Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

TITANIC-A CENTURY LATER: CÁI KẾT CÓ HẬU CỦA MỘT BI KỊCH


Ngày 14-4 năm nay là tròn một thế kỷ con tàu Titanic bị đắm, cướp đi sinh mạng của 1.514 người. Thời gian càng lùi xa nhưng huyền thoại Titanic vẫn vẹn nguyên gắn với những câu chuyện nhân văn lay động lòng người trong hơn hai tiếng tàu chìm dần vào lòng đại dương sâu thẳm.

1. Một câu hỏi của nhiều người là tại sao một thảm họa hàng hải lại chiếm trọn sự quan tâm của nhiều thế hệ, trở thành chất liệu cho các loại hình văn học nghệ thuật suốt một thế kỷ qua?

Lý giải câu hỏi đó, cần phải hiểu “đẳng cấp” tàu Titanic ở thời đại con tàu ra đời. Titanic là con tàu lớn nhất (dài 269m, rộng 28m ở sườn ngang, nặng 46.328 tấn) và sang trọng nhất thời bấy giờ. Titanic không đơn thuần chỉ là đỉnh cao kỹ thuật đóng tàu mà còn là sản phẩm kết tinh của trí tuệ, tính thẩm mỹ của châu Âu hùng mạnh nói chung và văn minh nhân loại nói riêng. Sau tai nạn, xảy ra một chấn thương tâm lý cho cả một thế hệ: Một kỳ công nhân tạo tưởng không bao giờ chìm lại “thua” một hiện tượng tự nhiên là một núi băng trôi. Nhiều người nhận ra: Số phận con người quá mong manh; con người đã phải trả giá khi xem thường sức mạnh tự nhiên. Nhiều người còn xem vụ chìm tàu Titanic là một trong những sự kiện chấm dứt thời đại hưng thịnh và lạc quan của châu Âu để bước vào thời kỳ lụi tàn khi Thế chiến thứ nhất (1914-1918) nổ ra hai năm sau đó.   

Ám ảnh trực tiếp từ vụ chìm tàu Titanic do các nguyên nhân bị che lấp dẫn đến thảm họa. Do hạn chế của khoa học cộng với việc bưng bít của chủ tàu nên các cuộc điều tra đã không có kết luận cuối cùng. Ngay cả chuyện rất đơn giản là con tàu thực sự đã chìm như thế nào? Nhiều nhân chứng đã xác nhận con tàu vỡ làm đôi, nhưng nhiều người muốn hướng dư luận tin rằng con tàu chìm nguyên vẹn để tránh bi kịch hóa vụ đắm tàu! Màn sương bí ẩn bao bọc quanh vụ đắm tàu đưa Titanic trở thành một huyền thoại. Không ít nhà “Titanic học”, họa sĩ, đạo diễn... thành danh kể rằng tuổi thơ của họ đã dành trọn cho nỗi đam mê muốn khám phá những bí ẩn về Titanic. Đến năm 1985, nhà hải dương học người Mỹ Robert Ballard đã phát hiện xác tàu Titanic ở độ sâu 4km. Sau đó, nhờ các công nghệ hiện đại và đội ngũ “Titanic học” hùng hậu, người ta mới dần giải mã những bí ẩn.

Thảm họa Titanic là tổng hợp từ sự bất cẩn của con người và phần lớn là bất lợi do tự nhiên đem đến; song kỳ lạ ở điểm, tất cả mọi yếu tố bất lợi đều tập trung cùng thời điểm khiến khối người mê tín tin rằng, chính Chúa đã làm chìm tàu. Thời điểm đầu hè 1912, lượng băng tan nhiều bất thường, gấp đôi các năm khác. Trong đêm định mệnh, tàu Titanic đã đi vào vùng giao nhau giữa hai dòng hải lưu nóng và lạnh, sự chênh lệch nhiệt độ quá lớn dẫn đến khúc xạ ánh sáng gây ra hiện tượng “chân trời ảo” (còn gọi là “ảo ảnh gương”) khiến hoa tiêu dù tập trung cũng không nhìn ra núi băng có trọng lượng gấp 6 lần Titanic đang ở rất gần. Cũng chính hiện tượng trên mà thuyền trưởng tàu California là Stanley Lord chỉ cách Titanic khoảng 16km (mất nửa tiếng di chuyển) không nhận ra con tàu trong tầm nhìn ống nhòm là Titanic. Có người còn tin rằng, khoảnh khắc mà S. Lord quan sát là thời điểm phần mũi tàu Titanic đã ở dưới mặt nước nên ông tưởng chỉ là con tàu cỡ nhỏ. Sáng hôm sau, S. Lord mới biết Titanic bị chìm ngay trước mắt và ông bị mang nỗi oan “thấy chết không cứu” cho đến hết đời.

Vẫn là tàu California, lúc 23 giờ (40 phút trước thảm họa), Cyril Evans-nhân viên điện tín duy nhất của tàu này đã gửi cảnh báo về núi băng cho Titanic, nhưng do hai tàu quá gần nhau nên tín hiệu từ tàu California làm Jack Phillips-nhân viên điện tín Titanic, suýt thủng màng nhĩ. Mệt mỏi vì phải gửi điện tín cho khách, J. Phillips đã không tiếp nhận lời cảnh báo. Trong lúc tàu chìm, J. Phillips đánh điện cầu cứu nhưng khi đó C. Evans đã đi ngủ!

          Về nguyên nhân từ con người là do trong quá trình đóng tàu Titanic, người ta đã không lường được độ yếu của 3 triệu đinh tán trên vỏ tàu. Thử nghiệm khoa học chứng minh, do pha nhiều xỉ vào sắt khiến các đinh tán yếu và cú va quệt vào mạn phải Titanic dư sức làm gãy đinh tán và nước tràn vào gây chìm tàu.     



2. Những phát hiện khoa học đã “hồi sinh” lại Titanic, nhưng để Titanic bất tử trong văn hóa đại chúng phải nhờ bộ phim “Titanic” (1997) của đạo diễn James Cameron. Trong phim có nhiều chi tiết không đúng như thực tế, ví như độ nghiêng đuôi tàu không quá lớn từng khiến người xem phim hãi hùng. J. Cameron quyết không sửa lại trong bản 3D phát hành tháng 4 này, vì điều quan trọng là tính ẩn dụ của bộ phim vẫn còn giá trị thời sự. Tàu Titanic như một thế giới thu nhỏ, nếu không cẩn trọng dễ gặp thảm họa ngay trước mắt mà không thể tránh nổi, như chuyện thời sự biến đổi khí hậu trẻ em cũng biết. Một khi thảm họa xảy ra, chỉ có những người thuộc tầng lớp dưới lãnh đủ như trong phim hành khách vé hạng 2 và 3 không kịp đi lên thuyền cứu sinh.

Phim “Titanic” để lại ấn tượng sâu đậm nhờ mối tình lãng mạn giữa chàng Jack và nàng Rose, nhưng rút cuộc chỉ là hư cấu; nhưng ở vụ đắm tàu Titanic, tồn tại nhiều câu chuyện nhân văn gây xúc động được kể đi kể lại tận ngày nay. Titanic là một trong số ít tàu chìm có tỷ lệ phụ nữ và trẻ em được cứu sống cao hơn đàn ông và thủy thủ đoàn; nghĩa là việc ưu tiên phụ nữ và trẻ em trong điều kiện không đủ thuyền cứu sinh thay vì cảnh chen lấn thường thấy. Những người thợ máy sẵn sàng chết để cố gắng thoát nước giúp con tàu không bị chìm nhanh, nếu không số người sống chắc ít hơn 710 người. Ban nhạc 7 người trên tàu Titanic đã chơi bản thánh ca như lời cầu nguyện lúc tàu dần chìm. Và không thiếu những câu chuyện chia ly rơi lệ: Rất nhiều người vợ đã nhìn chồng lần cuối sau khi xuống thuyền cứu sinh, có người đàn ông chết mà không biết rằng vợ mình đang mang thai đứa con đầu lòng...



Tất cả các yếu tố hợp lại khiến Titanic có một lượng fan khổng lồ, và có thể Titanic lại “chìm” lần nữa do quá được yêu mến. Một tờ giấy ghi thực đơn bữa ăn cuối cùng trên tàu Titanic của một hành khách sống sót sau một thế kỷ có giá gần 2,5 tỷ đồng Việt Nam thì những di vật của tàu Titanic dưới biển còn đắt gấp bội. Nguy cơ bọn săn cổ vật làm hỏng xác tàu là điều hiển nhiên. Chưa kể, việc các tàu lặn phục vụ tham quan đáp xuống xác tàu cũng khiến xác tàu hư hại nhiều. Nhưng may mắn là trước thời điểm 100 năm Titanic bị đắm, xác tàu đã được đặt dưới sự bảo vệ của UNESCO thông qua Công ước bảo vệ di sản văn hóa dưới nước. Thêm vào đó, R. Billard-người phát hiện xác tàu đầu tiên đã đề nghị dùng những chú robot làm sạch vỏ tàu và dùng loại sơn đặc biệt chống ăn mòn. Những robot cũng sẽ làm nhiệm vụ bảo vệ khi các tàu lặn muốn tiếp cận xác tàu bất hợp pháp. Vậy là, sau một thế kỷ của bi kịch mang tên Titanic là một cái kết có hậu!

          HÀM ĐAN

Thứ Tư, 11 tháng 4, 2012

HỘI THẢO KHOA HỌC “NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ PHÊ BÌNH VĂN HỌC”: SÔI NỔI HIẾN KẾ


Hội thảo mang tầm chiến lược

Ngày 10-4, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương (LLPBVHNTTƯ) phối hợp cùng Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng, hiệu quả phê bình văn học”. Đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước đã tới dự. Đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương tới dự và chỉ đạo Hội thảo. Nhiều nhà phê bình văn học nghệ thuật trong nước tham dự và bàn luận về những vấn đề “nóng” của phê bình văn học hôm nay.

Phát biểu tại Hội thảo, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao việc tổ chức hội thảo quan trọng này. Chủ tịch nước gợi ý, Hội đồng LLPBVHNTTƯ cần sớm ra mắt tạp chí chuyên đề để làm diễn đàn trao đổi lý luận định hướng sự phát triển đúng hướng của văn học nghệ thuật đất nước theo tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết 23 về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới” của Bộ Chính trị khóa X. Các thành viên Hội đồng cần tập hợp ý kiến, mạnh dạn đề xuất những chính sách phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của văn học nghệ thuật nói chung và phê bình văn học nói riêng.

Về vai trò của phê bình văn học, đồng chí Đinh Thế Huynh nêu rõ: Phê bình văn học là một bộ phận cấu thành của đời sống văn học, của quá trình vận động và phát triển văn học. Phê bình văn học giữ vai trò vừa đồng hành với sáng tác để hiểu và đồng cảm với sáng tác, vừa góp phần rất quan trọng trong việc đánh giá, dự báo, góp phần định hướng cho sáng tác và cho dư luận. Phê bình văn học không chỉ là tiếng nói của các nhà phê bình, mà ở những tầm mức khác nhau, còn phản ánh thái độ, ý thức của công chúng xã hội đối với những giá trị và khuynh hướng văn học, nêu lên những đòi hỏi chính đáng của công chúng, của xã hội đối với các nhà văn, nhà thơ, với cả nền văn học và những tác phẩm văn học cụ thể.

Đánh giá của Hội đồng LLPBVHNTTƯ cho rằng: Hơn 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khóa X, nhiều cuộc hội thảo đã được tổ chức nhằm thảo luận những vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn để kiến nghị những giải pháp thiết thực nhằm góp sức thúc đẩy phê bình văn học có bước phát triển tích cực. Bên cạnh một số kết quả tích cực, phê bình văn học hiện nay còn nhiều mặt yếu kém. Điều này biểu hiện trên các phương diện: Phê bình văn học chưa bám sát được sự phong phú của đời sống văn chương sôi động, chưa định hướng cho độc giả tìm đến những tác phẩm có giá trị. Tìm ra nguyên nhân sự tụt hậu của phê bình văn học rất quan trọng, song trọng tâm của Hội thảo là tìm lời giải cho câu hỏi: Cần làm gì và và làm như thế nào để khắc phục thực trạng trên? Với mục tiêu như vậy, có thể xem Hội thảo lần nay là hội thảo mang tầm chiến lược giúp định hướng cho phê bình văn học phát triển đúng đắn.

Nhìn thẳng vào yếu kém

Việc chỉ ra nguyên nhân dẫn đến yếu kém của phê bình văn học hiện nay không khó. Ngay cả một người không chuyên môn cũng nhận ra đời sống tinh thần ở nước ta đang dần chuyển sang văn hóa đại chúng. Theo PGS, TS La Khắc Hòa (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), xu hướng nói trên là tất yếu bởi thời đại hôm nay văn hóa đại chúng ở vị trí trung tâm, nó sẽ đẩy những hoạt động như phê bình văn học sang vị trí ngoại vi.

Khó khăn khách quan nói trên không chỉ có ở Việt Nam mà đó là hiện tượng mang tính toàn cầu. Nguyên nhân chính khiến phê bình văn học yếu kém được các chuyên gia đồng tình là ở vấn đề con người. Đã đành, ở thời nào những người làm công việc nghiên cứu đều là “của hiếm” song chưa bao giờ số người làm phê bình văn học lại mỏng như hiện nay. Ngoài yếu tố đam mê, để trở thành nhà phê bình văn học cần một quá trình tích lũy kiến thức khá lớn không chỉ văn chương mà cả các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác. Sự khó khăn tự thân của phê bình văn học khiến nhiều cây bút trẻ nản lòng dấn thân vào nghề nghiệp. Điều đáng quan ngại hơn là chất lượng những người làm phê bình hiện nay, nhất là đội ngũ trẻ còn yếu. PGS, TS Phạm Quang Trung (Trường Đại học Đà Lạt) lấy ví dụ từ các bài phê bình văn học trên báo chí có chất lượng thấp do những người chịu trách nhiệm giới thiệu tác phẩm văn học hay nhìn nhận vấn đề văn học thường không có chuyên môn dẫn đến những bài phê bình cảm tính gây nhiễu loạn các giá trị thẩm mỹ.  

Các nguyên nhân khác cũng được đề cập đến như: Chính sách đãi ngộ cho những người làm phê bình văn học còn chưa tương xứng với công sức bỏ ra. TS Lê Thanh Nghị (Hội Nhà văn Việt Nam) còn chỉ ra một nguyên nhân khác là hiện tượng một số nhà phê bình có năng lực nhưng ngại va chạm, không muốn làm mất lòng người khác nên đứng ngoài cuộc trước những vấn đề bức xúc trong đời sống văn học.

Những nguyên nhân nói trên đã dẫn đến chất lượng khoa học và tính chuyên nghiệp của phê bình văn học bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính, thiếu một hệ thống tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm. Không thể một sớm một chiều giải quyết những bất cập của phê bình văn học hiện nay; song nếu không hành động ngay từ bây giờ, một nền phê bình văn học yếu kém sẽ trực tiếp làm giảm năng lực tiếp nhận cái hay, cái đẹp của người đọc.

Gợi mở nhiều giải pháp

Một trong những giải pháp lâu dài nhưng hết sức quan trọng được các chuyên gia lưu tâm là phải xây dựng một nền phê bình văn học có tính hệ thống thông qua việc dịch và giới thiệu các lý thuyết phê bình trên thế giới. Từ khi Đổi mới đến nay, nhiều lý thuyết phê bình văn học đã được giới thiệu ở Việt Nam như: Chủ nghĩa hình thức (Formalism), Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism), Phân tâm học (Psychoanalysis)..., đã thay đổi hệ hình phê bình khiến phê bình khoa học hơn, lý giải sâu sắc hơn các hiện tượng văn học mới mẻ và tái phát hiện đối tượng tưởng chừng đã cạn kiệt ý nghĩa. Bên cạnh tiếp tục giới thiệu các lý thuyết phê bình văn học tiên tiến của thế giới như: Nữ quyền luận (Feminism), Giải cấu trúc (Deconstruction), Tân duy sử (New Historicism), Hậu hiện đại (Postmodernism)...; còn cần phải dịch các công trình mang tính tổng kết các trường phái để người làm phê bình văn học có cái nhìn hệ thống tri thức một cách nhanh và hiệu quả, giúp cho lớp trẻ đi vào con đường phê bình văn học dễ dàng hơn; đồng thời, giúp phê bình văn học nước nhà khỏi nguy cơ tụt hậu ở cấp độ tư duy, nhận thức, tri thức. Khối lượng công việc khổng lồ nói trên cần có sự chung tay của các cá nhân và tổ chức dựa trên sự ủng hộ về tinh thần và vật chất của Nhà nước mới sớm trở thành hiện thực.

Việc quy hoạch đội ngũ, bố trí lực lượng phê bình văn học được chính những người trong cuộc xem là giải pháp đột phá cần giải quyết nhanh chóng. Đối tượng được tập trung ưu tiên là các nhà phê bình trẻ. Đa số các ý kiến đều cho rằng, nguồn nhân lực trẻ cho phê bình vẫn nằm ở trong các khoa ngữ văn ở các trường đại học. Trên cơ sở rà soát lại lực lượng, có kế hoạch đào tạo lại một cách có hệ thống thông qua hình thức cung cấp thông tin, vừa tiến hành thảo luận những vấn đề cơ bản, thời sự của văn học, bồi dưỡng lớp trẻ trở thành lực lượng nòng cốt trong tương lai. GS, TS Mai Quốc Liên (Tổng biên tập Tạp chí Hồn Việt) nêu ý kiến: Cần lựa chọn những người có am hiểu về văn học để phụ trách biên tập các trang, mục, chương trình liên quan đến văn học trên các phương tiện truyền thông đại chúng; đồng thời bồi dưỡng họ vững vàng về mặt chính trị giúp họ nâng cao trách nhiệm trong công việc.

Một giải pháp khác được các đại biểu nhất trí cao là phải hình thành Quỹ hỗ trợ phê bình văn học để trợ giúp các hội thảo và in ấn sách phục vụ công tác phê bình. Cần hỗ trợ cụ thể về kinh phí những công trình phê bình văn học nghiêm túc, có giá trị khoa học, có phát hiện mới mẻ để sớm đến được với công chúng.

Sau cuộc Hội thảo này, Hội đồng LLPBVHNTTƯ sẽ đưa các kiến nghị cụ thể đến các cơ quan chức năng như: Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, một số viện nghiên cứu, trường đại học... để các giải pháp nhanh chóng được thực hiện và phát huy hiệu quả giúp chấn hưng phê bình văn học nước nhà.

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

"BA ƠI, MÌNH ĐI ĐÂU?"


Có những tác phẩm văn chương chỉ nên đọc một lần, không phải vì chất lượng tác phẩm không đáng để lần giở lại mà vì sức ám ảnh quá lớn, không mấy người có dũng khí đọc lần thứ hai. Như tiểu thuyết “Ba ơi, mình đi đâu?” (Phùng Hồng Minh dịch, NXB Hội Nhà văn, 2009) của nhà văn Pháp Jean-Louis Fournier chẳng hạn; đọc xong, nhiều người sẽ để nó trên giá sách và chuyển sang đọc một cuốn sách khác để nhanh chóng tạm quên những ám ảnh mà cuốn sách đem lại.

Không ám ảnh sao được khi “Ba ơi, mình đi đâu?” là lời tự thuật của người cha viết cho hai đứa con trai bị bệnh thiểu năng và dị tật bẩm sinh khiến chúng vừa ngu ngơ vừa không thể vận động được. Người cha trong cuốn tiểu thuyết chính là tác giả J. L. Fournier vì ngoài đời thực ông có hai đứa con trai tật nguyền. J. L. Fournier là một nhà văn kiêm đạo diễn điện ảnh nổi tiếng; sau nhiều năm, ông mới viết về hai đứa con tật nguyền vì nghệ thuật làm bất tử hóa bất cứ hình tượng nào: “Một cuốn sách ba viết cho các con. Để không ai quên được các con, để các con không chỉ hiện hữu trên một bức ảnh trong tấm thẻ chứng nhận tật nguyền”.

Đọc tiểu thuyết mỏng hơn 150 trang này, khó ai có thể quên bi kịch giáng xuống nhân vật người cha J. L. Fournier mà ông phải tự nhận: “Tôi có tới hai ngày tận thế”. Đó là hai ngày mà Mathieu và Thomas ra đời, cả hai lần bác sĩ đều thông báo hai đứa trẻ vĩnh viễn không phát triển bình thường. Khi rơi vào bi kịch, theo bản năng người viết dễ sa vào giọng oán hờn; nhưng ngược lại “Ba ơi, mình đi đâu?” viết bằng giọng văn “hài hước đen” né tránh ủy mị. Đó là điều cốt yếu khiến cuốn tiểu thuyết trở nên độc đáo khi tác giả cười trên nỗi đau khổ của chính bản thân.

Gần như trong trang sách nào, J. L. Fournier đều kể lại những điều hài hước trong nhiều năm chăm sóc hai đứa con tật nguyền: “Mathieu luôn phát ra những tiếng “brừm-brừm” từ miệng. Thằng bé nghĩ mình là một chiếc ô tô... Đã nhiều lần tôi phải yêu cầu nó tắt ngay động cơ nhưng vô ích... Tôi không thể ngủ, ngày hôm sau tôi phải dậy sớm... Tôi tự an ủi mình bằng suy nghĩ ngay cả những đứa trẻ bình thường cũng khiến cha mẹ chúng mất ngủ. Thật đáng đời họ”. Thường thì cái cười là khởi điểm nhưng kết thúc của một tình huống lại là sự cay đắng cho người cha và cho chính người đọc: “Mới đây, tôi gặp một chuyện rất xúc động. Mathieu đã say sưa đọc một cuốn sách. Tôi lại gần, vô cùng hồi hộp. Nó cầm quyển sách ngược”.   

Sự lặp đi lặp lại một cách viết dưới cùng một góc nhìn không làm độc giả cảm thấy nhàm chán vì “Ba ơi, mình đi đâu?” là tiểu thuyết viết dưới hình thức thư. Hình thức thư đưa đến cho độc giả một nghệ thuật kể chuyện bông lơn và cách diễn đạt hóm hỉnh tinh tế. Hơn nữa, thư vốn là hình thức linh hoạt nên sẽ giúp người kể chuyện thoải mái trong suy nghĩ, vượt mọi khoảng cách về không gian và thời gian mà không làm tổn hại đến trình tự diễn biến của cốt truyện.


J. L. Fournier đã tiếp nối truyền thống các tiểu thuyết viết bằng thư từ các nhà văn trước như: “Nàng Héloise tân thời” của Jean-Jacques Rousseau (1712-1778), “Những mối quan hệ nguy hiểm” của Pierre Choderlos de Laclos (1741-1803), “Alexis hay thỏa ước của trận chiến vô nghĩa” của Marguerite Yourcenar (1903-1987)… Việc tìm đến với hình thức viết thư có thể xem là tất yếu trong lựa chọn “cái biểu đạt” cho nội dung “Ba ơi, mình đi đâu?” vì kỹ thuật viết thư cho phép mang lại sự hư cấu tưởng tượng một bề ngoài chân thực nói như nhà phê bình Thụy Sĩ Jean Rousset (1910-2002) trong tiểu luận “Hình thức và ý nghĩa” (1963): “Tiểu thuyết dưới hình thức thư làm cho người đọc gần gũi với tình cảm đã trải nghiệm đúng như người ấy đã sống”. Cho nên, dù là người ngoài và không tận mắt chứng kiến cuộc sống của người cha với hai đứa con tật nguyền nhưng chẳng ai sau khi đọc cuốn sách có thể nghi ngờ về sự tự nhiên trong cảm giác hài hước lẫn cay đắng hòa làm một của người cha trong tiểu thuyết.

Viết thư khiến người ta có thể suy ngẫm, và có thể sửa chữa những thiếu sót khuyết điểm của mình như nhân vật người cha sám hối với hai đứa con: “Thường thì ba không chịu đựng nổi các con, thật khó để có thể thương yêu các con. Với các con, cần phải có lòng kiên nhẫn vô tận của một thiên thần, mà ba thì không phải thiên thần”.   

“Ba ơi, mình đi đâu?” là một cuốn sách của những câu chuyện giản dị nhưng ý nghĩa khái quát sâu nhất của tác phẩm lại đụng đến câu hỏi bản thể muôn đời: Ta từ đâu đến? Làm gì? Đi đâu? Nó giống như câu hỏi thường trực của cậu bé tật nguyền Thomas hỏi người cha: “Ba ơi, mình đi đâu?”. Người cha chỉ còn cách im lặng: “Đến lần hỏi thứ mười “Ba ơi, mình đi đâu?” thì tôi không trả lời nữa... Ba cũng chẳng biết rõ chúng ta đi đâu, Thomas tội nghiệp của ba à”.

          “Một cuốn sách hướng con người đến cái thiện”-Christine Jordis (Trưởng ban giám khảo giải Fémina) đã phát biểu như vậy sau khi “Ba ơi, mình đi đâu?” được trao giải thưởng danh giá Fémina năm 2008. Không chỉ trở thành tâm điểm của mùa sách văn học Pháp 2008, mà kể từ khi ra đời, kiệt tác nhỏ đầy tính nhân bản này đã được đọc và được yêu thích khắp thế giới.

          HÀM ĐAN

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

CÙNG BÀN LUẬN (VIII): XÂY DỰNG QUY CHẾ CHẨN ĐOÁN VÀ CHỮA BỆNH TỪ XA

Trong phiên họp thứ 6 Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 13 mới đây, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến trả lời chất vấn cho biết: Phấn đấu đến 2015, việc giải quyết tình trạng quá tải bệnh viện sẽ có bước tiến rõ nét. Trong khi chờ lời hứa từ Bộ Y tế trở thành sự thực, một hy vọng góp phần làm giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên được mở ra khi Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Sở Y tế TP Hồ Chí Minh chính thức vận hành hệ thống chẩn đoán và chữa bệnh từ xa.

Hệ thống chẩn đoán và chữa bệnh từ xa được triển khai dựa trên thiết bị MCU (thiết bị hỗ trợ điều khiển hội nghị truyền hình đa điểm) và sử dụng đường truyền MegaWan của mạng MetroNet TP Hồ Chí Minh. Hiện tại, hệ thống này được lắp đặt tại 3 bệnh viện tuyến hỗ trợ gồm: Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Nhi Đồng 1, Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình. Các bệnh viện này sẽ hỗ trợ chuyên môn cho các tuyến cơ sở gồm: Bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi (TP Hồ Chí Minh), Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, Bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiểu (Bến Tre), Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang, Bệnh viện đa khoa Kiên Giang.

Trước đây, ở nhiều bệnh viện tuyến trên mới chỉ có hình thức chẩn đoán bệnh từ xa thông qua điện thoại nhưng hiệu quả không cao. Nay, thông qua hệ thống, các bác sĩ tuyến trên có thể xem trực tiếp hình ảnh của bệnh nhân để tư vấn, đưa ra hướng giải quyết chính xác. Điển hình cho hiệu quả hệ thống là Bệnh viện Nhi Đồng 1 đã giúp Bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiểu cứu sống một ca mắc bệnh tay chân miệng độ 4 không kịp chuyển lên bệnh viện tuyến trên.

Không chỉ giúp các bác sĩ tuyến cơ sở yêu cầu được tư vấn, hỗ trợ khi gặp bất cứ ca bệnh khó, vượt quá khả năng chuyên môn mà hệ thống cũng có thể sử dụng trong huấn luyện, đào tạo theo định kỳ hoặc đột xuất cho các đơn vị tuyến dưới để phục vụ tốt hơn bệnh nhân ở cơ sở. Qua đó, góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên tại TP Hồ Chí Minh khi mà hiện tại khoảng 30 đến 50% bệnh nhân điều trị nội trú là từ tỉnh khác chuyển lên.

Trong thời gian tới, hệ thống sẽ tiếp tục hoàn chỉnh và mở rộng, có thể nâng số bệnh viện hỗ trợ lên 11 và số tuyến nhận hỗ trợ lên 100 tuyến. Lợi ích hệ thống chẩn đoán và chữa bệnh từ xa đã rõ và có thể nhân rộng cả nước; tuy nhiên các cơ quan chức năng vẫn chưa xây dựng được cơ sở pháp lý quy định quyền lợi cũng như trách nhiệm của các bên liên quan. Người bệnh với những đặc tính sinh học vốn thay đổi nên khó đảm bảo tất cả các ca chẩn đoán, chữa bênh từ xa đều thành công mỹ mãn. Một ca mổ ở tuyến dưới, các bác sĩ ở tuyến trên nhìn qua màn hình chỉ đạo, nếu chuyện không may xảy ra thì trách nhiệm thuộc về ai? Vậy nên, song song với mở rộng hệ thống, các bên liên quan cần sớm xây dựng quy chế để trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt nhằm vận hành hệ thống hiệu quả nhất. 

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

ĐỌC "VỊ TƯ LỆNH CHIẾN TRƯỜNG TRƯỜNG SƠN-ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH"


Trong số các cuộc chiến tranh ở thế kỷ XX, chưa hề có một tuyến chi viện chiến lược từ hậu phương đến tiền tuyến có quy mô lớn và kéo dài dưới mưa bom bão đạn như tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh. Không chỉ có nhân dân ta tự hào về đường Hồ Chí Minh huyền thoại, mà nhiều nhà nghiên cứu chiến tranh Việt Nam trên thế giới còn cho rằng: Quân đội Mỹ thất bại tại Việt Nam có nguyên nhân lớn là do không thể ngăn chặn “mạch máu” chi viện liên tục của miền Bắc xã hội chủ nghĩa cho tiến tuyến lớn miền Nam thông qua đường Hồ Chí Minh.

Nhưng chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, khoảng thời gian đó, một thế hệ người Việt Nam trưởng thành và nhiều người trong số đó chưa thật hiểu rõ về tầm vóc to lớn và hiệu quả mà con đường huyền thoại đóng góp cho ngày toàn thắng của dân tộc. Việc Nhà xuất bản Quân đội nhân dân vừa mới tái bản cuốn sách “Vị Tư lệnh chiến trường Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh” của Đại tá Phan Hữu Đại (Nguyên Chính ủy Sư đoàn ô tô cơ động vận tải 571) thêm một lần nữa muốn bạn đọc hôm nay, nhất là thế hệ trẻ hiểu thêm về ý nghĩa lịch sử của đường Hồ Chí Minh và hình dùng được biết bao mồ hôi và xương máu của thế hệ cha anh đã đổ xuống trên con đường mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Tác phẩm mang nhan đề “Vị Tư lệnh chiến trường Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh” tức nói về Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Tư lệnh Đoàn 559-một vị tướng tài ba, trí tuệ và bản lĩnh đã có công đầu chỉ huy bộ đội các binh chủng hợp thành đánh thắng kẻ thù, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện sức người, sức của cho miền Nam; nhưng đồng thời cũng mô tả theo chiều sâu cuộc chiến đấu của bộ đội Trường Sơn cùng một mảng lớn về nghệ thuật quân sự được vận dụng một cách sáng tạo trên chiến trường Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh mà tác giả Phan Hữu Đại đã thể hiện một cách phong phú và sinh động. Đặc biệt, thông qua phần III cuốn sách “Tỏa sáng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Trường Sơn” được chia làm 9 phần nhỏ khiến người đọc dễ hình dung về quá trình hình thành và phát triển của đường Hồ Chí Minh, cách thức tổ chức binh lực và cách quân và dân ta đánh thắng sự phá hoại tuyến đường của đế quốc Mỹ.

          Cuốn sách chỉ dày hơn 200 trang nhưng với tư cách một người trong cuộc, Đại tá Phan Hữu Đại đã có điều kiện khái quát những công lao to lớn của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên gắn với đường Trường Sơn huyền thoại trong việc xây dựng nên một nền nghệ thuật vận tải chiến lược quân sự, góp phần quan trọng vào nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tuy không phải là người nghiên cứu lịch sử hay nghệ thuật quân sự chuyên nghiệp nhưng tác giả cũng đã đưa ra những nhận xét chuẩn xác trên những tư liệu thực chứng.

Thiết nghĩ, những vấn đề được đề cập trong cuốn sách này có thể đem lại kinh nghiệm quý báu trong công cuộc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc; đồng thời giúp bạn đọc-những ai mong muốn hiểu biết về thân thế và sự nghiệp của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên-một vị tướng tiêu biểu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

LINH THIÊN


Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

TIẾNG VỌNG TỪ BỜ KIA THẾ GIỚI



Nhân sự kiện “Diễn đàn Văn học Việt-Mỹ: Nhìn lại và phát triển” do Hội Nhà văn Việt Nam và Trung tâm William Joiner (Đại học Massachusetts, Mỹ) tổ chức; mới đây, NXB Hội Nhà văn cũng vừa phát hành tập thơ Mỹ với nhan đề “Tiếng vọng từ bờ kia thế giới” gồm hơn 80 bài thơ của 11 tác giả. Vào năm 2004, tuyển tập thơ Mỹ “15 nhà thơ Mỹ thế kỷ XX” (NXB Hội Nhà văn) cũng đã gây được tiếng vang vì đã giới thiệu một cách có hệ thống những đỉnh cao thơ ca Mỹ trong thế kỷ XX. Lần nay, “Tiếng vọng từ bờ kia thế giới” mang giá trị khác bởi đây là tập thơ của các nhà thơ phần lớn là cựu binh Mỹ từng tham gia trong chiến tranh Việt Nam.

Với những cựu binh Mỹ tiến bộ, cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến phi nghĩa khiến những người trong cuộc bị ám ảnh tinh thần dai dẳng thường được gọi là “hội chứng chiến tranh Việt Nam”. Như một lẽ tất yếu, chiến tranh Việt Nam nhanh chóng trở thành một đề tài của văn học nghệ thuật ngay khi “mặt nạ” nhân nghĩa của giới cầm quyền của Mỹ bị lột trần. Với thơ ca, cuộc chiến Việt Nam hiện ra với tất cả sự khắc nghiệt thử thách không chỉ thể xác mà còn cả lương tâm con người:

“Cô bé bị đốt sau võng mạc của anh
Không gì có thể thay đổi được điều đó
Kể cả tình yêu nhân hậu của em
cả không khí mát lành sau mưa
cả rừng cỏ xanh đang mở ra trước mắt chúng ta
tất cả không thể chối bỏ được sự thật đó.”
(Bài thơ “Bài hát bom Na-pan” của Bruce Weigl)

Sau khi chiến tranh kết thúc, những nhà thơ-cựu chiến binh Mỹ yêu chuộng hòa bình kêu gọi Chính phủ Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Một số cựu binh còn thành lập Trung tâm William Joiner để làm cầu nối cho văn hóa và văn học hai nước. Song hành với quá trình giao lưu văn học Việt-Mỹ, thơ của các cựu binh Mỹ cũng có bước chuyển trong nội dung nhằm khám phá cuộc sống và tâm lý đất nước và con người từng ở bên kia chiến tuyến. Chỉ có thấu hiểu lẫn nhau mới có thể xây dựng lòng tin và thơ đã trở thành một “cầu nối” vượt qua những biên giới vô hình của sự hận thù như như những câu thơ đầy khắc khoải trong bài thơ “Chơi bóng rổ với Việt Cộng” của nhà thơ Kevin Bowen tặng nhà văn Nguyễn Quang Sáng:

“Giờ ông đến gõ cửa nhà ta
Gọi chúng ta ra sân chơi vài đường bóng rổ
Sau một hồi ông vụng về, bỡ ngỡ
Những đường bóng gọn gàng tới đích đẹp làm sao
...
Ông nhìn chúng ta mỉm cười
Đó là món quà để con người hạ súng”

Sau những chuyến đi trở lại Việt Nam, những cựu binh Mỹ đã cảm nhận sâu hơn về tính nhân bản của dân tộc Việt Nam-một dân tộc sẵn sàng khép lại quá khứ để hướng tới tương lai. Nhờ đó, những câu thơ của những cựu binh Mỹ trở nên thú vị nhờ cái nhìn từ bên ngoài đã phát hiện nhiều chi tiết bất ngờ ra trong cuộc sống hậu chiến:

“Câu chuyện về sự ra đời của đứa con đầu lòng:
Anh đã trèo tường bệnh viện để ngó xem vợ.
Anh kể đã tràn ngập niềm vui khi nhìn thấy con không bị tật nguyền
Anh đi được nửa đường về mới nhận ra chưa hỏi xem đứa trẻ là trai hay gái.”
(Bài thơ “Bài ca Dioxin” của Kevin Bowen)

          Đọc tập thơ của những nhà thơ từ bờ kia thế giới khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ nhưng nội dung các bài thơ lại quy về một thông điệp của tình bạn giữa người với người như nhà thơ Hữu Thỉnh (Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam) đã viết trong lời giới thiệu: “Họ đã đem đến cho chúng ta tình bạn, bằng thơ, bằng mọi hoạt động xã hội nhiều khi vượt ra khỏi khuôn khổ tư duy cũ kỹ và trịch thượng ngự trị lâu đời trên đất nước họ”.

HÀM ĐAN



Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

THỜI ĐÀM (XX): HỖ TRỢ XUẤT KHẨU VĂN CHƯƠNG VIỆT

Mấy năm qua, việc dịch văn học nước ngoài sang tiếng Việt đã có bước phát triển vượt bậc. Ngoài các loại sách best-seller, nhiều kiệt tác văn chương thế giới như: “Nếu một đêm đông có người lữ khách” của I. Calvino, “Lolita” của V. Nabokov… cũng đã đến với độc giả Việt Nam. “Dịch xuôi” đã ổn nhưng ở chiều “dịch ngược”-tức dịch các tác phẩm Việt Nam ra nước ngoài không có tiến triển nào đáng ghi nhận. Dù đã có Hội nghị Quốc tế giới thiệu Văn học Việt Nam ra nước ngoài cách đây đã 2 năm, chuyện xuất khẩu văn chương Việt vẫn nằm trên giấy. Giống như tình trạng “Cha chung không ai khóc”, người trong giới văn chương ai cũng đau đáu chuyện xuất ngoại văn chương Việt nhưng không có một cơ quan nào chỉ huy công việc “dịch ngược”; hệ quả là chẳng ai làm công việc nói trên!

Tưởng chừng việc “dịch ngược” còn lâu mới tìm thấy lối ra thì bất ngờ Công ty TNHH Văn hóa và Truyền thông Lệ Chi (nhãn hiệu sách Chibooks) của dịch giả Nguyễn Lệ Chi đã ký hợp đồng làm đại diện cho 10 nhà văn đương đại là: Phan Hồn Nhiên, Trần Thu Trang, Cấn Vân Khánh, Bùi Anh Tấn, Vũ Đình Giang, Dương Bình Nguyên, Hồ Anh Thái, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Ngọc Tiến, Nguyễn Đình Tú, với 40 tác phẩm để chào bán ra nước ngoài trong vòng từ 8 đến 10 năm. Chibooks cũng sẽ đầu tư cho việc quảng bá thông tin và PR cho các tác giả tại nhiều quốc gia; ngược lại, Chibooks  nhận 10% giá trị hợp đồng bán bản quyền của mỗi tác phẩm. Trong năm 2012, Chibooks sẽ đi tham dự các Hội chợ sách quốc tế để chào bán bản quyền như: Hội chợ bản quyền sách Kuala Lumpur (Ma-lai-xi-a), Hội chợ sách quốc tế Bắc Kinh (Trung Quốc)… 

Khác với kiểu xuất khẩu hữu nghị do quan hệ cá nhân của các nhà văn đối với các NXB nước ngoài hoặc vì sự yêu thích của các dịch giả nước ngoài đối với tác phẩm văn học Việt Nam, dự án của Chibooks mang tính thương mại nên cần phải chiến lược bài bản mới có thể thành công. Được biết, công việc đầu tiên của Chibooks là dịch tóm tắt tác phẩm hoặc thậm chí dịch một chương đầu ra tiếng Anh, tiếng Trung… Và xây dựng cho mỗi tác giả, mỗi tác phẩm một hồ sơ riêng đầy đủ thông tin về sức ảnh hưởng trong xã hội, những bài báo đã đăng về tác giả hoặc tác phẩm… Công việc đầu tiên tưởng chừng chỉ là chuyện nhỏ lại hết sức quan trọng vì hầu như văn học Việt Nam không có tiếng vang nào với bạn bè quốc tế. Thế mới có chuyện, trong lần giao lưu văn học ở Hà Nội, giới văn chương Thủ đô ngạc nhiên tột bậc vì được một nhà Việt Nam học người Pháp cho biết danh tính một cuốn tiểu thuyết “thường thường bậc trung” lại được xem là tác phẩm văn học lớn của Việt Nam, trong khi nhiều tác phẩm có giá trị hơn lại không hề được biết tới.

Triển vọng của dự án xuất khẩu văn chương Việt có thể xem là khả quan vì Chibooks là đơn vị hiểu rõ các khâu mua bán bản quyền với các đối tác nước ngoài. Mặt khác, 40 tác phẩm mà Chibooks xuất khẩu ra nước ngoài đa phần đều đề cập đến cuộc sống và con người Việt Nam đương đại mới mẻ. Đất nước Việt Nam thường chỉ được biết đến thông qua chiến tranh Việt Nam nổi tiếng, còn một nước Việt Nam đang vươn lên mạnh mẽ trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì chắc chắn không nhiều người nước ngoài biết rõ. Cho nên, các tác phẩm sẽ đáp ứng thói chuộng lạ (exotisme) của độc giả nước ngoài. Vô hình trung dự án cũng sẽ quảng bá hình ảnh đất nước hiệu quả, trong bối cảnh các loại hình văn hóa khác như điện ảnh hay âm nhạc chưa đủ tầm vượt ra ngoài biên giới hình chữ S.

Dự án xuất khẩu văn chương Việt là một nỗ lực đơn độc của một đơn vị tư nhân; thiết nghĩ, các cơ quan chức năng có thể hỗ trợ dự án như các nước khác vẫn đang thực hiện. Ví dụ như ở Hung-ga-ry có Quỹ sách Hung-ga-ry là một trung tâm thông tin văn học và hỗ trợ xuất bản được Bộ Văn hóa Hung-ga-ry thành lập. Quỹ này ngoài hỗ trợ các NXB của Hung-ga-ry còn trợ giúp tài chính cho các NXB nước ngoài muốn dịch và phát hành tác phẩm văn học Hung-ga-ry. Quỹ từng hỗ trợ tài chính để tiểu thuyết nổi tiếng “Không số phận” của nhà văn Hung-ga-ry Kertész Imre (Nobel Văn học 2002) xuất bản sang tiếng Việt năm 2010. Việt Nam đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa tại nước ngoài để quảng bá hình ảnh đất nước, vậy tại sao một dự án có nhiều lợi ích thiết thực như dự án xuất khẩu văn chương Việt lại chưa được hỗ trợ?
HOÀNG BÌNH PHƯƠNG      

Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012

FRANZ KAFKA, THIÊN TÀI ĐƠN GIẢN



Giới nghiên cứu văn học đều xem nhà văn Pháp Marcel Proust (1871-1922), nhà văn Ai-len James Joyce (1882-1941) và nhà văn Séc Franz Kafka (1883-1924) là “tam vị” thiên tài cách tân văn xuôi thế giới trong thế kỷ XX. Marcel Proust và James Joyce thường chỉ được một số ít người đọc yêu thích do lối viết của hai ông quá khó đọc; ngược lại, các tác phẩm của Franz Kafka rất dễ đọc và dễ hiểu.

F. Kafka là người gốc Do thái sinh ra tại TP Pra-ha (thời bấy giờ thuộc Đế quốc Áo-Hung) trong một gia đình thượng lưu. F. Kafka thông thạo tiếng Séc nhưng ông chỉ viết văn bằng tiếng Đức nên nhiều người vẫn xem ông là “vị vua được ngầm tôn vinh của văn xuôi Đức”, dù Cộng hòa Séc hiện nay xem ông là đại văn hào của đất nước và đặt một giải thưởng văn chương danh giá nhất mang tên Franz Kafka.

F. Kafka bẩm sinh cực kì thông minh, hơn 20 tuổi đã đỗ tiến sĩ luật nhưng ông chọn làm công chức bình thường để có thời gian viết văn. Sự nhập cuộc của Franz Kafka vào sinh hoạt văn chương cũng hạn chế, thậm chí trước khi chết vì bệnh lao ông còn nhờ người bạn thân Max Brod đốt hết các bản thảo. Thật may, Max Brod đã không theo lời dặn dò; nhờ đó, người đọc sau này mới khám phá một thiên tài văn chương nhạy cảm đến mức bệnh hoạn.

Những công trình về tiểu sử F. Kafka thường nhấn mạnh đến hai yếu tố ảnh hưởng đến sự nghiệp của ông là nguồn gốc Do thái-dân tộc tha hương và chấn thương tâm lý thủa bé do sống cùng người cha hà khắc. Quả thật, đọc các tác phẩm của Kafka, dễ dàng nhận thấy những ẩn dụ bắt đầu từ hai yếu tố nói trên. Chẳng hạn, nhân viên đo đạc K.trong tiểu thuyết “Lâu đài” (Trương Đăng Dung dịch, NXB Văn học, 1998) được mời đến lâu đài để làm việc nhưng anh không thể vào được lâu đài như một đứa bé bị bỏ rơi, bị ngầm trừng phạt vô cớ. Ngay cả các tên nhân vật như K., Josef K., Samsa (biến âm Kafka) cũng mang tính quy chiếu đến bi kịch cá nhân của F. Kafka.  
          F. Kafka khiến người ta kinh ngạc vì dường như ông tiên đoán được tương lai. Trong tiểu thuyết “Vụ án” (Phùng Văn Tửu dịch, NXB Văn hóa Thông tin, 2002), vào một buổi sáng, hai người mặc đồ đen đến nhà Josef K. tuyên bố anh ta có tội mà không hề giải thích và gần 1 năm sau giết Josef K. một cách thản nhiên. Cốt truyện này dường như tiên đoán được sự kết án vô cớ và giết hại thường dân vô tội của Đức quốc xã sau này. Thật ra, F. Kafka không có tài tiên tri mà chẳng qua ông nhìn thấu được sự tan rã các mối liên kết cuộc sống xã hội tiền hiện đại. Ông nhận ra xã hội hiện đại sẽ trở nên vô tình do kỹ thuật hoá và quan liêu hoá. 
Tất nhiên, F. Kafka là một nhà văn nên ông thể hiện các thông điệp thông qua hình tượng và hình ảnh chứ không bằng khái niệm, các mô hình nghiên cứu như nhà khoa học nhân văn. Để diễn đạt thế giới hiện đại vô tình, ông sáng tạo ra tình trạng con người lạc vào mê cung bị chi phối bởi thiết chế đầy quyền lực và bí ẩn thông qua hình tượng lâu tài, tòa án... Nhờ sự trừu tượng hóa nhân vật (nhân vật bị mất danh tính, tiểu sử chỉ còn lại tên gọi là ký hiệu như K.) và xóa nhòa tính cụ thể không gian và thời gian (không biết câu chuyện xảy ra thời điểm nào, ở địa danh nào cụ thể) nên các tác phẩm của F. Kafka có tính phổ quát cao, mang tính điển hình hơn hẳn chủ nghĩa hiện thực đang thống trị văn chương đương thời.

Vị thế độc nhất vô nhị của F. Kafka trong văn chương được định danh vì ông được xem là nhà văn đầu tiên sử dụng tính phi lý là đối tượng nhận thức khách quan ẩn đằng sau đời sống bề ngoài hợp lý. Cuộc cách mạng văn chương của Kafka còn thông qua lối viết đặc biệt thường được gọi là “lối viết độ không” đầy dửng dưng, khách quan đến mức lạnh lùng vô cùng thích hợp với nội dung về cái phi lý.

Bề ngoài truyện của Kafka có vẻ hoàn toàn bình thường thậm chí nếu đọc lướt có thể xem là nhạt nhẽo do ông vẫn giữ toàn bộ cấu trúc truyền thống của giao tiếp ngôn ngữ với tính mạch lạc và logic cú pháp nhưng ông đã đưa vào tính phi logic, tính rời rạc và phi lý của nội dung. Hiệu quả đặc biệt lối viết kiểu F. Kafka là tất cả đều rõ ràng, không có gì khó hiểu ngoài một biến cố thường ở đầu truyện. Ví dụ, trong truyện vừa kinh điển “Hóa thân” (Tuyển tập Franz Kafka, NXB Hội Nhà văn, 2003), ngay câu đầu tiên là một sự cố biến dạng: “Một buổi sáng tỉnh giấc băn khoăn, Gregor Samsa nằm trên giường thấy mình biến thành một con côn trùng khổng lồ”. Điều lạ lùng nằm ở điểm dù trong hình hài con bọ nhưng tâm tính G. Samsa vẫn là con người và anh ta dần thích nghi với hình hài con bọ như chưa hề có sự cố hóa thân. Khác với motif người hóa thành động vật trong truyện cổ tích (người hóa thành động vật sau đó lại thành người như truyện “Tấm Cám” của Việt Nam), con bọ-người G. Samsa chỉ có thể có kết cục là cái chết để giải thoát do không thể trở lại thành người, nghĩa là cái phi lý biến thành cái bình thường hàng ngày. Và như vậy, F. Kafka cũng phần nào ngầm phê phán sự tha hóa bản tính tốt đẹp của con người dưới tác động của hoàn cảnh. Sự phi logic và sự phi lý bắt đầu khi con người tỉnh giấc, đó được xem là “chìa khóa” để hiểu kỹ xảo thiên tài đơn giản đến không ngờ của F. Kafka.    

          Những tư tưởng và thủ pháp độc đáo của F. Kafka ảnh hưởng lớn đến hầu hết các nhà văn trong thế kỷ XX và cả ở các loại hình nghệ thuật khác sử dụng yếu tố huyền thoại và huyễn tưởng. Vì vậy, thực ra chiều kích F. Kafka vượt khỏi phạm vi văn chương để ông là một trong những người mở đường cho nghệ thuật hiện đại.

          HÀM ĐAN

Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2012

CÙNG BÀN LUẬN (VII): NỖ LỰC ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH


Dù chưa phải mùa cao điểm du lịch nhưng mỗi ngày TP Hội An (tỉnh Quảng Nam) vẫn đón hàng nghìn khách ghé thăm, chủ yếu là khách nước ngoài. Du khách du lịch Hội An không chỉ du ngoạn phố cổ, thưởng thức ẩm thực, ngắm đèn lồng hoa đăng rực rỡ trong mỗi đêm rằm, mà còn được trải nghiệm trong một hình thức du lịch hoàn toàn mới: “Một ngày làm nông dân phố cổ”. Bỏ ra khoản phí từ 3 đến 5 triệu đồng, các du khách phương xa sẽ đội nón lá, mặc áo nhà nông trực tiếp xắn quần lội ruộng cày cấy, trồng rau và tham gia các hoạt động xay lúa, giã gạo, làm bánh… như một người nông dân Việt Nam đích thực. Hiệu quả bước đầu của hình thức du lịch trên là tích cực khi những du khách nước ngoài đều tỏ ra thích thú được tập làm nông dân Việt Nam chỉ trong vài giờ ngắn ngủi.

Lợi ích tour du lịch này là tăng thời gian lưu trú của khách du lịch, trực tiếp làm gia tăng giá trị nguồn thu. Tour du lịch này còn có điểm độc đáo khi bản thân toàn bộ cộng đồng người dân bản địa được tham gia làm du lịch; giúp cư dân vừa bảo lưu truyền thống văn hóa, vừa chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đặc biệt hơn, thông qua tour du lịch bản thân Hội An nói riêng và ngành du lịch Việt Nam nói chung có thể giới thiệu rộng rãi nền văn minh lúa nước đã có lịch sử hàng ngàn năm.

Hình thức du lịch mang tính cộng đồng, giúp du khách dễ dàng hòa mình vào các hoạt động như người bản địa đã có từ lâu trên thế giới. Ngay ở một số nước Đông Nam Á như In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a, vài năm trước, đã hình thành những khu du lịch sinh thái mà thực chất là những làng xóm chuyên canh lúa nước. Câu hỏi được đặt ra là vì sao nước ta có truyền thống trồng lúa nước lại đi sau ở hình thức du lịch này? Câu trả lời là các địa phương ở nước ta chưa nhận thức được tầm quan trọng của các loại hình thức du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái để nỗ lực đưa các hình thức du lịch mới vào khai thác. Tình trạng chung trong hoạt động du lịch của đa số các địa phương ở nước ta vẫn dừng lại ở việc “ăn sẵn” vào các di sản vật thể hoặc cảnh quan tự nhiên-xem đây là thứ “vốn” duy nhất để phát triển du lịch.

Được biết, tour du lịch “Một ngày làm nông dân phố cổ” ở TP Hội An là do chàng thanh niên Trần Văn Khoa (Giám đốc Công ty TNHH lữ hành Khoa Trần Hội An Eco-Tour) thực hiện. Tour du lịch tưởng chừng có vẻ đơn giản này để đi vào thực tế không hề dễ dàng. Dự án của Khoa sẽ không thực hiện được nếu chính quyền Hội An không có tầm nhìn xa, quyết giữ lại các khoảng xanh và đồng ruộng để phục vụ du lịch bền vững. Có thể xem, việc đưa hình thức du lịch “Một ngày làm nông dân phố cổ” đã chứng minh TP Hội An là một trong những địa phương đi đầu trong việc đa dạng sản phẩm du lịch, biết kết hợp hài hòa giữa lợi thế sở hữu di sản thiên nhiên thế giới phố cổ Hội An với nét văn hóa bản địa độc đáo.

Kinh nghiệm từ tour du lịch “Một ngày làm nông dân phố cổ” ở TP Hội An có thể áp dụng ở bất cứ nơi đâu trên đất nước ta vì mỗi địa phương đều có nét văn hóa và cách thức sinh hoạt riêng. Vấn đề là những người làm du lịch ở từng địa phương có thực sự thay đổi nhận thức, quyết tâm đa dạng hóa sản phẩm du lịch để hướng tới một nền du lịch bền vững hay không?

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

RYUNOSUKE AKUTAGAWA, NGƯỜI CHA CỦA TRUYỆN NGẮN NHẬT BẢN

 (Tuyển tập truyện R. Akutagawa, Vũ Minh Thiều dịch, NXB Gió Bốn Phương, Sài Gòn, 1967)
Trong thời trị vì của Thiên hoàng Minh Trị (1867-1912), Nhật Bản đã tiến hành công cuộc hiện đại hóa một cách mạnh mẽ để trở thành một đế quốc. Với tư tưởng “thoát Á nhập Âu”, đời sống văn hóa tinh thần nói chung và văn học nói riêng ở xứ sở mặt trời mọc bước sang thời hiện đại một cách mau lẹ. Sau thời gian đầu làm quen, mô phỏng văn học phương Tây, bước sang những năm đầu thế kỷ XX, văn học Nhật Bản bắt đầu có những sáng tạo kết tinh. Một trong những cái tên nổi bật, đặt nền móng cho văn học hiện đại Nhật Bản là nhà văn Ryunosuke Akutagawa (1892-1927). Tuy cuộc đời ngắn ngủi nhưng R.Akutagawa đã để lại những truyện ngắn được liệt vào hàng kiệt tác, đưa ông đến danh xưng "Người cha của truyện ngắn Nhật Bản".       
    Ở đất nước có truyền thống văn chương duy mỹ và duy cảm như Nhật Bản, hoàn cảnh cuộc sống thường xuyên có tác động hữu hình tới con người sáng tạo của nhà văn. Thế giới nghệ thuật u buồn và bi quan của R.Akutagawa có lẽ xuất phát việc sớm nếm trải những bi kịch cuộc đời. Khi ông 1 tuổi, bà mẹ phát bệnh điên và ông về làm con nuôi ông cậu là nhà văn Michiaki Akutagawa. Thời niên thiếu của R.Akutagawa khá êm ấm, ông được học hành đàng hoàng và học rất giỏi. Ông tỏ ra có khiếu văn chương từ nhỏ, 7 tuổi đã biết làm thơ Haiku. Tới những năm tuổi 20, ông học văn chương Anh tại Đại học Đế quốc Tokyo và bắt đầu nghiền ngẫm các tác phẩm của các nhà văn phương Tây như: Anatole France, Henri Bergson, August Strindberg… Đây cũng là giai đoạn ông viết những truyện ngắn đầu tay trong sáng, giàu chất thơ như truyện ngắn “Nước dòng sông Cái”. 
Khoảng thời gian từ năm 1916 đến 1925, bút lực của R.Akutagawa tỏ ra sung mãn và chín muồi với hàng loạt truyện ngắn xuất sắc. Song, sức khỏe của ông suy giảm rõ rệt với đủ thứ bệnh về thần kinh, tim và tiêu hóa. Năm 1927, người anh vợ của R.Akutagawa tự sát sau khi đốt nhà để lại món nợ lớn khiến ông phải gắng sức thanh toán. Bế tắc trong đời sống cộng với cạn cảm hứng sáng tạo, đêm 24-7-1927, ông uống thuốc ngủ tự tử. 
Sau khi qua đời, tên tuổi của R.Akutagawa mới trở nên nổi tiếng thông qua bộ phim “Rashomon” (Cổng Rasho) của “Hoàng đế điện ảnh Nhật Bản” Akira Kurosawa (1910-1998). Năm 1951, bộ phim “Rashomon” chuyển thể từ truyện ngắn “Trong rừng trúc” (tên gọi khác là “Bốn bề bờ bụi”) của R.Akutagawa đã giành được Giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice (I-ta-li-a) và giải Oscar đặc biệt (tương đương giải Oscar “Phim nước ngoài xuất sắc nhất” hiện nay). Giới phê bình phương Tây mới phát hiện ra bậc thầy truyện ngắn Nhật Bản ngang tầm với những cây bút truyện ngắn cự phách xuất thân từ châu Âu.
    Người Việt Nam biết đến R.Akutagawa cũng thông qua phim “Rashomon” chiếu ở Hà Nội ngay sau khi giải phóng Thủ đô (1954). Từ thập niên 1960 đến nay, các truyện ngắn của R.Akutagawa được dịch rải rác. Mới nhất là tuyển tập truyện ngắn của R.Akutagawa có nhan đề “Trinh tiết” (Nhiều người dịch, NXB Văn học&Alphabooks, 2006); tuyển tập này đáng đọc hơn cả vì được dịch từ nguyên bản tiếng Nhật, và nhiều truyện ngắn chưa từng dịch ra tiếng Việt trước đó.
    Di sản văn chương độc đáo của R.Akutagawa thể hiện qua hai chặng đường sáng tạo riêng biệt. Trong giai đoạn đầu, R.Akutagawa mượn nội dung của các truyện cổ trong nước và nước ngoài làm nền tảng cho các truyện ngắn. Như trong truyện ngắn “Sợi tơ nhện”, R.Akutagawa đã mượn cốt truyện từ một truyện cổ Ấn Độ, nhưng ông đã sáng tạo rất nhiều khi miêu tả đối lập cảnh giữa Địa Ngục và cõi Niết Bàn vô cùng sinh động. Mặt khác, ông sắp xếp diễn biến câu chuyện một cách tinh tế khiến truyện ngắn giàu kịch tính, tạo căng thẳng cho người đọc suốt cả truyện ngắn. Sáng tác thời kỳ đầu của R.Akutagawa mang tính chất hiện thực mà sự đa dạng về nội dung của các truyện ngắn lớn hơn bất cứ tác phẩm của nhà văn nào cùng thời với ông, phản ánh sự nhạy cảm nội tâm và chiều sâu tri thức của một người am hiểu sâu sắc văn chương Nhật Bản truyền thống và văn học Trung Hoa cổ điển. Những sáng tác của R.Akutagawa trải rộng đề tài trên rất nhiều bình diện xã hội mang tính dụ ngôn sâu sắc.
    Thời kỳ sáng tác thứ hai của R.Akutagawa có sự đổi mới về hình thức kể chuyện triệt để. Tuy cốt truyện không có gì mới lạ nhưng cách kể chuyện của ông ảnh hưởng từ cách kể chuyện đa dạng của văn học phương Tây khiến sự cách tân đi rất xa so với các truyện ngắn Nhật Bản đương thời. Truyện ngắn tiêu biểu nhất cho thời kỳ sáng tác thứ hai của R.Akutagawa là truyện ngắn “Trong rừng trúc”. Truyện ngắn xoay quanh cái chết của một người đàn ông. Những lời khai của các nhân vật liên quan gồm: Người tiều phu, nhà sư, tên cướp, người vợ và người đàn ông-người chồng đã chết thông qua người hầu đồng...; không hề giống nhau khiến quan tòa đang xét xử vụ án-hay đúng ra là chính người đọc hoang mang không hiểu đâu là nguyên nhân dẫn đến cái chết của người chồng. Tư tưởng của truyện ngắn là sự hoài nghi tuyệt đối của R.Akutagawa về cái gọi là sự thật. Sự thật có lẽ không tồn tại mà chỉ hiện hữu qua khúc xạ tâm lý mỗi nhân vật. Chính cấu trúc phân mảnh và lắp ghép của truyện “Trong rừng trúc” đã ảnh hưởng rất lớn đến nghệ thuật tự sự hiện đại thông qua một loạt các tác phẩm lớn là tiểu thuyết “Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa” của Đới Tư Kiệt hay bộ phim “Anh hùng” của đạo diễn Trương Nghệ Mưu...
   Ngày nay, những thành tựu nghệ thuật của R.Akutagawa không còn quá xa lạ; nhưng tinh thần tiền phong trong sáng tạo của R.Akutagawa vẫn mãi là niềm tự hào của văn chương Nhật Bản thời hiện đại.

      HÀM ĐAN

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2012

OSCAR 2012: TRỞ LẠI GIÁ TRỊ CỔ ĐIỂN

Không có bất ngờ

Sáng 27-2 theo giờ Việt Nam, tâm điểm của giới truyền thông đổ dồn về Nhà hát Kodak ở Los Angeles (Mỹ) nơi diễn ra Lễ trao giải Oscar lần thứ 84. Lễ trao giải Oscar năm nay không có nhiều đổi mới, có chăng là các màn xen giữa các phần trao giải phong phú hơn. Người dẫn chương trình là “cố nhân” Billy Crystal-từng 8 lần đảm nhận M.C cho Oscar, đỡ “nhạt” hơn hẳn cặp dẫn chương trình gượng năm ngoái là James Franco và Anne Hathaway.

Điều quan trọng trong mỗi mùa Oscar vẫn là chất lượng các bộ phim. Năm nay, chỉ có 9 phim được đề cử thay cho con số 10 ở hạng mục Phim hay nhất, khiến nhiều người vội kết luận chất lượng các bộ phim Oscar 2012 kém đi. Nhưng nếu theo dõi kỹ, dễ dàng nhận ra rất hiếm có mùa Oscar nào quy tụ nhiều phim hay như Oscar 2012. Chất lượng các bộ phim đồng đều đến mức, có ít nhất 3 đến 4 phim hoàn toàn xứng đáng được vinh danh, thay vì cuộc đua “song mã” như các năm trước.

Oscar 2012 vắng bóng các bộ phim “bom tấn” thay vào đó các bộ phim đều tập trung vào đời tư thế sự, cố gắng khai thác tối đa trình độ diễn xuất của diễn viên và tư tưởng của bộ phim muốn gửi gắm. Nổi bật nhất là bộ phim Pháp The artist (Nghệ sĩ), bộ phim câm đen trắng quay lại với thời kỳ sơ khai của điện ảnh với lối diễn xuất sử dụng ngôn ngữ hình thể tinh tế.

Ở các cuộc đua tiền Oscar như: Quả cầu vàng, Cesar (Pháp), BAFTA (Anh)…, Nghệ sĩ đều tỏ ra “vô đối”. Ở Cannes 2011, Nghệ sĩ đã thất bại trên sân nhà trước kiệt tác điện ảnh của Mỹ The tree of life (Cây đời). Tại Oscar 2012, Nghệ sĩ đã trở nợ sòng phẳng khi cùng phim Hugo đoạt nhiều giải nhất (5 giải), trong đó có ba giải quan trọng là: Phim hay nhất, Nam diễn viên chính xuất sắc nhấtĐạo diễn xuất sắc nhất. Lý do Cây đời trắng tay tại Oscar năm nay là vì bộ phim này cần nhiều thời gian để nghiền ngẫm, nằm ngoài truyền thống của Oscar là vinh danh những bộ phim đơn giản mà sâu sắc.

Những hạng mục còn lại đều không có bất ngờ, Nghệ sĩ sẽ không là Phim hay nhất nếu không có sự diễn xuất xuất thần của tài tử Jean Dujardin. Tương tự, linh hồn bộ phim The iron lady (Bà đầm thép) là huyền thoại Meryl Streep, thủ vai cựu nữ Thủ tướng Anh Margaret Thatcher. Với kinh nghiệm hơn 30 năm trong nghề, Meryl Streep xứng đáng giành giải Oscar cho hạng mục Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất vì đã thể hiện nhiều tính cách trong một con người ở nhiều thời điểm khác nhau, đặc biệt khi cựu Thủ tướng về già sống lủi thủi trong căn nhà với những kỷ niệm.

Dù còn nhiều nuối tiếc cho những tên tuổi tay trắng rời cuộc như đạo diễn Steven Spielberg, Terrence Malick; các diễn viên George Clooney, Brad Pitt, Bérénice Bejo…; tựu chung, Oscar năm nay đã làm hài lòng được số đông công chúng vì đã trao những tượng vàng cho những bộ phim và diễn viên gây được cảm tình cho người xem suốt thời gian qua.

Thay đổi khuynh hướng

Các bộ phim Oscar 2012 đã thay đổi khuynh hướng khi trở lại những giá trị cổ điển của nghệ thuật thứ bảy đó là: sức mạnh biểu cảm hình ảnh, kết cấu đơn giản nhưng đa nghĩa. Sự trở lại này đạt được hiệu quả tích cực không ngờ, khán giả sau thời gian mãn nhãn với các phim “bom tấn” đơn nghĩa, được xem những bộ phim mới lạ mà thân quen như lâu ngày xem lại một bộ phim kinh điển.

Trong hầu hết các bộ phim, các nhân vật chính đều rơi vào tình cảnh bi đát, nhưng cuối cùng nhờ sự nỗ lực của bản thân và giúp đỡ của người xung quanh, cuộc sống của các nhân vật trở lại tươi sáng. Như trong phim Nghệ sĩ, George Valentin là nam diễn viên phim câm đang ở đỉnh cao thì phim có tiếng đột ngột ra đời và anh trở thành người thừa. Nhưng cuối cùng với sự giúp đỡ của nữ diễn viên Peppy Miller-người được anh dìu dắt ở thủa hàn vi; George Valentin tái xuất trên màn ảnh.

Nhưng để đoạt giải Oscar Phim hay nhất đánh bại 8 bộ phim còn lại, Nghệ sĩ phải sử dụng thêm cách biểu đạt độc đáo. Bề ngoài mượn hình thức phim câm, Nghệ sĩ lại đạt được hiệu quả tương tự các bộ phim tâm lý thời hiện đại nhờ tiết tấu phim rất nhanh, nội dung ngồn ngộn kịch tính. Tài năng của những nhà sản xuất là tối giản hóa ý nghĩa hành động nhân vật nên dù phim câm, khán giả cũng có thể hiểu được diễn biến câu chuyện.

Không chỉ riêng Nghệ sĩ, các bộ phim dự Oscar thoạt xem có vẻ đơn giản trong nội dung nhưng cách kể câu chuyện không dễ dãi. Tiêu biểu nhất là phim The help (Người giúp việc) kể về câu chuyện của cô nhà báo da trắng tiếp cận người giúp việc da đen Aibileen Clark và những nữ giúp việc da đen khác, để ghi lại vui buồn nghề giúp việc. Cấu trúc của phim tưởng chừng là cấu trúc đóng khi bắt đầu và kết thúc xoay quanh một cuốn sách về những người giúp việc da đen. Nhưng cuối phim lại gợi mở việc nhân vật Aibileen Clark viết một cuốn sách để thực hiện tiếp ước mơ về người con trai đã chết là trong gia đình sẽ có một người trở thành nhà văn. Rút cuộc, kết cấu phim là mở; và không rõ ai là người kể lại câu chuyện trong phim từ đầu đến cuối. Bộ phim lại phải hiểu khác đi, có thể phim là câu chuyện của một nhà văn xuất thân từ nghề giúp việc.

Dư âm của Oscar 2012 không phải sự hoành tráng các cảnh quay, kỹ xảo cách tân; nhưng với nội dung thấm đẫm tính nhân văn sâu sắc nên sẽ gây ám ảnh người xem lâu dài. Đặc biệt là thông điệp mà các nhà làm phim muốn chuyển tải là kêu gọi con người đoàn kết, không đầu hàng thực tại để bắt tay xây dựng tương lai tốt đẹp hơn như lời thoại của nhân vật Scarlett OHara trong bộ phim kinh điển Cuốn theo chiều gió: “Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới”.

BOX:

Một số giải thưởng khác của Oscar 2012: Nữ diễn viên phụ: Octavia Spencer (Người giúp việc), Nam diễn viên phụ: Christopher Plummer (Những người tập sự), Phim hoạt hình: Rango, Quay phim: Hugo, Chỉ đạo nghệ thuật: Hugo, Kịch bản gốc: Nửa đêm ở Paris, Kịch bản chuyển thể: Những người thừa kế, Phục trang: Nghệ sĩ, Hóa trang: Bà đầm thép, Phim nói tiếng nước ngoài: Sự chia ly (I-ran), Dựng phim: Cô gái có hình xăm rồng, Dựng âm: Hugo, Hòa âm: Hugo, Hiệu ứng hình ảnh: Hugo…

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 22 tháng 2, 2012

MARCEL PROUST, NGƯỜI CHIẾN THẮNG THỜI GIAN

("Dưới bóng những cô gái tuổi hoa"-tập II "Đi tìm thời gian đã mất", NXB Văn học in lần đầu 1992)
Đã 90 năm kể từ khi văn hào Pháp Marcel Proust (1871-1922) đi vào cõi vĩnh hằng; và cũng chỉ còn một năm nữa là tròn một thế kỷ, tập đầu tiên mang tên “Về phía nhà Swann” (1913) trong bộ tiểu thuyết bảy tập “Đi tìm thời gian đã mất” được xuất bản, mọi lời tuyên bố về một tiểu thuyết có thể tạo được cuộc cách mạng văn chương tương tự chỉ còn là những lời lẽ huênh hoang.

Thực ra, tiểu thuyết Pháp sau thời M. Proust cũng đã có những cách tân, như phong trào “Tiểu thuyết Mới” nhưng vẫn chưa đạt đến mức khiến các nhà văn đi sau không ngừng khiếp sợ và tự hiểu phải đi tìm một con đường sáng tạo khác. M. Proust đích thị là một “bóng ma” lởn vởn trong văn chương suốt thế kỷ XX!

Nhưng nếu biết về tiểu sử của M. Proust và dành thời gian nghiền ngẫm kiệt tác “Đi tìm thời gian đã mất”, những người viết sẽ không còn cảm giác “ngợp”, M. Proust sẽ như một “người bạn” đồng hành trong quá trình sáng tạo chông gai mà thú vị.

M. Proust đã giúp nhiều người trả lời câu hỏi đầu tiên: “Vì sao lại muốn viết văn?”, bằng bộ tiểu thuyết “Đi tìm thời gian đã mất” đồ sộ 3000 trang co chữ 8. Kiệt tác của M. Proust chỉ là câu chuyện về thiên hướng viết văn của người kể chuyện từ lúc trẻ đến lúc trưởng thành, anh ta đã tìm lại được thiên đường quá khứ thông qua hành động viết. Như vậy, tiểu thuyết và rộng ra là văn chương là hoạt động thuần túy tinh thần phi vụ lợi. Ở ngoài đời thực, “người khổng lồ văn chương” M. Proust có thể chất vô cùng kém, suốt đời ông bị chứng hen suyễn hành hạ. Bệnh tật và ý thức cái chết thường trực đã khiến M. Proust cách ly hẳn với đời sống nhiều năm liền, viết liên tục suốt ngày đêm, M. Proust là một tấm gương “tử vì đạo”. Người ta có thể đặt giả thiết, nếu khỏe mạnh, M. Proust có thể chỉ xem văn chương là nghề tay trái để theo đuổi một nghề thời thượng hơn như bác sĩ, luật sư…; và gần như chắc chắn, M. Proust nhiều khả năng đã không thể cách tân tiểu thuyết đến mức gần làm “cạn kiệt” thể loại này. M. Proust cũng để lại bài học quý giá, đã là người sáng tạo nghĩa là không thỏa hiệp, cho dù tác phẩm có thể không được chào đón do quá mới lạ. Sinh thời, M. Proust đã tiên liệu “Đi tìm thời gian đã mất” phải cần đến nửa thế kỷ mới được đọc rộng rãi, nhưng không cần chờ lâu như vậy, ngay từ năm 1919, ông sống trong vinh quang khi giành được giải Goncourt-giải thưởng văn chương danh giá nhất nước Pháp cho tập hai “Dưới bóng những cô gái tuổi hoa” (Đây cũng là tập duy nhất trong “Đi tìm thời gian đã mất” được dịch sang tiếng Việt do Nguyễn Trọng Định dịch, NXB Văn học in lần đầu 1992, NXB Hội Nhà văn & Nhã Nam tái bản năm 2008). 

M. Proust cũng đã trực tiếp chứng minh: Một kiệt tác không nhất thiết phải liên quan đến một đề tài lớn. Khác với các tiểu thuyết thế kỷ XIX, trải suốt “Đi tìm thời gian đã mất”, M. Proust không đặt trọng tâm vào những sự kiện lớn của xã hội và cả biến cố hệ trọng của người kể chuyện trở thành cái cớ để làm thay đổi cốt truyện. Ví dụ nổi tiếng nhất là mẩu bánh madeleine: “Một lúc sau, lòng nặng trĩu vì đã qua một ngày buồn tẻ và trước viễn cảnh ngày hôm sau sẽ u ám, như một cái máy, tôi đưa lên một thìa nước chè trong đó tôi đã để mềm một mẩu bánh madeleine. Nhưng ngay đúng giây lát mà hớp nước lẫn với vụn bánh chạm vào miệng tôi, tôi bỗng rùng mình, cảm thấy một cái gì đó kỳ lạ đang diễn ra trong tôi. Một niềm vui thích tuyệt vời lan tỏa trong tôi, tách biệt, mà không gắn gì với khái niệm về một nguyên nhân nào cả. Niềm vui đó đột nhiên khiến mọi thăng trầm trong cuộc sống trở nên hoàn toàn không quan trọng, các tai họa chẳng còn ý nghĩa, và sự ngắn ngủi của cuộc đời trở nên hão huyền, giống như tác động của tình yêu, bằng cách khiến cho con người tôi tràn ngập một tính cách quý giá: hay nói đúng hơn, tính chất đó không phải ở trong tôi, nó chính là tôi. Tôi không còn cảm thấy mình tầm thường, vớ vẩn và dễ tiêu vong” (Trích “Về phía nhà Swann”). M. Proust chỉ nhờ sự việc tầm thường, toàn bộ ký ức đã quay trở lại với người kể chuyện. Sau M. Proust, không còn nhiều nhà văn ham hố đi xây dựng tiểu thuyết “biên niên sử” như trong “Tấn trò đời” của H. de Balzac (1799-1850) hay là một dòng họ trong “Gia đình Rougon-Macquart” của E. Zola (1840-1902).

Chất liệu trong “Đi tìm thời gian đã mất” chỉ quanh quẩn trong giới thượng lưu Paris thời hoa lệ đầu thế kỷ XX, M. Proust đã bị nhiều nhà văn lớn chỉ trích vì thiếu “dấn thân” và sự bé mọn của ý nghĩa; thực ra, M. Proust đã thực hành một điều quan trọng: Chỉ nên viết những gì thông thuộc nhất với cuộc đời mình. M. Proust sinh ra trong một gia đình thượng lưu, tuổi trẻ của ông gắn bó với xã hội thượng lưu như một lẽ tự nhiên ông sử dụng chất liệu xã hội thượng lưu làm chất liệu cho tác phẩm. M. Proust đã đẩy đến cùng cái viết về một chất liệu vi mô nên ông đã gặp cái vĩ mô. Ông đã phân tích chi ly các lề thói xã hội thượng lưu đến mức miêu tả được những bản tính muôn đời của con người, nhất là cái thói đua đòi (snobisme).

Nhưng trên hết vẫn là khám phá đặc biệt của M. Proust trên rất nhiều phương diện nghệ thuật tiểu thuyết, đặc biệt là cấu trúc tiểu thuyết. Cấu trúc “Đi tìm thời gian đã mất” là một thế giới ký hiệu tương ứng, văn bản thời gian hiện tại chồng lên văn bản thời gian quá khứ. M. Proust là người đầu tiên thoái khỏi cái mô hình văn chương phản ánh cuộc sống như những gì cuộc sống vốn có; mà ông phản ánh theo sự chủ quan của ý thức để tạo nên một thế giới độc nhất vô nhị. Thế nên, “Đi tìm thời gian đã mất” được xem là tiểu thuyết vĩ đại nhất trong thế kỷ XX. Nhờ đó, M. Proust đã chiến thắng được sự tàn phá vô hình và vô tình của thời gian!

HÀM ĐAN