Chúng ta đều là những con nghiện nhiên liệu hóa thạch nhưng lại không chịu thừa nhận.” Lời phê phán của K. Vonnegut không có gì mới mẻ vì triết học chính trị gần đây không chỉ bàn đến vấn đề cổ điển về nhà nước, cá nhân và xã hội… mà còn quan tâm đến vấn đề môi trường. Triết gia số một nước Đức hiện giờ là Jürgen Habermas nhận định rằng: “Sự tăng trưởng của chủ nghĩa tư bản rút cuộc sẽ bị chặn đứng bởi nguồn tài nguyên hữu hạn của trái đất”. Nhưng K. Vonnegut lật lại vấn đề cũ bằng phong cách hài hước sẽ khiến người đọc ghi nhớ lâu hơn.

Trọng tâm của “Người không quê hương” là phê phán xã hội Mỹ dưới thời Tổng thống George W. Bush. K. Vonnegut từng hy vọng nước Mỹ nhân văn và hiểu lý lẽ nhưng ông sớm thất vọng khi chính quyền Tổng thống Bush tiếp tục phạm sai lầm trong quá khứ, đặc biệt là đưa nước Mỹ vào cuộc chiến tranh với các nước Hồi giáo mà không có mục đích cụ thể nào, y như cuộc chiến Việt Nam trước đây. Ông phê bình một cách hài hước: “Nói tới chuyện lao vào chiến tranh, bạn có biết tại sao tôi nghĩ George W. Bush bị người Ả Rập làm cho tức điên lên không? Họ mang đến cho chúng ta môn đại số. Cả những con số chúng ta sử dụng, gồm cả ký tự số không, cái mà người châu Âu trước đó chưa bao giờ có. Bạn nghĩ người Ả Rập ngốc nghếch à? Cứ thử làm phép chia với chữ số La Mã đi xem”.

K. Vonnegut đã tiếp nối truyền thống “đề kháng thụ động” của Henry David Thoreau (1817-1862), Allen Ginsberg (1926-1997), Noam Chomsky…, tiếp tục nghi ngờ một cách sáng suốt đối với những siêu tập đoàn và những cơ quan nhà nước đại diện cho bộ mặt đất nước và cho chính sách đối ngoại. Sự nghi ngờ đó chẳng bao giờ thừa và đang diễn ra như tiên đoán, sau khi K. Vonnegut qua đời vài tháng, nước Mỹ lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính mà thủ phạm là các ông chủ và các chính trị gia bất tài, tham lam.

Vậy là, có thể xem K. Vonnegut là một nhà nhân văn lớn cho dù ông luôn tự chế giễu điều này: “Tôi, một cách tình cờ, là Chủ tịch Danh dự Hội những nhà Nhân văn Hoa Kỳ, kế nhiệm nhà văn khoa học viễn tưởng vĩ đại quá cố Issac Asimov trong cái vai trò hữu danh vô thực ấy. Chúng tôi tổ chức lễ tưởng niệm Isaac vài năm trước, lúc đó tôi phát biểu và có đoạn tôi nói, “Isaac bây giờ đang trên thiên đàng”. Đó là điều hài hước nhất tôi có thể nói với khán giả là những nhà nhân văn. Tôi đã làm họ cười lăn cười bò… Và nếu tôi có chết, phỉ phui, tôi hy vọng bạn sẽ nói, “Kurt bây giờ đang trên thiên đàng.” Chuyện đùa tôi thích nhất đấy”.    

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2012

TÁC PHẨM LÀM THAY ĐỔI VĂN HỌC CHÂU PHI



Chinua Achebe sinh ngày 16-11-1930 tại thị trấn Ogidi, miền Nam Ni-giê-ri-a trong một gia đình tộc người Ibo theo Thiên Chúa giáo. Từ nhỏ, C. Achebe đã được thừa hưởng nền giáo dục tiên tiến của Anh quốc giúp ông trở thành một người uyên bác sau này. Trong cuộc đời sôi động của mình, ông tham gia nhiều hoạt động như: Báo chí, chính trị, giáo dục; nhưng trên hết vẫn là sáng tác văn chương đều đặn. Sự nghiệp văn chương của C. Achebe khá đồ sộ với hơn 30 tác phẩm đủ mọi thể loại, nên các nhà phê bình thường gọi ông là “Người cha của văn học châu Phi hiện đại”.
        
Sự tôn vinh C. Achebe đến khá sớm, ngay từ tác phẩm đầu tay của ông là tiểu thuyết “Things fall apart”-“Mọi thứ đều tan vỡ”, 1958 (Bản dịch tiếng Việt có nhan đề “Quê hương tan rã” do Nguyễn Hiến Lê và Hoài Khanh dịch, NXB Ca dao in lần đầu năm 1970,  NXB Văn hóa Sài Gòn tái bản năm 2008).

Ở lứa tuổi 20, khi bắt tay vào viết “Quê hương tan rã”, tầm suy tư của C. Achebe đã già dặn một cách đáng ngạc nhiên. Lý do ông viết “Quê hương tan rã” là muốn xác định vị trí bản thân và đất nước Ni-giê-ri-a giữa dòng chảy của lịch sử. Suy nghĩ đó nghe có vẻ cao siêu nhưng thực ra lại rất thiết thực. Vì hồi đó, châu Phi vẫn chứa nhiều bí ẩn, chỉ được những người da trắng giới thiệu ra thế giới không thực sự chính xác và khách quan. C. Achebe muốn thay đổi thực trạng đáng buồn trên thông qua một tác phẩm hư cấu. Và ông đã thành công, “Quê hương tan rã” được xem là tác phẩm làm thay đổi văn học châu Phi.

Nội dung của tiểu thuyết “Quê hương tan rã” xoay quanh câu chuyện của một người hùng của tộc người Ibo tên là Okonkwo. Okonkwo tạo được danh vọng và tài sản nhờ ý chí tự lập sắt đá dù chàng lớn lên trong cảnh nghèo khó do người cha bất tài và lười nhác. Một lần do phạm tội ngộ sát, Okonkwo phải tự lưu đày bên nhà vợ bảy năm. Khi mãn hạn lưu đày, Okonkwo trở về cũng là lúc người da trắng tới và làm thay đổi quê hương của Okonkwo.

Đi đầu trong công cuộc thâm nhập miền đất mới của người da trắng là các nhà truyền giáo. Người dân Ibo dù không thích tôn giáo mới, nhưng vì hiếu khách đã cho phép các nhà truyền giáo lập giáo đường và thuyết giáo. Số người dân bản địa theo đạo mới ngày càng đông, kể cả những vị có chức sắc. Bước tiếp theo, người Anh lập chính quyền, tòa án, quân lính... để ép người bản địa theo luật pháp của chính quốc. Ngoài ra, họ còn mở các cửa hàng để vơ vét lâm thổ sản địa phương. Những hành động của người da trắng đã làm chia rẽ nghiêm trọng bộ lạc Ibo. Okonkwo đại diện cho những người thiểu số trọng cổ tục, trước nguy cơ biến mất của các giá trị truyền thống đã kêu gọi đồng bào nổi dậy chống lại người Anh. Nhưng không ai muốn làm theo Okonkwo, ngay cả đứa con trai của Okonkwo là Nwoye cũng theo tôn giáo mới và từ bỏ cha mình.

Cao trào của cốt truyện xảy ra khi Okonkwo bị lừa nhốt vào nhà giam, phải nộp tiền chuộc mạng. Quá uất ức, Okonkwo đã chém đầu một tên tay sai. Hành động của Okonkwo không khiến cộng đồng của anh vùng dậy mà thay vào đó là nỗi sợ hãi. Kết thúc tiểu thuyết là tâm trạng tuyệt vọng vì không thể thuyết phục đám đông theo mình, Okonkwo đã treo cổ tự vẫn-một cái chết mà người Ibo xem là tủi nhục nhất.

Xuyên suốt tiểu thuyết “Quê hương tan rã”, người đọc bị cuốn hút vì C. Achebe đã dựng lại quá khứ của một xã hội bộ lạc nguyên thủy với tất cả sự giàu có về văn hóa, giàu tính nhân bản trong quan hệ gia đình và làng xóm... Nhưng đây không phải là tác phẩm mượn hình hài tiểu thuyết cốt để nói chuyện phong tục dành cho những người đọc chuộng lạ mà C. Achebe muốn miêu tả lại thời khắc va chạm giữa nền văn hóa bản địa cổ truyền và văn hóa ngoại lai. C. Achebe tuy là người Ibo nhưng ông rất khách quan trong giọng điệu và từ ngữ, không lên án người da trắng vì ông hiểu sự phai nhạt các giá trị truyền thống của một xã hội có trình độ văn minh thấp kém hơn là điều không thể tránh khỏi của quy luật lịch sử, nhất là khi chủ nghĩa thực dân phát triển mạnh mẽ. Chỉ có điều, giá mà giữa các nền văn hóa có sự đối thoại để hiểu nhau thì kết quả của sự tiếp biến văn hóa không phải trả giá quá đắt.

Tác phẩm “Quê hương tan rã” được viết bằng tiếng Anh theo hình thức tiểu thuyết cổ điển của thế kỷ XIX nên không có nhiều cách tân về mặt thể loại. Nhưng nếu so với mặt bằng văn học châu Phi thời đó thì quả là bước nhảy vọt về chất lượng. Chưa bao giờ, người ta thấy một nhà văn châu Phi viết về chính lịch sử đau thương của châu Phi một cách sâu sắc bằng nghệ thuật tự sự lão luyện. Vượt ra khỏi phạm vi đất nước Ni-giê-ri-a và châu Phi, “Quê hương tan rã” đã thể hiện chính xác kinh nghiệm xương máu của các dân tộc thuộc địa đối diện với chủ nghĩa thực dân trước đây. Đó cũng là lý do vì sao “Quê hương tan rã” ngay từ khi ra đời đã được xem là một tác phẩm văn chương kinh điển, được dịch ra hàng chục thứ tiếng và tiêu thụ tới 11 triệu bản.