Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

VỀ CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở HUYỆN BÁT XÁT (LÀO CAI): MỘT MŨI TÊN... TRÚNG NHIỀU ĐÍCH


Ảnh: Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt (thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung)-một trong năm điểm du lịch cộng đồng của huyện Bát Xát. 

Với dân “phượt”, những địa danh như Y Tý, Sàng Ma Sáo, A Mú Sung, Mường Hum… (huyện Bát Xát, Lào Cai) luôn là niềm mơ ước khi đã lấy xê dịch làm lạc thú ở đời. Giờ đây, tất cả mọi người đều có thể đặt chân đến những miền đất nguyên sơ kể trên để khám phá văn hóa của các tộc người bản địa thông qua hình thức du lịch cộng đồng.


1. Du lịch dựa vào cộng đồng (gọi tắt là Du lịch cộng đồng) đã có mặt ở Việt Nam cuối thập kỷ 1990 với các khu du lịch như Sa Pa (Lào Cai), Mai Châu (Hòa Bình)… Tháng 5 vừa qua, địa phương mới nhất phát triển du lịch cộng đồng ở nước ta là huyện Bát Xát (Lào Cai). Năm điểm du lịch cộng đồng được đưa vào khai thác thông qua bốn tuyến du lịch thử nghiệm trong ba năm gồm: Thứ nhất, điểm du lịch Lũng Pô (xã A Mú Sung)-nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, gắn với làng văn hóa du lịch H’Mông tại thôn Lũng Pô II. Thứ hai, điểm du lịch cộng đồng thôn Lao Chải (xã Y Tý) nơi cội nguồn của Hà Nhì đen tại Lào Cai. Thứ ba, điểm du lịch cộng đồng tại cụm thôn trung tâm xã Dền Sáng gắn với văn hóa người Dao đỏ. Thứ tư, điểm du lịch xã Mường Hum gắn với chợ văn hóa vùng cao. Cuối cùng là điểm du lịch tại xã Bản Xèo gắn với văn hóa tộc người Giáy.   

          Là địa phương đi sau, Bát Xát đã thu được nhiều kinh nghiệm từ trong lẫn ngoài nước để hình thành một đề án công phu, nổi bật ở việc lập các địa điểm du lịch gắn với từng cộng đồng tộc người thiểu số tạo ra tính địa-văn hóa độc đáo. Khách trong nước ai cũng muốn được một lần đến nơi sông Hồng chảy vào đất Việt-để từ đó hình thành nền văn minh “gốc” của dân tộc. Khách du lịch nước ngoài đều thích “ba cùng” với tộc người địa phương, đặc biệt là tộc người Hà Nhì đen tại xã Y Tý với số dân tập trung cao nhất ở tỉnh Lào Cai. Thêm vào đó, các địa điểm trên quanh năm mát mẻ, về mùa đông ở xã Y Tý thường có tuyết rơi.

Tiềm năng thì sẵn có như vậy, song theo ông Bùi Hữu Lợi (Bí thư huyện ủy kiêm Chủ tịch UBND huyện Bát Xát) cho hay: Khó khăn lớn nhất của Bát Xát trong việc phát triển cộng đồng ngay trước mắt là cơ sở hạ tầng để phục vụ du lịch còn chưa đầy đủ. Đặc biệt là đường giao thông, từ Thị trấn Bát Xát đến điểm du lịch xa nhất là xã Y Tý phải mất 90 km trên một con đường… xóc nổ đom đóm mắt! Việc làm mới và sửa chữa các con đường nối các điểm du lịch, ngân sách của huyện chỉ có thể gánh vác được một phần, rất cần sự hỗ trợ của Trung ương để giao thông được thông suốt. Một khi vấn đề giao thông được giải quyết, chắc chắn, du lịch cộng đồng ở Bát Xát sẽ thu hút lượng khách rất lớn.

          2. Du lịch cộng đồng khác hẳn các hình thức du lịch khác khi sử dụng cư dân bản địa cung cấp dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường; qua đó, chính cộng đồng được hưởng quyền lợi vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch.

          Dựa vào những chính sách và chương tình cụ thể phát triển du lịch cộng đồng mà các cơ quan chức năng huyện Bát Xát đang triển khai đều dựa vào cộng đồng và đem lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng làm du lịch. Lấy ví dụ ở thôn Lao Chải (xã Y Tý), cơ quan chức năng chỉ làm nhiệm vụ chọn ra vài chục hộ khá giả, nhà có đủ các trang thiết bị, công trình vệ sinh tối thiểu để khách du lịch có thể ăn nghỉ tại nhà người dân. Đồng thời, mở nhiều lớp tập huấn nghiệp vụ du lịch, đặc biệt là kĩ năng giao tiếp với khách cho các tất cả các hộ dân để làm “vừa lòng khách đến, vui lòng khách đi”. Sắp tới, huyện Bát Xát sẽ thành lập Đội quản lý liên ngành trong đó kết hợp hai chức năng quan trọng nhất bao gồm: bộ phận chuyên cung cấp thông tin cho khách du lịch và bộ phận chuyên kiển tra các hoạt động du lịch và sẵn sàng can thiệp những hành vi “chặt chém” vô tội vạ. Cũng giống như các địa phương khác, du lịch cộng động sẽ là cơ hội “vàng” để các cộng đồng dân cư Bát Xát có dịp thương mại hóa các đặc sản, đồ thủ công mỹ nghệ như: nghề đan lát của người Hà Nhì đen, nghề kéo bạc và tắm thuốc lá của người Dao đỏ…

Bên cạnh lợi ích làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, du lịch cộng đồng còn góp phần gìn giữ nét văn hóa đặc sắc của cư dân bản địa. Chỉ nói ngay du khách trong nước không phải ai cũng biết đến Lễ cấp sắc của người Dao đỏ hay Tết “khô già già” cùng đồng bào Hà Nhì đen… Và còn có gì tuyệt hơn khi du khách được trực tiếp tham gia các hoạt động văn hóa độc đáo nói trên? Không chỉ có các di sản phi vật thể, đến ngay cả di sản vật thể cũng được chính quyền huyện Bát Xát lưu ý giữ gìn. Ví dụ, nhà trình tường truyền thống của Hà Nhì đen lợp bằng cỏ, nhiều nhà dân vốn trước lợp bằng mái tôn nay quay về lợp cỏ như thời các cụ; hoặc lãnh đạo xã Mường Hum-nơi tổ chức chợ văn hóa vùng cao tỏ ý quyết tâm giữ nguyên trạng không gian chợ, họ hiểu rằng chẳng có du khách nào đi hàng trăm cây số đến dự phiên chợ vùng cao mà lại được xây kiên cố như ở dưới xuôi!

Một trong những mục tiêu lớn nhất của du lịch cộng đồng ở bất cứ đâu đó là phải bảo được môi trường thiên nhiên với tất cả sự đa dạng về sinh học. Riêng ở xã Y Tý vẫn còn khu rừng nguyên sinh với những cây cổ thụ vài trăm năm tuổi, dưới tán lá cao là “rừng” cây thảo quả được bà con địa phương chăm sóc, sẽ là địa điểm thú vị cho du khách dã ngoại, khám phá vẻ đẹp giàu có của rừng nhiệt đới.

Ông Bùi Xuân Tiến (Trường phòng Văn hóa-Thông tin huyện Bát Xát) còn cho chúng tôi hay, một trong những mục tiêu khác mà du lịch cộng đồng ở Bát Xát hướng đến đó chính cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường ở các điểm làm du lịch. Bên cạnh việc tuyên truyền để người dân thực hiện nếp sống văn minh, giữ gìn môi trường thông qua việc lồng ghép trong chương trình tập huấn du lịch, hy vọng đến khi triển khai các hoạt động du lịch người dân mới thực sự ý thức được việc cải tạo môi trường sống của để níu chân du khách.

          Với một chiến lược bài bản và với sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan, ban ngành, hy vọng trong tương lai gần Bát Xát sẽ là điểm sáng của du lịch cộng đồng ở nước ta; hoàn thành các mục tiêu đề ra với phương châm: “Một mũi tên… trúng nhiều đích”.

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2011

VỀ DỰ ÁN "LẦN ĐẦU LÀM PHIM VỚI DISCOVERY": HỌC TÍNH CHUYÊN NGHIỆP

 
Việc 4 bộ phim của Việt Nam vừa được trình chiếu trên kênh Discovery có thể xem là một sự kiện của điện ảnh Việt Nam trong năm 2011 vì lẽ Discovery là kênh truyền hình chuyên về phim tài liệu hàng đầu thế giới với 431 triệu thuê bao ở 170 quốc gia thông qua 33 ngôn ngữ khác nhau. Đằng sau niềm tự hào được giới thiệu cuộc sống và văn hóa Việt Nam đến với bạn bè năm châu, dự án còn giúp các nhà làm phim Việt Nam làm quen với quy trình làm phim tài liệu chuyên nghiệp.

1. Dự án làm phim tài liệu “Lần đầu tiên làm phim với Discovery” (FTFM) của kênh Discovery ra đời năm 1995 tại châu Âu. Đến tháng 9-2000, dự án FTFM lần đầu tiên thực hiện ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương với seri về 6 bộ phim của Ô-xtrây-li-a. Sau đó, dự án đến với các quốc gia châu Á khác như In-đô-nê-xi-a, Xin-ga-po, Thái Lan, Trung Quốc, Ma-lai-xi-a…  

Trong gần hai năm phát động, có 68 hồ sơ đăng ký tham gia tham dự cuộc thi FTFM dành riêng cho Việt Nam. Cuối cùng, ngoại trừ bộ phim “Thành phố đam mê” của đạo diễn Phan Ý Ly không được phát sóng vì không hoàn thành kịp, còn lại 4 bộ phim của Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Mạnh Hà, Đào Thanh Tùng và Phan Duy Linh đều sản xuất đúng tiến độ và lên sóng lần lượt trên kênh truyền hình Discovery.

Discovery đã đưa ra tiêu chí đồng thời cũng là “đề bài” thử thách cho các nhà làm phim tài liệu Việt Nam đó là khám phá những chuyển biến nhanh chóng của quá trình đô thị hoá ở Việt Nam. “Đề bài” này có tính khả thi cao bởi Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa, các ý tưởng cho kịch bản là nhiều vô kể. Tuy nhiên, do đặc thù của Discovery là một kênh truyền hình trả tiền nên đề tài phải thực sự có tính mới mẻ, gây được hứng thú cho người xem; vì vậy để tìm một đề tài đáp ứng cả hai đòi hỏi nói trên là thực chất không hề dễ dàng.

Song, cả bốn bộ phim đều tìm được những đề tài thích hợp nhằm thỏa mãn những yêu cầu khách quan để tiến hành sản xuất. Bộ phim “Jam Busters” (tựa Việt: Những chiến binh chống tắc đường) của đạo diễn Phan Duy Linh phản ánh vấn nạn ùn tắc giao thông ở Hà Nội vào thời kỳ kinh tế phát triển “nóng” khác rất xa một Hà Nội yên tĩnh, thanh bình 20 năm trước. Bộ phim “Mr Long’s travelling cinema” (tựa Việt: Rạp chiếu phim di động của ông Long) của đạo diễn Hoàng Mạnh Cường kể về chiếc máy chiếu phim tự tạo độc đáo và cổ lỗ của ông Long trong bối cảnh người người đến rạp xem phim 3D. Bộ phim “City of a thousand years” (tựa Việt: Thành phố một nghìn năm) của đạo diễn Nguyễn Mạnh Hà là câu chuyện của những thị dân Hà Nội vừa níu giữ nét văn hóa truyền thống như ca trù, vừa tìm cách truyền bá đặc sắc của văn hóa đương đại như nghệ thuật thị giác. Và cuối cùng là bộ phim “Digging up the death” (tựa Việt: Câu chuyện cải táng) của đạo diễn Đào Thanh Tùng giới thiệu một tập tục cải táng người chết vô cùng kì lạ của Việt Nam đang ngày càng ít phổ biến ở thành phố do quỹ đất hạn chế.

          Ông Vích-ram Chan-na, Phó Chủ tịch phụ trách sản xuất và phát triển của Discovery Networks khu vực châu Á-Thái Bình Dương đánh giá cao 4 bộ phim của Việt Nam: “Mỗi bộ phim tài liệu đều thể hiện được những ý tưởng độc đáo lồng vào những câu chuyện cụ thể về sự chuyển biến ở Việt Nam thời kỳ đô thị hóa dưới nhãn quan của chính người Việt”. Phản ứng của người xem đa phần là lời khen, song nhiều người vẫn còn băn khoăn ở nội dung của một số bộ phim, chẳng hạn trong phim “Những chiến binh chống tắc đường” nhiều khán giả dị ứng với cách dùng các sinh viên tình nguyện để chắn đường trong một phương án chống ùn tắc. Sự khen chê là điều dễ hiểu vì không tác phẩm nào có thể chiều lòng tất cả mọi người, điều quan trọng là 4 bộ phim đã gây được sự chú ý rộng rãi của người xem trên toàn cầu.

2. Phim tài liệu từ trước đến nay luôn là thế mạnh của điện ảnh Việt Nam do đặc trưng phản ánh khách quan hiện thực của phim tài liệu phù hợp với tinh thần tả thực của nghệ thuật Việt Nam. Phim tài liệu là thể loại phi hư cấu nên dễ “tha hóa” thành những thước phim nhàn nhạt, vô thưởng vô phạt. Một bộ phim tài liệu hay là phải phát hiện một mâu thuẫn hoặc một xung đột đằng sau câu chuyện đời sống bình dị đang tiếp diễn. Ví dụ, bộ phim “Câu chuyện cải táng” về bản chất là giới thiệu một phong tục cải táng quen thuộc với người Việt Nam nhưng lại vô cùng kì dị với những nước ngoài. Song, bộ phim còn phản ánh những quan niệm của những người khác thế hệ. Chị Mai-người con dâu kể lại mong ước của bố chồng lúc sinh thời muốn được cải táng vì hỏa táng sẽ khiến cụ “nóng trong người”; còn chị Mai lại tâm sự, bản thân chị sau này chỉ muốn hỏa táng để tránh sự đau buồn cho người còn sống và những điều phiền toái khác của lễ cải táng. Đồng thời, bộ phim còn được lồng vào sự vui buồn nghề nghiệp của những công nhân bốc mộ khi lễ cải táng ngày một ít đi. Như vậy, muốn tạo ra sự mâu thuẫn và xung đột, bộ phim cần phải tạo dựng ra nhiều tuyến nhân vật, nhiều cách kể chuyện… xoay quanh câu chuyện về lễ cải táng.

Đó mới chỉ là nội dung, để có thể được phát sóng trên kênh Discovery, về phần hình thức và kĩ thuật cũng phải đạt các tiêu chuẩn mà Discovery đề ra ví dụ như: quay phim chuẩn HD, âm thanh stereo, tách, thậm chí thu đồng bộ. Phỏng vấn một nhân vật 2-3 lần cùng một câu hỏi…

Discovery không áp đặt mà chỉ trao đổi với các nhà làm phim, nhất là trong cách tiếp nhận hiện thực để nhà làm phim thỏa sức sáng tạo. Đơn cử như phim “Những chiến binh chống tắc đường”, đạo diễn Phan Duy Linh đã chọn âm nhạc nhẹ nhàng và hơi nghịch nghịch tạo nên cảm xúc ngạc nhiên và hài hước trong cảnh những người khách du lịch nước ngoài tìm cách sang đường ở phố cổ Hà Nội; qua đó, giúp một đề tài chính luận trở nên gần gũi với người xem hơn.

Với một quy trình chuyên nghiệp như trên, dễ hiểu vì sao các bộ phim phát sóng trên kênh Discovery ít khi bị nhận lời chê trách. Từ kinh nghiệm làm phim với kênh Discovery có thể hy vọng chất lượng phim tài liệu Việt Nam trong thời gian tới cũng sẽ được nâng lên, chiếm lĩnh những đỉnh cao nghệ thuật mới.

HÀM ĐAN

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2011

WIMBLEDON 2011: KHỞI ĐẦU CỦA MỘT HUYỀN THOẠI?


  
Danh hiệu vô địch đơn nữ giải quần vợt Wimbledon 2011 đã có chủ, và đó là một cái tên mới: Pê-tra Vi-tô-va. Nói là mới bởi đây là lần đầu tiên tay vợt 21 tuổi người Cộng hòa Séc giành quyền lọt vào chung kết một giải Grand Slam; thứ nữa với vị trí hạt giống số 8 khi bước vào giải đấu, cô được xem là một “ngựa ô” chứ không phải là ứng cử viên vô địch.  

Sau một tiếng rưỡi thi đấu với hạt giống số 4 Ma-ri-a Sa-ra-pô-va, có thể nói, chiến thắng hoàn toàn xứng đáng dành cho Vi-tô-va. Nhìn lại trận đấu, rõ ràng, lối đánh thiên về thể lực, đầy mạnh mẽ của Sa-ra-pô-va đã không phát huy hiệu quả trước một tay vợt có phong cách thi đấu tương tự. Không những thế, bằng những cú dứt điểm chéo sân có độ chính xác cao, Vi-tô-va còn khiến “búp bê Nga” luôn bị đặt vào tình thế phải căng mình chống đỡ. Lối chơi mạnh mẽ với những cú đánh tay trái đầy uy lực cộng với những pha mắc lỗi của Sa-ra-pô-va trong những thời điểm quyết định nhất đã giúp Vi-tô-va dễ dàng giành chiến thắng 6-2 và 6-4.

Với chức vô địch Wimbledon 2011, Vi-tô-va đã bỏ túi số tiền thưởng 1,1 triệu bảng Anh và hứa hẹn sẽ tăng nhiều hạng trên bảng xếp hạng WTA sắp công bố. Nhưng quan trọng hơn, Vi-tô-va đã thực hiện đúng lời khuyên của thần tượng hồi bé là huyền thoại quần vợt người Mỹ gốc Séc Mắc-ti-na Na-ra-ti-lô-va: “Cô có thể trở thành bất kỳ ai nếu cô muốn”.

Pê-tra Vi-tô-va sinh ngày 8-3-1990 tại thị trấn Bilovec (Tiệp Khắc, ngày nay thuộc Cộng hòa Séc) trong một gia đình không có ai theo nghiệp thể thao. Người cha của Pê-tra Kvitova là người đầu tiên đưa cô đến với môn quần vợt. Ki-tô-va bắt đầu chơi quần vợt chuyên nghiệp vào năm 2006, song cái tên của cô bắt đầu được chú ý vào năm 2008 khi cô đánh bại tay vợt số 1 lúc đó là Vê-nớt Uy-li-am tại Cellular South Cup. Tuy nhiên, ở các giải đấu Grand Slam, cô vẫn chỉ đạt được những thành tích khiêm tốn: Roland Garros (lọt vào vòng 4 năm 2008, 2011), Mỹ mở rộng (lọt vào vòng 4 năm 2009), Ốt-xtrây-li-a mở rộng (tứ kết năm 2011). Wimbledon 2011 là lần đầu tiên Vi-tô-va tham dự giải Grand Slam tổ chức tại nước Anh và thật lạ lùng, cô đã giành chức vô địch.

Kì lạ hơn, Vi-tô-va một công dân Séc lại tiếp nối nhiệm vụ chấm dứt những triều đại nhàm chán tại Wimbledon đơn nữ. Năm 1998, đồng hương của Vi-tô-va là Gian-na Nô-vốt-na đăng quang, đặt dấu chấm hết cho chuỗi ngày thống trị của huyền thoại người Đức Xtê-phi Grát. Và vào 2011, Pê-tra Vi-tô-va chơi một trận chung kết thăng hoa trước đàn chị Sa-ra-pô-va đang có phong độ tốt, và rồi trở thành nhà vô địch Wimbledon sau quãng thời gian 2000-2010 chị em nhà Uy-li-am thay nhau thống trị với 9 chức vô địch.

Ngày Vi-tô-va đăng quang chức vô địch Grand Slam đầu tiên hai tay vợt nổi tiếng một thời của Séc là Mắc-ti-na Na-ra-ti-lô-va và Gian-na Nô-vốt-na đều đến dự. Người ta hy vọng, chức vô địch Wimbledon 2011 sẽ là bước khởi đầu để Vi-tô-va nối tiếp thần tượng Na-ra-ti-lô-va bước vào danh sách các huyền thoại quần vợt với vô số danh hiệu lớn chứ không phải là một đối thủ đáng gờm nhưng chỉ có một danh hiệu Grand Slam như Nô-vốt-na.

                                                                             HÀM ĐAN


Thứ Ba, 28 tháng 6, 2011

THỜI ĐÀM (XI): "THOÁT XÁC"!


 
- Tôi đã đọc nhiều sách, báo nói về “bếp núc” của nhà văn, và thấy rằng làm nhà văn thật khó, lắm gian nan. Chỉ sướng các ông phê bình như anh, chỉ đợi tác phẩm ra đời là phán!

- Sướng cái nỗi gì! Khổ lắm, vất vả lắm.

- Thế thì anh kể khổ đi.

- Nói cho rõ công việc mà tôi đang làm thì dài lắm!

- Nếu dài quá thì anh cứ nói về điểm khởi đầu xem nào?

- Đành mượn lời nhân vật Táo quân mà anh Hiệp “gà” thủ vai trong cuộc thi Táo Idol Tết vừa rồi để nói về việc đầu tiên của nhà phê bình vậy, đó là phải “thoát xác”!

- ?

- Người đọc ngây thơ thích theo dõi kết thúc câu chuyện. Họ bị cuốn vào câu chuyện nên ngộ nhận về giá trị của tác phẩm chỉ được gói gọn ở ý nghĩa câu chuyện được nhà văn “giăng” sẵn. Riêng với nhà phê bình, dù nội dung câu chuyện có xúc động đến mấy, họ cũng phải tỉnh táo, cần phải “thoát xác”, tạm quên đi nội dung câu chuyện, để “đọc sâu” tìm ra các nghĩa khác của tác phẩm.  

- Thật ấn tượng nhưng cũng thật... trừu tượng. Đề nghị anh cho ví dụ minh họa!

- Lấy tác phẩm nổi tiếng mà nhiều người đã đọc là truyện ngắn Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Có hai luồng ý kiến, kẻ khen hết mức, người chê cũng không tiếc lời. Tôi không ở bên nào trong cuộc tranh luận vô bổ đó. Cánh đồng bất tận là truyện ngắn có giá trị nhưng không phải là tuyệt tác như nhiều người tung hô vì kĩ thuật truyện ngắn đó đã rất cũ, ít nhất cách đây một thế kỷ và triết lý nhân-quả trong truyện không có gì đặc sắc. Về phía những người chê, một là họ cắt nghĩa nội dung thông qua lăng kính đạo đức (ở đây là đạo đức Nho giáo) và thích đối sánh hiện thực trong truyện ngắn với đời thực. Cho nên, họ mới phê phán yếu tố sex trong truyện và cho rằng tác giả đã cố tình bôi đen hiện thực. Riêng tôi, tôi phân tích nghĩa truyện ngắn theo phương pháp phân tâm học: Một khi con người thiếu các cơ chế kiểm soát cái vô thức thì những hành động bản năng thiếu nhân văn sẽ trỗi dậy hủy hoại chính cuộc sống con người. Tôi không nói cách phân tích của tôi là duy nhất đúng vì còn nhiều phương pháp khác và mỗi phương pháp phê bình có “đường đi” riêng; song chí ít hướng phê bình của tôi gợi ra một lớp nghĩa ngầm ẩn của tác phẩm mà nếu đọc theo cách “tiêu dùng” sẽ không phát hiện ra. Anh đã thấy chưa, nếu không tỉnh táo “thoát xác”, thể nào tôi cũng ngả về một trong hai phe nói trên. 

- Tôi theo dõi dư luận quanh Cánh đồng bất tận và nhận ra đâu chỉ có người đọc bình thường, ngay cả các nhà phê bình cũng chia là hai phe đó thôi?

- Không chỉ có mỗi vụ Cánh đồng bất tận, nhiều vụ tranh cãi trên văn đàn cũng có hiện tượng như anh đề cập. Nhiều người mang tiếng là nhà phê bình văn học nhưng thực ra chẳng thể “thoát xác”, họ vẫn say sưa bình tán về cái nghĩa bề mặt của tác phẩm, cái nghĩa chìm để nhà phê bình diễn giải thì các ông ấy lại bỏ qua. Đấy là những thầy bói phán bừa. Nhưng có nhóm khác kinh hơn, họ thừa biết giá trị thực của tác phẩm, nhưng vì một động cơ nào đó khiến nó nghĩ một đằng nhưng viết ra lại một nẻo.

- Tức là các nhà phê bình nọ không trung thực, thiếu đạo đức nghề nghiệp?

- Chứ còn gì nữa! Tôi thấy thật lạ, cái lĩnh vực phê bình văn học nó chỉ quan tâm đến tác phẩm, chứ nó có “nhạy cảm” như các thể loại khác đâu mà người ta không dám viết như những gì mình nghĩ. Còn nhiều trò khác thiếu lương thiện khác như: xuất hiện thật nhiều trên các phương tiện truyền thông để nổi tiếng, viết một đống sách về các đề tài cũ với phương pháp cũ để nhanh có công trình khoa học... Trong khi, công việc của nhà phê bình là ngồi làm việc, viết bài viết sáng tạo trên những cơ sở lý thuyết vững chắc. Tiếc là số người đó quá ít.

- Vậy, anh làm việc thế nào giữa cái đám phê bình bất tài và cơ hội như anh mới nêu ra, thỉnh thoảng họ có “chọc” anh không?

Việc của tôi, tôi cứ làm thôi. Thỉnh thoảng mấy nhà phê bình “đao búa” có gây sự thì giữ im lặng, coi như họ không tồn tại. Quan trọng nhất vẫn là ngồi làm việc, để đạt được sự tập trung và đỡ mất thời giờ thì không dây dưa gì với mấy vị đó, phải “thoát xác”!

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2011

CÙNG BÀN LUẬN (II): BẢO VỆ LÀNG CỔ

Làng Cự Đà (xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội) được các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước đánh giá là ngôi làng cổ có giá trị kiến trúc hàng đầu ở Bắc bộ, đại diện cho vẻ đẹp từ sự giao thoa văn hóa Việt-Pháp đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, trong mấy tháng đầu năm 2011, ngôi làng cổ này gần như đã bị xóa sổ. Theo ông Vũ Văn Bằng, cán bộ phụ trách văn xã của xã Cự Khê, thì trong khoảng thời gian chưa đầy 4 tháng, 80/100 ngôi nhà cổ có “tuổi thọ” trên dưới một thế kỷ đã bị phá hủy để nhường chỗ cho các ngôi nhà hiện đại.

Trong xu thế đô thị hoá, 80% diện tích đất canh tác của xã Cự Khê được thu hồi cho dự án khu đô thị mới, biến những người dân quê quanh năm lam lũ trở thành các tỷ phú. Do chỗ ở chật chội cộng với sự thiếu hiểu biết về giá trị di tích và sẵn tiền trong tay, nên người dân nhanh chóng phá các ngôi nhà cổ để xây nhà cao tầng khang trang. Chính quyền xã không thể ngăn cản vì làng Cự Đà chưa được công nhận Di tích lịch sử-văn hóa nên không thể cấm người dân “đổi cũ lấy mới”.

Sự biến mất của nhiều ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi ở làng Cự Đà là lời cảnh báo cấp thiết cho việc bảo tồn các di sản văn hóa vật thể ở nước ta vốn tồn tại nhiều bất cập. Riêng Hà Nội vẫn còn một vài làng cổ như làng Cựu (huyện Phú Xuyên), làng Cốc Thôn (huyện Ba Vì)… nhưng cũng đang đứng trước nguy cơ "đô thị hóa". Để tránh lặp lại những gì xảy ra với Cự Đà, các cơ quan quản lý di sản cần nhanh chóng rà soát hiện trạng từng làng cổ và tiến tới công nhận những ngôi làng có giá trị lịch sử-văn hóa theo đúng các tiêu chí mà Luật Di sản Văn hóa đã quy định. Bên cạnh đó, cần khẩn trương lập các phương án trùng tu để các ngôi nhà tiếp tục trụ vững trước sự tàn phá của thời gian, giữ gìn tối đa những yếu tố nguyên gốc của di tích.

Ngoài ra, không thể xem nhẹ công tác vận động, tuyên truyền cho người dân biết rõ giá trị lịch sử-văn hóa của ngôi nhà cổ mà họ đang sở hữu, từ đó có trách nhiệm với di tích. Dĩ nhiên, cần có chính sách hỗ trợ thiết thực. Chẳng hạn, với những làng cổ có mật độ dân số cao, chính quyền địa phương cần sử dụng quỹ đất nhằm giãn dân theo phương châm “lấy đất đổi đất” để người dân giải quyết nhu cầu chỗ ở, yên tâm giữ nhà cổ cho thế hệ mai sau.

Giữ gìn nguyên vẹn các làng cổ, giá trị lịch sử-văn hóa sẽ được phát huy. Thông qua việc phát triển dịch vụ du lịch có thể góp phần tích cực thay đổi cơ cấu kinh tế địa phương.

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

LỐI SỐNG Ở CHUNG CƯ MỚI: ĐAN XEN NẾP CŨ

Khi những tòa nhà chung cư mọc lên như nấm, dư luận thường chú ý đến những vấn đề về chất lượng xây dựng, phòng chống cháy nổ, phí dịch vụ… mà dường như ít quan tâm đến những biến chuyển nếp sống một cách căn bản bên trong loại hình kiến trúc này.

Riêng một “góc trời”…

Chẳng cần sống ở nông thôn cũng dễ dàng nhận ra “tình làng nghĩa xóm” (nói theo khoa văn hóa học là tính cộng đồng) của người Việt quá bền chặt. Có được tính cộng đồng cao như vậy là nhờ tổ chức nông thôn theo hai hình thức chính là địa bàn cư trú (xóm và làng) và theo nghề nghiệp (gọi là phường). Đô thị ở Việt Nam luôn bị “nông thôn hóa” cho nên tính cộng đồng ít bị mai một. Đến ngay những khu tập thể kiểu cũ vẫn còn tồn tại đến ngày nay thì y như một làng: Bếp ăn tập thể, bể nước công cộng, thùng rác chung… Mọi nhà, chí ít trong cùng một hành lang hay một tầng đều quen biết nhau, sống cộng đồng (trông nhà, cho quà…).

Nhưng tính cộng đồng gần như biến mất ở chung cư mới nằm trong các khu đô thị mới đang xuất hiện ngày càng nhiều. Nguyên nhân trước tiên là do đặc trưng về thiết kế của các nhà chung cư mới. Trong một căn hộ có đầy đủ tiện nghi khép kín khiến người ta không có việc gì phải ra ngoài, thậm chí những thứ như sách báo và thức ăn vặt… nếu cần chỉ gọi điện là có người mang đến. Những công việc điều hành, quản lý chung cư như sửa chữa thiết bị hư hỏng, an ninh đến việc chứng thực chất lượng nước đã có tổ hoặc xí nghiệp quản lý (thường là nhân viên của các chủ đầu tư) đứng ra nhận trách nhiệm nên người dân không phải nhờ vả lẫn nhau.

Song, quan trọng hơn, tính cộng đồng phai dần trong các chung cư mới là do không còn được tổ chức theo hai hình thức của tổ chức nông thôn truyền thống. Những người sống trong chung cư nhiều khi có thể hợp lại thành một “Liên hiệp quốc” thu nhỏ. Người mua nhà chung cư mà toàn là dân nhập cư đến nên giữa những người dân không có mối liên hệ nào như ở làng. Đồng thời, mỗi người có nghề nghiệp khác nhau phi nông nghiệp, lịch sinh hoạt đa dạng khiến họ không mấy có sự giao tiếp. Vậy nên mới có chuyện một ông ở nhà 702 thấy một gia đình đang chuyển đồ đạc xuống sân chung cư để đi ở nơi khác thì hỏi bảo vệ: “Nhà nào đang chuyển đi?” Bảo vệ trả lời: “Nhà 704”. Ông ở nhà 702 mới biết rõ mặt mũi hàng xóm sát vách mấy năm qua và biết sắp sửa có hàng xóm mới!    

Phải chờ đến những sự kiện liên quan đến cộng đồng như Ngày Quốc tế Thiếu nhi… mới quy tụ được đông dân cư vào cùng một địa điểm. Nhưng nếu hoạt động của các tổ chức đoàn thể và các câu lạc bộ trong chung cư ít duy trì, cộng với việc thiếu các không gian công cộng như sân chơi, nhà văn hóa... thì cơ hội kết nối các cư dân gần như bằng không.

Vậy là, trong các chung cư mới lối sống bám chặt vào tính cộng đồng truyền thống đã nhạt đi thay cho tính cá nhân của thời hiện đại. Khó có thể đánh giá lối sống thiên về cá nhân trong chung cư mới là tốt hay xấu, vì lẽ nó hợp với từng người. Người quen sống bao bọc trong tình cảm bà con hàng xóm, không chịu được cô đơn thì sẽ không thích hợp. Nhưng, lối sống thiên về cá nhân lại hợp với người có nhịp sống công nghiệp, thích tự do trong “góc trời” của mình.

Chưa hình thành lối sống mới

Về bề sâu, lối sống và cách nghĩ của mẫu hình con người làng xã tồn tại ngàn năm ngấm sâu trong tiềm thức vẫn chưa mất hẳn ở cách sống cư dân chung cư hiện đại.

Lối sống chung cư mới là lối sống chuộng tự do cá nhân. Nhưng không mấy người hiểu sự tự do của mình chỉ có được khi biết tôn trọng tự do của người khác. Những thói quen tùy tiện, nhiều khi ích kỷ không theo những cách ứng xử văn minh vẫn đầy rẫy ở ngay những chung cư được công nhận là “kiểu mẫu”. Có nhiều chị em sống trong chung cư mà đi guốc bằng… gỗ, những âm thanh chát chúa vào giữa đêm khuya khiến không chỉ người sống ở nhà dưới lỡ làm việc khuya đành nhét tai nghe vào tai. Văn hóa sống tập thể quá kém của con người làng xã vẫn là phổ biến khi rác, nước thải… vẫn cứ “phi” xuống những tầng dưới. Để hình thành lối sống văn minh, nhiều chung cư đã ban hành quy chế quản lý, song sống theo quy chế hay không lại là chuyện khác.

Bản thân bên trong mỗi căn hộ, những nếp nghĩ truyền thống vẫn còn hiện hữu, như cách bài trí. Nhà ở truyền thống trong nếp nghĩ của người Việt phải là “nhà cao cửa rộng”, cùng với đó là các đồ nội thất càng to (và càng đắt tiền) mới chứng tỏ đẳng cấp của chủ nhân. Sống trong chung cư với diện tích hạn hẹp nhưng cách bài trí vẫn theo lối kiến trúc nhà biệt thự hoặc nhà liền kề với “sập gụ, tủ chè” hoành tráng chiếm hết diện tích nên nhiều căn hộ không khác gì… nhà kho. Ở nước ngoài, chủ nhân thường phải thuê những người chuyên thiết kế nội thất bài trí đồ đạc trong căn hộ. Lối thiết kế thịnh hành nhất của các căn hộ chung cư vẫn theo phong cách tối giản với những đồ nội thất sản xuất theo lối công nghiệp khá rẻ. Ví dụ, giường ngủ không mua sẵn mà phải đóng bằng các loại gỗ tổng hợp và gầm giường biến thành các ngăn kéo đựng quần áo, chăn màn; cho nên, một căn hộ chung cư đôi khi sẽ không cần đến tủ quần áo kềnh càng. Ngay cả việc đơn giản như đèn trang trí cũng thường chọn loại đèn áp trần bởi trần căn hộ chung cư không cao. Các đồ đạc khác cần nhẹ và dễ tháo lắp để dễ di chuyển trong một không gian chật hẹp.

Những ví dụ trên cho thấy các cư dân sống ở chung cư hiện đại cần phải thay đổi tư duy, hình thành nếp sống văn minh hơn để thích nghi với không gian sống hiện đại như chung cư mới.

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

"NGUYỄN TRÃI ĐÁNG ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ LÀ ĐẠI THI HÀO"

Năm 2010, nhà thơ Nguyễn Đỗ (hiện định cư tại Mĩ) và nhà thơ Paul Hoover (Giáo sư sáng tác văn học, Đại học California, Mỹ) đã chung tay dịch tuyển thơ Nguyễn Trãi (1380-1422) sang tiếng Anh với nhan đề Beyond the Court Gate (Rời xa triều đình) do Counterpath Press (Mỹ) ấn hành. Cuối tháng 5 vừa qua, bộ đôi này đã đi xuyên Việt 10 ngày để giới thiệu tập thơ đến bạn đọc Việt Nam tại Hà Nội, Nghệ An, Quảng Ngãi và TP Hồ Chí Minh.

1. Trước khi trình làng tập thơ Beyond the Court Gate, Nguyễn Đỗ-Paul Hoover (Pôn Hu-vơ) đã cùng nhau thực hiện tuyển thơ tiếng Anh của các nhà thơ Việt Nam đương đại mang tên Black dog, Black night (Chó mực, đêm đen) do Milkweed Editions (Mỹ) xuất bản năm 2008. Tập thơ Black dog, Black night là bước đột phá trong việc đưa văn học Việt Nam ra thế giới vì lẽ đây là tập thơ đầu tiên được chuyển ngữ nhằm mục đích thương mại hóa (18 USD/cuốn) và đã thành công với lượng tiêu thụ khả quan; đồng thời được đánh giá cao khi tạp chí thơ Coldfront (Mỹ) uy tín bình chọn là tuyển thơ xuất sắc nhất năm 2008 của nước Mỹ

Theo cách suy nghĩ logic, sau Black dog, Black night thì việc thực hiện Beyond the Court Gate là một sự nối tiếp “thừa thắng xông lên”; song, nhà thơ Nguyễn Đỗ đã phủ nhận điều này. Ông cho biết: Khi còn ở Việt Nam, ông đã thích thơ Nguyễn Trãi. Năm 2003, ông gặp lại một người bạn thân là nhà thơ Hoàng Hưng lúc đó đang ở Mỹ dự một hội thảo về thơ. Cả hai đã cùng nhau đọc lại thơ Nguyễn Trãi: “Trưa Cali thơ Nguyễn Trãi lặng người” (tập thơ Hành trình của Hoàng Hưng-Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội 2006). Nguyễn Đỗ đã quyết chí dịch thơ Nguyễn Trãi dù lúc đó trình độ tiếng Anh của Nguyễn Đỗ chưa thật tốt, vì ông tin ở một quan niệm khá cực đoan: Chỉ có nhà thơ mới có thể dịch được thơ! Qua Hoàng Hưng, Nguyễn Đỗ gặp Paul Hoover-nhà thơ hậu hiện đại hàng đầu của Mỹ. Cả hai nhanh chóng đạt được đồng thuận để giới thiệu thơ Việt Nam ra thế giới.

2. Việc dịch thơ đã khó, dịch thơ trung đại như thơ Nguyễn Trãi càng khó gấp đôi. Ngoài chuyện khác biệt về ngôn ngữ, còn là sự khác biệt về văn hóa. Nhiều trường hợp dịch thơ trung đại Việt Nam đã không thoát được sự rườm rà của chú thích nên chưa làm rung động bạn đọc nước ngoài. Chỉ đến khi bác sĩ-dịch giả lỗi lạc Nguyễn Khắc Viện dịch Truyện Kiều (NXB Thế giới, 1965) sang tiếng Pháp mới thoát khỏi “rừng” điển tích để có một văn bản dịch Truyện Kiều thanh thoát, được công nhận là một bản dịch xuất chúng. Có thể xem Nguyễn Đỗ như là người nối tiếp cách chuyển ngữ trên. Dù tác phẩm nào, Nguyễn Đỗ đều truyền đạt được “linh hồn” tác phẩm, ông từ bỏ việc chuyển ngữ y sì như nguyên tác vì điều đó chỉ là ảo tưởng!

Sự khó khăn ở dịch thơ Nguyễn Trãi còn vấp phải “chướng ngại vật” về khác biệt về hình thức thể thơ. Tiếng Việt gồm những từ một âm tiết, cùng với việc sử dụng thanh điệu đa dạng tạo ra một tiết tấu hoàn toàn khác với những từ đa âm tiết của tiếng Anh. Vì thế, dịch giả không thể tái lập nhịp của một bài thơ có niêm luật như thơ Nguyễn Trãi (một số âm tiết nhất định cho mỗi dòng, thường là bốn hay năm) mà phải dựa vào nhịp của tư duy và giọng điệu.

Nhiệm vụ của của Paul Hoover là từ văn bản của Nguyễn Đỗ, ông sẽ “sáng tác” lại thành những bài thơ tiếng Anh hay nhất có thể. Một số bài đạt được ngay từ vài phác thảo đầu tiên, những bài khác pahỉ nhiều lần thay đổi. Điều Paul Hoover nhấn mạnh là tìm kiếm mục tiêu của bài thơ, đặc biệt là logic trí tuệ và cảm xúc.

3. Việc hai nhà thơ bắt tay dịch thơ Nguyễn Trãi là sự tự nguyện, chẳng có tổ chức hay cá nhân nào đứng ra bảo trợ công việc trên. Lợi nhuận thu được chỉ trông chờ vào việc bán sách và thù lao thuyết trình (500 đến 2.000 USD). Thật may, việc thuyết trình thơ Nguyễn Trãi rất được chờ đón ở Mỹ như lời Paul Hoover chia sẻ: “Ở Mỹ, chúng tôi đã có nhiều cuộc thuyết trình về thơ Nguyễn Trãi, và công chúng rất thích thông qua các bản dịch tiếng Anh”. Cũng cần nói thêm, chẳng có bất cứ lời mời nào để bộ đôi đến Việt Nam giới thiệu tập thơ, mà việc sang Việt Nam xuất phát từ ý tưởng khá “dị” của Paul Hoover: “Tôi muốn biết đất nước đã sinh ra ông ngày nay có còn biết đến con người của ông, nhất là những bài thơ của ông nữa hay không? Vậy nên, tôi và Nguyễn Đỗ đã đến đây như một cuộc khảo sát từ đó tìm cách truyền bá thơ Nguyễn Trãi một cách hiệu quả hơn”.

Nói ra những điều trên chỉ để phản ánh một thực trạng, việc quảng bá văn học Việt Nam vẫn chỉ là công việc của một số người tâm huyết, trong khi những chuyển động của các cơ quan chức năng vẫn chưa rõ rệt sau cái mốc Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam đầu năm 2010. Dù nền văn học Việt Nam không phải là nền văn học lớn trên thế giới, nhưng các tác phẩm có giá trị vẫn chưa được giới thiệu rộng rãi, và vì thế, vị thế văn học Việt Nam vẫn chưa được nhìn nhận đúng đắn. Lấy ngay ví dụ từ Nguyễn Trãi, Paul Hoover cho rằng, Nguyễn Trãi đáng được công nhận là một đại thi hào ngang tầm với William Shakespeare (Anh) và Đỗ Phủ (Trung Quốc) với một tầm tư tưởng trong thơ mang tính nhân loại, bao trùm mọi thời đại, nhất là tư tưởng nhân dân qua hai câu bất hủ trong bài Quan hải-Ngắm biển (Nguyễn Trãi toàn tập, 1969, Đào Duy Anh dịch): Phúc chu thủy tín dân do thủy/ Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên (Lật thuyền, thấm thía: dân như nước/ Cậy hiểm mong manh: mệnh ở trời). Đáng tiếc, tầm vóc của Nguyễn Trãi chưa được hiểu hết do chưa được dịch sang một ngôn ngữ quốc tế.

Sau tuyển tập Beyond the Court Gate, Nguyễn Đỗ và Paul Hoover sẽ thực hiện dự án “Tổng tập tinh hoa thơ Việt Nam xưa-nay” bao gồm thơ dân gian, thơ cổ điển, thơ hiện đại và đương đại góp phần quảng bá văn học Việt Nam đến với thế giới, đặc biệt là người đọc Mỹ. Dĩ nhiên ai cũng mừng và hoan nghênh việc làm nói trên của hai nhà thơ-dịch giả, nhưng chẳng lẽ chúng ta chỉ hoan nghênh suông thôi sao?

HÀM ĐAN

Thứ Ba, 31 tháng 5, 2011

CÙNG BÀN LUẬN (I): LỢI ÍCH "BỐN TRONG MỘT"!

Đây là bài đầu tiên viết cho mục "Cờ-bờ-lờ" (Cùng bàn luận) của báo nhà.

Ngay khi năm học kết thúc, nhiều bậc phụ huynh đã đau đầu tìm cách quản lý con em mình trong mấy tháng hè tới. Giải pháp khả dĩ mà nhiều bậc phụ huynh lựa chọn là gửi con vào các lớp năng khiếu vừa giúp trẻ có thể vừa học, vừa chơi sau một năm học căng thẳng. Thông thường, mỗi môn năng khiếu chỉ có một khóa học kéo dài trên dưới chục buổi để dạy kiến thức vỡ lòng. Và khi năm học mới bắt đầu, đa phần các em không tiếp tục học các môn năng khiếu nữa; do vậy, những khóa học năng khiếu thực thà mà nói chỉ để giữ trẻ em đỡ lêu lổng mà thôi!

Song, ở một số trường tại thành phố Hồ Chí Minh như trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm (quận I), trường tiểu học Lê Văn Tám (quận Tân Phú)… đã có cách làm sáng tạo, triển khai mô hình kết hợp học văn hóa và học các môn năng khiếu tạo được niềm tin ở phụ huynh.

Các trường nói trên vừa tổ chức cho các em học hè để ôn lại kiến thức; đồng thời, trường lớp cũng là địa điểm để các em học các môn năng khiếu. Điều đáng nói ở mô hình kết hợp học và chơi này là các môn năng khiếu không phải đợi đến dịp nghỉ hè mới được triển khai mà vốn được duy trì quanh năm. Trong mỗi trường, sẽ có nhiều câu lạc bộ như bơi, cờ vua, cầu lông, bóng đá, múa hát dân gian…, học sinh thích học môn nào thì đăng ký gia nhập câu lạc bộ đó để học thêm và sinh hoạt định kỳ hàng tuần với chi phí khá “mềm” từ 100 đến 200 ngàn đồng/tháng.

Vượt qua lý do ban đầu để quản lý, tránh cho các em tham gia các trò chơi vô bổ lúc “nhàn cư”; cái lợi lâu dài của mô hình vừa học vừa chơi này là có thể tìm ra một vài tài năng tiềm ẩn trong nghệ thuật và thể thao. Ở các nước phương Tây, thông qua các mô hình câu lạc bộ năng khiếu trong nhà trường mà nhiều tài năng đã được phát hiện, sau đó, được đầu tư để phát triển tài năng hết mức.

Lợi ích “bốn trong một” của mô hình câu lạc bộ năng khiếu trong trường học đã thấy rõ, song việc nhân rộng mô hình trên thì không hề đơn giản, chí ít là trong môi trường đô thị-nơi có đủ trang thiết bị và giáo viên giảng dạy các môn năng khiếu. Nhiều trường có điều kiện tổ chức mô hình lại chưa ráo riết thực hiện vì nhà trường còn bận tổ chức các em học văn hóa. Riêng với việc tổ chức học năng khiếu vào dịp nghỉ hè và rộng ra là thành lập câu lạc bộ năng khiếu trong các trường thì các nhà trường không mấy mặn mà vì chi phí đầu tư lẫn tìm kiếm giáo viên không phải là việc dễ và có thể làm ngay. Ở khía cạnh khác, nhiều trường học đã lợi dụng sự khó khăn của phụ huynh trong việc trông nom con em nên đã đồng loạt tổ chức nhiều khóa học năng khiếu một cách tự phát theo thời vụ với mức giá quá cao như một khóa học (17 buổi) môn dancesport là gần 700 ngàn đồng.

Thiết nghĩ, để phát huy tối đa lợi ích của mô hình các câu lạc bộ năng khiếu trong trường học, phụ huynh và nhà trường cần ngồi lại để thống nhất cơ chế hoạt động của câu lạc bộ để phụ huynh yên tâm công tác, nhà trường có nguồn thu nhập thêm và hưởng lợi nhiều nhất là các em học sinh được học, được chơi trong một kì nghỉ đích thực.

HÀM ĐAN

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2011

DƯ ÂM TRẬN CHUNG KẾT CHAMPIONS LEAGUE 2010-2011: "M.U SẼ TRỞ LẠI MẠNH MẼ HƠN"

Sau khi trận chung kết Champions League kết thúc với chiến thắng thuộc về Barcelona, báo chí thế giới đã dùng mọi mĩ từ để ca tụng chiến thắng xứng đáng của gã khổng lồ xứ Catalan. Đồng thời, dư luận cũng mổ xẻ thất bại của M.U và dự báo cho cuộc trường chinh của “quỷ đỏ” ở mùa giải Champions League sau.

Các tờ báo đều trích lời các cầu thủ M.U với đại ý rằng: Barcelona xứng đáng giành chức vô địch vì chơi hay hơn. Từ Sir Alex đến các cầu thủ đều bình thản chấp nhận thất bại, chỉ riêng trường hợp “hạt đậu nhỏ” Chicharito thì thất bại tại trận chung kết Champions League đầu tiên là một vết thương lòng khó quên.

Hầu hết các nhà bình luận bóng đá đều cho rằng M.U đã chơi không tệ ở trận đấu trên sân Wembley. Tiền đạo xuất sắc của đội tuyển Anh và là cựu cầu thủ của Barcelona Ga-ry Li-nê-cơ nhận xét trên tờ News of the world: “Các cầu thủ M.U đã có lối chơi thích hợp khi đối đầu với Barcelona. M.U chứng tỏ họ đã chơi bóng với bản sắc riêng, không giống lối chơi triệt hạ của Real Madrid ở trận chung kết Cúp nhà Vua”.

Người phụ trách lĩnh vực bóng đá của BBC Phin Mắc-nun cũng cho rằng M.U đã không sai lầm về chiến thuật như trận thua ở Rome năm 2009: “Đây không phải là vấn đề đơn thuần về chiến thuật, đây là vấn đề về tài năng. Không ai có thể sánh được với Barcelona về điểm này. Và trên thực tế thì United khó có thể đuổi kịp Barcelona”. Đồng thời, ông có ý ngầm so sánh thất bại của M.U trước Barcelona tương tự như cách Liverpool từng thua A.C Milan tại chung kết Champions League 2006-2007 là do đẳng cấp cầu thủ của M.U không thể so sánh với Barcelona. Ông cũng chỉ ra sự yếu kém nhân sự nằm ở đâu: “Ferguson cần phải đầu tư vào tuyến tiền vệ bằng những cầu thủ đẳng cấp thế giới mới có thể thi đấu ngang ngửa với Barcelona”.

Để minh họa cho sự thua kém ở hàng tiền vệ M.U, trang web của Liên đoàn bóng đá châu Âu uefa.com đã đưa ra những con số thống kê: Xa-vi thực hiện 148 đường chuyền, chính xác tới 141 lần, đạt hiệu suất 95%, gấp 3 lần tiền vệ Ca-rích (M.U); tỷ lệ kiểm soát bóng của Barcelona trong trận chung kết là 68%...

Ngoài ra, thất bại của M.U cũng xuất phát một phần từ những sai lâm trong tổ chức phòng ngự. Thủ thành E. Van đờ Xa thừa nhận trên Goal.com: “Chúng tôi đã phạm sai lầm ở hai tình huống. Và Barcelona đã trừng phạt chúng tôi bằng hai bàn thắng”.

Thất bại lần thứ hai trước cùng một đối thủ trong vòng 3 năm có thể xem là cay đắng đối với fan của “quỷ đỏ” tuy nhiên nhiều chuyên gia bóng đã cho rằng thất bại là cơ hội để M.U tái cấu trúc đội hình, tiếp tục là một thế lực tại đấu trường châu Âu. Huấn luyện viên Sam A-la-đai (Anh) nói trên kênh truyền hình ESPN cho rằng: “Sir Alex sẽ lên danh sách mua sắm trong mùa hè này và xây dựng một đội hình mạnh mẽ cho M.U bởi để có thể tiến đến trận chung kết Champions League và giành chiến thắng, họ sẽ phải cải thiện nhiều bằng cách mua một hoặc hai cầu thủ chất lượng cao”.

Trung vệ đội trưởng R. Phéc-đi-năng tin rằng M.U sẽ trở lại mạnh mẽ hơn vào mùa giải tới. Lớn tiếng hơn, hậu vệ cánh trái của M.U P. Ê-vra khẳng định trên Goal.com: “Chúng tôi không hề run sợ trước Barcelona. Chúng tôi muốn tiếp tục thi đấu với họ ở mùa giải tới. M.U là một câu lạc bộ vĩ đại hơn nhiều đội bóng khác vì chúng tôi biết đứng dậy sau mỗi thất bại”.

HÀM ĐAN

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2011

ĐỒ CHƠI NGUY HẠI "BỦA VÂY" TRẺ EM

Năm 2009, tập đoàn Mattel tổ chức 50 năm ra đời dòng búp bê nổi tiếng Barbie khi doanh thu sụt giảm. Đơn giản, những đồ chơi làm bằng vật liệu công nghiệp chỉ còn phù hợp với trẻ em độ tuổi 5-6 tuổi thay cho dưới 10 tuổi như trước; và thế chỗ là các trò chơi điện tử. Như trẻ em phương Tây, những trò chơi “ảo” đang là lựa chọn hàng đầu của trẻ em Việt Nam. Nhưng với đặc thù là một nước đang phát triển, trẻ em Việt Nam còn đang bị “bủa vây” bởi đồ chơi bạo lực và đồ chơi có hóa chất độc hại.

1. Có người nói rằng, ở các đô thị, không gian chơi bị thu hẹp nên các trò chơi truyền thống gắn với không gian làng quê đã biến mất. Nguyên nhân trên chỉ là thứ yếu. Chẳng cần thống kê khoa học, cũng nhận ra trẻ em ngày nay thông minh sớm, cộng với điều kiện sống tốt hơn khiến nhận thức giữa các độ tuổi ngày càng thu hẹp và các giai đoạn phát triển tâm lý cũng ngắn lại. Trẻ em đương đại có nhu cầu tìm đến các trò chơi trừu tượng, mang giải trí và kích thích sự sáng tạo hơn là các trò chơi dân gian đơn giản. Sự thay đổi về tâm sinh lý cũng là lý do chính để giải đáp vì sao các đồ chơi bằng vật liệu công nghiệp ngày càng ít hấp dẫn với trẻ em.

Thay thế những đồ chơi cụ thể vật chất lại là những trò chơi ảo. Một số trò chơi ảo có tác dụng tích cực khi nó hợp với nhu cầu giải trí tinh thần mang tính sáng tạo của trẻ em thời nay. Tuy game được lập trình trước, nhưng không phải lúc nào người chơi cũng có thể vượt qua dễ dàng. Kinh nghiệm được tích lũy ở những lần chơi thua giúp trẻ em có khả năng suy nghĩ để chinh phục các level tiếp theo.

Song cái lợi của game thì ít mà hại thì nhiều. Cái hại nhãn tiền là về sức khỏe. Tệ hơn là các hành vi tội phạm liên quan đến game xảy ra nhan nhản. Nhưng tác hại lâu dài đáng nói là năng giao tiếp và tư duy bị hạn chế khi thế giới phát huy sáng tạo của trò chơi thu vào một môi trường đóng kín.

Khoảng thời gian vui chơi còn lại, rủi thay, trẻ em ở ta lại chủ yếu tiếp xúc với những đồ chơi nguy hại là đồ chơi bạo lực và đồ chơi có hóa chất độc hại. Những đồ chơi bạo lực có thể gây sát thương như súng, dao kiếm có thể dễ tìm như mua kẹo với cái giá hơn 100 nghìn đồng. Ngay đến một thành phố không phải là sầm uất là Phan Rang-Tháp Chàm (Ninh Thuận) đã tiêu hủy 10 ngàn khẩu súng đồ chơi thu được trong quý I-2011.

Số lượng đồ chơi có chứa hóa chất độc hại thì khó ước đoán chính xác và cũng khó xác định qua các giác quan thông thường. Nhưng chắc chắn số lượng đó không phải là nhỏ vì 80% sản phẩm đồ chơi trên thị trường là nhập lậu, tức chưa được kiểm tra an toàn.

2. Sau những vụ việc đau lòng liên quan đến game khiến dư luận phát hoảng về tác động xấu của những trò chơi “ảo”. Hàng loạt các biện pháp hành chính và kỹ thuật được áp dụng để hạn chế trẻ em tiếp xúc với game. Nhưng đó chỉ là biện pháp đối phó mà nếu sao nhãng kiểm tra, hiểm họa game sẽ lại bùng phát. Có chuyện kể rằng, vào giờ ngủ trưa ở một lớp bán trú cấp tiểu học, vài học sinh trùm chăn chơi game bằng máy cầm tay một thời dài mà cô giáo không hề biết. Đến khi hàng loạt học sinh bị bị cận thị, “hoạt động bí mật” trên mới bị lộ. Thế nên, để hạn chế mặt xấu của game, không có cách nào khác là kiên trì giáo dục các em để các em hình thành thói quen chơi game điều độ. Bằng chứng thành công của phương pháp này là nhiều trẻ em vẫn chơi game với một thời gian nhất định và vẫn học giỏi.

Với đồ chơi bạo lực câu chuyện còn phức tạp hơn nhiều. Có khá nhiều bài báo kêu gọi lương tâm của những nhà sản xuất lẫn người bán các đồ chơi nguy hại. Vì lợi nhuận thì những bận tâm đạo đức sẽ trở thành thứ yếu, những lời kêu gọi suông thành thử chỉ phí lời. Vả lại, có cung thì ắt có cầu, những đồ chơi siêu nhân, súng ống, dao kiếm vốn mô phỏng các vật dụng trong các bộ phim hành động và các game bạo lực; độ tuổi trẻ chơi đồ chơi bạo lực chưa đủ khả năng phân tích dễ mắc bệnh bắt chước và tâm lý đua đòi thể nào cũng sẽ tìm mua.

Tại các những thành phố lớn, các cơ quan chức năng cũng đã có ý thức ngăn chặn đồ chơi bạo lực, chỉ khiến việc bày bán diễn ra lén lút, mà chưa ngăn chặn triệt để. Ở nhà trường, các biện pháp mạnh tay đã đã được triển khai, nhiều trường có quy định học sinh chỉ được mang đồ dùng học tập đến trường. Nếu bị phát hiện mang đồ chơi bạo lực đến lớp, học sinh sẽ bị hạ một bậc hạnh kiểm, nộp tiền phạt và phải lao động công ích vài buổi. Ở những ngôi trường áp dụng các hình phạt trên, đồ chơi bạo lực đã không còn xuất hiện.

Nhưng có một nơi mà đồ chơi bạo lực vẫn xuất hiện lại chính là nhà các em. Nếu để ý, vào các ngày nghỉ lễ, không hiếm cảnh các bé trai lăm lăm khẩu súng đồ chơi trong tay đi chơi với với bố mẹ. Những phụ huynh nói trên chắc chỉ nghĩ đơn giản đó là đồ chơi chẳng có tác hại nào. Đến khi vài cậu bé hỏng mắt do đạn nhựa, những giọt nước mắt ân hận muộn màng mới trào ra.

Nhiều phụ huynh mua đồ chơi cho con theo kiểu tiện thì mua mà chẳng bao giờ để ý đến xuất xứ và các con dấu kiểm định của đồ chơi. Họ đâu biết những đồ chơi trông dễ thương lại chứa nhiều chất độc hại như chất phthalates có thể gây dị tật ở cơ quan sinh dục của trẻ em. Dĩ nhiên những tác động xấu không bộc lộ ngay nên sự chủ quan là điều khó tránh khỏi.

Trong khi tiếp tục hy vọng ở các cơ quan chức năng dẹp bỏ đồ chơi nguy hại, mỗi phụ huynh cần tự nâng cao ý thức để tự bảo vệ con em mình. Cần phải thường xuyên kiểm tra đồ chơi của con có nguy hiểm không? Và tìm hiểu mua đồ chơi được kiểm nghiệm an toàn ở đâu?

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

THỜI ĐÀM (X): NHÀ GIÀU HỌC GIỎI

Hôm vừa rồi, qua nhà ông hàng xóm đại gia nhâm nhi “hàng xách tay”, đại gia báo cho tôi hai tin mừng ông mới nhận được: Cô con gái út đã được ghi danh vào một đại học danh tiếng của Anh, tin thứ hai là cô chị đã được các giáo sư hàng đầu thế giới về biến đổi khí hậu nhận hướng dẫn luận án tiến sĩ ở Mỹ. Tôi thực mừng cho đại gia vì nuôi dạy hai đứa con khỏe mạnh, đạt được những thành tựu học tập đáng ngưỡng mộ như trên chẳng dễ chút nào.

Đành rằng, nhờ tài sản của một triệu phú USD, hai “công chúa” của đại gia không phải vừa đi học vừa đi làm thêm ở xứ người mà chỉ chuyên tâm cho việc học, song nếu không có sự nỗ lực của hai nàng thì có tiền tỷ USD cũng “chào thua”. Tôi nói ra suy nghĩ đó, liền được đại gia tán đồng:

- Đúng là chú chỉ hướng nghiệp thôi, chuyện học hành của nó tự nó lo lấy, ai mà học thay được. May mà các con chú đều ý thức được tầm quan trọng của tri thức và có khả năng tự học rất tốt.

Nói đến đây, giọng ông bỗng trầm đi chuyển sang câu chuyện khác.

- Chú có ông bạn làm giám đốc quản lý hơn 5.000 công nhân. Kì thi đại học tới đây, chắc ông ấy sẽ nhận được tin buồn. Thằng con ông ấy nổi tiếng lười nhác, nó chỉ chuyên “nghiên cứu giấc mơ”, chưa thi cũng biết nó sẽ trượt. Nguyên nhân một phần cũng tại ông ấy, ông ấy không biết cách hướng dẫn nó đi theo con đường học vấn. Chú đã nhiều lần chứng kiến những câu chuyện ông ấy nói với con toàn là chuyện làm ăn đâu đâu, khiến thằng bé ảo tưởng chẳng cần học cũng có thể thành công như bố nó.

- Vậy là người giàu cũng khóc rồi!
- Ừ. Nhưng chú chỉ thấy hơi kì lạ; ở nước mình, người ta nhìn nhận thành tích học tập tốt của con nhà giàu là điều đương nhiên, nhà có điều kiện không giỏi mới là lạ. Họ đâu biết rằng, đôi khi nhiều tiền lại nguy hiểm. Như con út nhà chú học suốt ngày và phải giỏi toàn diện các môn mới được nhận vào học bên Anh. Vì nhà có điều kiện nên nó đã phải tự kiểm soát ham muốn đua đòi khá thông thường ở lứa tuổi của nó: nó không sắm hàng hiệu, không có xe máy, ít đi chơi đàn đúm khoe khoang ta là “tiểu thư”, tránh những trò vô bổ đẻ khỏi phân tâm đến việc học. Cũng chính vì dư dả tiền bạc không phải lo chuyện cơm áo nên sức ép phải học giỏi luôn đè nặng lên vai con chú. Giờ nghĩ lại vẫn còn thương!

- Chú đừng trách người ta không hiểu nỗi khổ của con nhà giàu vì truyền thông ở ta hình như chỉ giúp con nhà nghèo học giỏi kể khó kể khổ!

- Đó là một sự tuyên truyền khá lệch lạc. Khi đã có ý định chiếm lĩnh tri thức việc anh có bao nhiêu tiền không có vai trò quyết định; vấn đề nằm ở sự chăm chỉ, lòng say mê, phương pháp học và khả năng tiếp thu kiến thức... mới dẫn đến thành công trong học vấn. Đành rằng, những ai nghèo học giỏi đều đáng nêu gương nhưng đáng lẽ cần phải nêu gương bất cứ ai thành công trong học tập không phân biệt là con nhà giàu hay nhà nghèo. Năm ngoái, sau khi kết quả kì thi đại học công bố, báo chí lại đi theo lối mòn là liên tiếp ghi nhận các thủ khoa con nhà nghèo vượt khó để khơi dậy tinh thần hiếu học. Nhưng, chú nhớ chỉ có một tờ báo tìm kiếm xem trong số thủ khoa có ai là con nhà giàu và khá bất ngờ con số đó cũng không phải là ít. Chẳng nói thẳng, nhưng tờ báo đó ngầm tôn vinh những “thiếu gia” có ý chí phấn đấu mà không dựa vào núi tiền của các cụ! Chú tiếc là lẽ ra báo chí nên phản ánh thật công bằng!

- À này, mà cháu cũng là nhà giàu học giỏi chứ còn gì?

- Gia cảnh nhà cháu thì chỉ đáng gọi là trung lưu loại khá đâu phải là đại gia, với lại cháu cũng đâu có giỏi toàn diện, cháu học lệch trầm trọng. Về hoàn cảnh riêng, cháu cũng phải chịu thiệt thòi đôi chút. Bố cháu là bộ đội đóng quân tận biên giới ít khi về nhà. Mẹ cháu là giáo viên đi dạy cả ngày, mẹ con chỉ gặp nhau vào bữa tối. Gần như từ bé, cháu phải sống tự lập, chẳng ai bảo cứ tự giác ngồi vào bàn học. Đến khi đi học đại học ngoài Hà Nội cũng tự lo lấy cuộc sống. Kể ra thì buồn cười, nhiều người nhìn bề ngoài cứ nghĩ cháu là dạng công tử ăn chơi, được các cụ trang bị tận răng. Nhưng cháu kệ, việc mình, mình làm thôi!

- Cứ tiếp tục làm những gì cháu ước mơ đi. Cụng ly chúc thành công nào!

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Ba, 24 tháng 5, 2011

NHÌN LẠI CANNES 2011: CÁI MỚI LÊN NGÔI

Từ lâu, nhiều người đã thử so sánh giá trị giữa tượng vàng Oscar (Mỹ) và Cành cọ vàng Cannes (Pháp). Việc làm đó hoàn toàn vô bổ; đơn giản, hai giải thưởng này có những tôn chỉ và mục đích khác nhau.

Oscar nổi tiếng hơn Cannes vì luôn hướng đến những bộ phim dễ hiểu, thời sự, đôi khi thiên về kĩ xảo làm “sướng” mắt; vì vậy, thỉnh thoảng, có phim đoạt giải Oscar khá dễ dãi “mua vui” chốc lát mà không ám ảnh người xem. Là một giá trị khác, Liên hoan phim (LHP) Cannes chấp nhận mọi khuynh hướng, song thường vinh danh những bộ phim giàu tính nghệ thuật hoặc có tính đổi mới. Tôn chỉ đó có thể được minh họa qua lời của ngài chủ tịch LHP Gilles Jacob: “Điều quan trọng không phải là thể loại của tác phẩm mà chính là góc nhìn của người thực hiện, để chuyển tải một thông điệp”. Với sức hút riêng biệt, không khó lý giải khi hàng triệu người đến thành phố biển miền Nam nước Pháp để được xem những bộ phim cần sự suy tư trong thưởng thức, rồi in sâu vào trí nhớ một khoái cảm… vừa sướng vừa khổ!

Cannes 2011 là một kỳ LHP xuất hiện nhiều nét mới. Hơi buồn một chút khi sự kiện mới mẻ đầu tiên lại là một vụ xì-căng-đan, đạo diễn Đan Mạch Lars Von Trier-từng đoạt Cành cọ vàng, đã trở thành đạo diễn đầu tiên phải rời LHP trước lễ trao giải sau khi ông tuyên bố hưởng ứng chủ trương bài Do Thái của Hitler. Một sự kiện kém vui khác là bộ phim võ thuật Nhất đại tôn sư (The grandmasters) của “thi sĩ điện ảnh” Vương Gia Vệ (Hồng Kông, Trung Quốc)-đạo diễn của những phim lãng mạn, đã không kịp hoàn thành khiến Cannes 2011 thiếu vắng điện ảnh Hoa ngữ, mất đi sự đa dạng và phong phú của LHP.

Dù có những chuyện buồn, Cannes 2011 vẫn là kỳ LHP đổi mới bởi lần đầu áp dụng mô hình 1/3 cho 20 bộ phim tranh giải Cành cọ vàng: đạo diễn từng đoạt giải-các đạo diễn có tiếng-các đạo diễn trẻ; thay cho phương thức 50-50, tức là nửa các tên tuổi lớn và nửa các tài năng trẻ.

Trong số các phim của các đạo diễn trẻ, có 3 đạo diễn lần đầu tiên có phim được tuyển chọn là Maiwenn (Pháp), Julia Leigh (Úc), Markus Schleinzer (Áo). Và khá bất ngờ khi phim “Poliss” (biến âm “police”-cảnh sát) của nữ đạo diễn 35 tuổi Maiwenn đã giành Giải của Ban giám khảo. Ngoài Maiwenn, khá nhiều người được vinh danh Cannes 2011 mới đạt đến độ chín của tài năng và đều lần đầu được đạt được vinh quang như: đôi diễn viên xuất sắc nhất là nam diễn viên Jean Dujardin (39 tuổi) và cô đào nóng bỏng Kirsten Dunst (29 tuổi), Nicolas Refn giành giải Đạo diễn xuất sắc vào tuổi 41 tuổi… Có thể nói, Cannes 2011 đã vinh danh về một thế hệ làm phim mới.

Niềm vui của người này lại là nỗi buồn kẻ khác, trường hợp lỗi hẹn đáng tiếc nhất là tài tử Mỹ Brad Pitt. Sau khi kiếm bộn tiền và nổi như cồn với các vai diễn anh hùng cơ bắp trong phim Ông bà Smith hay Troy…, B. Pitt chuyển sang đóng các vai đòi hỏi chiều sâu diễn xuất như phim Trường hợp dị thường của Benjamin Button (2008). B.Pitt đã diễn xuất trên mức chờ đợi và đạt đến trình độ thượng thừa trong phim Cây đời (The tree of life, 2011). B. Pitt hẳn đã giành giải Nam diễn viên xuất sắc nếu Jean Dujardin (phim Nghệ sĩ) không hiện diện trong vai diễn viên hết thời George Valentin cùng với thể loại phim câm đi vào cuối mùa. Jean Dujardin đã vào một vai cực khó khi sử dụng ngôn ngữ hình thể để chuyển tải nội dung của… phim câm đen trắng! Tài tử Pháp diễn xuất thăng hoa đến nỗi dù ai có tiếc cho tài tử Mỹ cũng khó có thể cất lời bào chữa.

Tiếc nuối không kém là trường hợp hai bộ phim được dư luận ca ngợi là Cảng Havre (đạo diễn Kaurismaki) và Chúng ta cần nói về Kevin (đạo diễn Lynne Ramsay). Hai bộ phim không đoạt giải với lý do… trùng thông điệp với những bộ phim đã đoạt giải các năm trước. Cảng Havre là câu chuyện của những người nhập cư với thông điệp hướng tới sự đại đồng giống với thông điệp phim Lớp học (Cành cọ vàng 2008). Phim Chúng ta cần nói về Kevin đề cập đến sự lệch lạc hành vi của trẻ em xuất phát từ những chấn thương tâm lý giống với phim Dải băng trắng (Cành cọ vàng 2009).

Dẫu vậy, ban giám khảo cũng đã hoàn thành nhiệm vụ khi trao giải Cành cọ vàng cho bộ phim đáng chờ đợi nhất và cũng xứng đáng nhất: Cây đời (đạo diễn Terrence Malick). Đáng chờ đợi vì dự án bộ phim đã thai nghén trong chừng… 40 năm. Sự chờ đợi còn tăng lên khi đạo diễn phim là một con người kì lạ. Suốt 40 năm làm phim, Terrence Malick chỉ làm đạo diễn 5 phim. Mỗi bộ phim của ông được đánh giá là kiệt tác, là dấu mốc đáng nhớ của điện ảnh, và Cây đời cũng không phải là ngoại lệ. Báo Libération (Pháp) phải thốt lên: “10 phút đầu đủ để nhớ suốt đời… Một bộ phim ngoại hạng”.

Bộ phim Cây đời kể về cuộc sống thường ngày của một gia đình trung lưu tại Hoa Kỳ những năm 1950. Người cha (ông O’ Brien) do Brad Pitt thủ vai có tính cách gia trưởng, luôn bị ám ảnh về sự thành đạt của ba đứa con trai. Vợ ông do Jesssica Chastain đóng lại hiền hậu, luôn tìm cách động viên các con. Jack khi lớn do diễn viên kì cựu Sean Penn đóng vai, thường xuyên tra vấn về quá khứ của tình thương lẫn sự nghiêm khắc. Tất cả những sinh hoạt của gia đình ông O’ Brien được đan xen vào trong khung cảnh của sự ra đời của Trái đất, sự xuất hiện của sự sống và sự tiến hóa...

Bộ phim phản ánh một đề tài cũ nhưng Terrence Malick đã có những cách biểu đạt mới mẻ, khiến người ta có cảm tưởng bộ phim như là một luận văn triết học bằng hình ảnh về sự sống của riêng Terrence Malick-cựu sinh viên triết Đại học Harvard. Ngoài ra, Cây đời đạt đến sự mới mẻ đáng kinh ngạc xuất phát từ cách làm phim kì lạ. Giống như các phim của Vương Gia Vệ, phim Cây đời không đi theo một kịch bản sẵn mà vừa quay phim vừa viết dần. Mỗi cảnh quay chỉ diễn hai lần để đạt đến lối diễn tự động, để diễn viên bộc lộ hết bản năng tiềm ẩn. Các yếu tố khác như âm nhạc và hình ảnh được Terrence Malick trau chuốt đến tận lúc… mang tới trình chiếu tại LHP!

Khi những giải thưởng đã được trao, Cannes 2011 cũng kết thúc. Những giá trị truyền thống khởi từ 64 năm trước vẫn được duy trì, đồng thời những nét mới cũng đã xuất hiện. Vế sau mới là điểm nhấn khiến Cannes 2011 trở thành một kỳ LHP đáng nhớ.

HÀM ĐAN


Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011

CHẤT LƯỢNG PHIM TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM: "BỆNH" SẼ TÁI PHÁT!

Thời gian gần đây, dư luận đã lên tiếng về việc chất lượng phim truyền hình Việt Nam nhất là phim chiếu vào “giờ vàng” đi xuống. Có thể xem, quy trình sản xuất chưa chuyên nghiệp và việc quản lý chất lượng phim truyền hình còn nhiều bất cập, là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nói trên.

“Xây nhà từ nóc”

 
Ngay cả những đơn vị nhà nước được đầu tư làm phim truyền hình chuyên nghiệp như Trung tâm sản xuất phim truyền hình Việt Nam (VFC) hay Hãng phim truyền hình TP Hồ Chí Minh (TFS) dù muốn sản xuất ắt cũng phải “đầu hàng” trước đề tài lịch sử thời trung đại; bởi thiếu những cơ sở trang thiết bị tối thiểu phục vụ cho việc sản xuất. Đầu tiên, trường quay không có nên dễ nhận thấy các phim lịch sử trung đại ở ta không có đại cảnh để phô diễn cung điện, đền đài hoành tráng, cùng lắm chỉ lấy bối cảnh không gian một căn phòng. Thứ nữa, trang phục thời trung đại không được thiết kế chuyên nghiệp mà có cảm tưởng đoàn làm phim đi mượn từ đoàn chèo nào đó.

Thiếu thốn là vậy song vẫn có nhà sản xuất vẫn “liều mình” bỏ tiền để sản xuất những phim cổ trang như bộ phim Anh chàng vượt thời gian. Bộ phim phát sóng vào 21 giờ vào thứ 2,3 và 4 hàng tuần trên kênh VTV3, song do chất lượng kém đã dừng phát sóng sau khi phần 1 kết thúc. Chưa bàn đến các nguyên nhân xa xôi dẫn đến danh hiệu “thảm họa phim Việt” của bộ phim, ngay đến yếu tố đầu tiên quyết định một phần chất lượng của bộ phim là kịch bản đã không được đầu tư chu đáo dẫn đến nội dung nhạt nhẽo. Đặc biệt là tập 7-tập phim bị khán giả chê hết lời, sơ sài đến khó tin. Theo lời của diễn viên tham gia trong phim là Hứa Vĩ Văn tiết lộ trên báo chí, kịch bản tập phim dài 45 phút này chỉ có... 7 trang giấy!

Một bộ phim khác cũng bị khán giả chê nhiều hơn khen là bộ phim Xin thề anh nói thật (phát sóng trên VTV1). Bộ phim này khá “dễ” thực hiện bởi bối cảnh cuộc sống đương đại, nhưng bộ phim vấp phải những khiếm điểm sơ đẳng. Kịch bản kém chất lượng với những tình huống giả tạo và lời thoại ngô nghê. Các nhà sản xuất phim đã lựa chọn các “sao” có ngoại hình đẹp hòng “câu” khán giả nhưng diễn xuất của những diễn viên không chuyên quá gượng gạo. Nhà phê bình điện ảnh Lệ Bình đánh giá: “Đáng lẽ bộ phim phải đổi tên thành Xin thề anh nói… nhảm. Việc bộ phim lấy bối cảnh một ngân hàng nổi tiếng (như một kí kết) đã biến nó thành thứ quảng cáo dài tập”.

Có thể thấy xem ngành sản xuất phim truyền hình Việt Nam đang “xây nhà từ nóc” do chú trọng sản xuất mà không đi liền với đầu tư cho nhân lực và trang thiết bị khiến chất lượng phim truyền hình không thể đi lên.

Lỗi quản lý!

Luật Điện ảnh và sau đó là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh (có hiệu lực từ ngày 1-10-2009) cho phép xã hội hóa sản xuất phim truyền hình. Gần một năm sau, khoản 4 điều 2 của Nghị định 54/2010/NĐ-CP ban hành ngày 21-5-2010 do Thủ tướng Chính phủ ký quy định: “… phim Việt Nam đạt ít nhất 30% trong tổng số phim chiếu tại rạp và đạt ít nhất 40% trong tổng số phim phát sóng trên hệ thống truyền hình”.

Các điều luật nói trên thực sự tạo một “cú hích” cho một nền điện ảnh chuyên nghiệp dẫn đến sự xuát hiện của hơn 30 hãng phim tư nhân như: Lasta, M&T Pictures, BHD, HK Films, Kiết Tường, Đông A, Chánh Phương, Phước Sang... chen nhau chia phần “miếng bánh” quảng cáo. Theo như bảng báo giá trong năm 2011 của Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền hình (TVAD) thì một đoạn quảng cáo dài 30 giây phát trước khi bộ phim được trình chiếu trên kênh VTV3 vào 21 giờ có giá 90 triệu đồng, cũng đoạn quảng cáo đó nếu phát xen giữa bộ phim vào ngày thứ 5 và 6 trên VTV3 thì giá là 105 triệu đồng. Làm phim truyền hình có thể xem là lĩnh vực hốt bạc. Đồng thời, các bộ phim muốn lên sóng thì phải cam kết bằng đoạn quảng cáo. Đạo diễn Phước Sang từng than thở: “Khán giả la ó là chuyện của khán giả. Khán giả la ó nhưng nếu nhà đài thấy phim của anh có được 21 spot (đoạn) quảng cáo mỗi tập là ông ấy cho làm tiếp. Còn khán giả có khen phim anh tốt đến thế nào mà mỗi tập chỉ có 10 spot quảng cáo thì nhà đài cũng chịu. Bi kịch!”

Theo đạo diễn, PGS-TS Trần Duy Hinh: “Các đơn vị xã hội hóa chỉ chạy theo lợi nhuận nên sản xuất phim nhanh để phát sóng chứ không quan tâm đến tính nghệ thuật của phim nên việc nhiều phim chất lượng thấp ra đời ra điều đương nhiên. Song, phim dở vẫn có thể ngăn chặn nếu những nhà quản lý kiên quyết loại bỏ những bộ phim kém chất lượng ngay từ khâu kịch bản nhưng đáng tiếc họ thiếu cái “tâm” cần có”.

Nhận xét của đạo diễn, PGS-TS Trần Duy Hinh có thể được chứng thực qua lời “tự thú” trên báo chí của đạo diễn Đỗ Thanh Hải-thành viên hội đồng duyệt kịch bản phim Anh chàng vượt thời gian: “Về đề cương kịch bản và kịch bản chi tiết 5 tập đầu của phim này tôi thấy ổn...”. Vậy, suy ra, ông Hải đã không xem trọn kịch bản của bộ phim, nhất là là tập 7 (chỉ có 7 trang giấy) để rồi vẫn “OTK” một kịch bản nhạt nhẽo. Ở đây, không bàn đến trình độ thẩm định mà là tinh thần trách nhiệm của những người quản lý đang đi xuống tỉ lệ thuận với chất lượng bộ phim được lên sóng.

Nói đi cũng cần nói lại, làm phim truyền hình không thể “đều hàng”, nghĩa là trong hàng chục bộ phim sẽ có phim hay, phim dở; thậm chí, ngay trong một bộ phim hay cũng sẽ có tập phim chất lượng xoàng. Nhưng sự tồn tại của những bộ phim “thảm họa” thời gian qua do nguyên nhân chủ quan, hoàn toàn có thể làm tốt hơn. Và một khi, chưa khắc phục được hai nhược điểm nói trên, các bộ phim “thảm họa” vẫn sẽ tiếp tục xuất hiện “hành hạ” người xem y như một căn “bệnh” thể nào rồi cũng sẽ tái phát!

HÀM ĐAN

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

CÂU CHUYỆN THỂ THAO: "LÍNH CỨU HỎA"

Báo chí phương Tây hay dùng chữ “Fireman” (lính cứu hỏa) với nghĩa bóng chỉ những người phải thực hiện một nhiệm vụ khó khăn trong hoàn cảnh cấp bách. Nếu cần phải tìm ra “lính cứu hỏa” trong lĩnh vực thể thao thời gian qua, không nhân vật nào thích hợp hơn ông Mai Đức Chung-Huấn luyện viên tạm quyền của đội tuyển quốc gia Việt Nam.

Hoàn cảnh xô đẩy ông Chung đến vị thế “tạm quyền” lại đến câu chuyện dài khác. Do thời hạn nộp danh sách cầu thủ và ban huấn luyện các đội tuyển quốc gia lên FIFA chuẩn bị cho vòng sơ loại World Cup 2014 đã cận kề mà VFF vẫn chưa kí kết hợp đồng được với huấn luyện viên ngoại nên ông Chung được chỉ định làm người “đóng thế”. Khổ cho ông Chung, cái ghế ông ngồi oách nhất trong làng huấn luyện viên Việt Nam nhưng cũng nóng nhất. Từ ngày “ông Tô” ra đi, đội tuyển Việt Nam nảy sinh vô số vấn đề cần giải quyết, nào là tìm một lối chơi mới, lắp ghép một đội hình mới trong hoàn cảnh nhiều cầu thủ trụ cột sa sút phong độ vì chấn thương và tuổi tác…

VFF đã chứng tỏ sự khôn ngoan khi chọn một người thích hợp như ông Chung để ngồi lên “ghế nóng” ở đội tuyển. Thứ nhất, câu lạc bộ ông Chung đang dẫn dắt là Navibank Sài Gòn đang xếp thứ 7/14 tại V-League, một vị trí an toàn khiến ông không quá tải khi cầm quân ở hai mặt trận. Thêm vào đó, bảng thành tích của ông Chung cũng khá ấn tượng với hai lần đưa các cầu thủ nữ lên ngôi hậu tại Seagames và vô địch cúp Merdeka với đội tuyển U22 ngay tại sân Malaysia. Quan trọng hơn, ông Chung đã từng “đóng thế” thành công. Năm 2007, khi còn làm trợ lý cho “chuyên gia về nhì” A. Riedl, ông từng dẫn dắt Olympic Việt Nam vượt qua các đối thủ Tây Á là Liban và Oman để lọt tới vòng loại cuối cùng của Olympic Bác Kinh 2008 trong tình thế bất đắc dĩ khi “Mr Bạc” bận… ghép thận. Mặt khác, ông Chung là người có tính cách hiền lành, hy vọng sẽ khiến “ba quân” dễ chịu. Trong bối cảnh nhạy cảm này, chẳn ai dại mời những huấn luyện viên có trình độ nhưng quá cá tính kiểu như huấn luyện viên Lê Thụy Hải. Ông Hải “lơ” được cho là huấn luyện viên kì tài vì ở câu lạc bộ nào ông cầm quân đều lột xác, đá lên chân. Lẽ thường, ông Hải có thể được chọn để làm mới một đội bóng cần nhiều thay đổi. Song, có lẽ, ông Hải không được chọn chỉ vì những chuyên hậu trường không mấy tốt đẹp. Ông từng quát “quân” như tát nước (thầy mà, dĩ nhiên!), hơn nữa, ông chỉ trích trọng tài kịch liệt và bực lên thì những người vô can như người hâm mộ và báo chí, ông Hải cũng không “tha”. Giả dụ, vào một ngày xấu trời nào đó, ông Hải lại có hành động thái quá thì VFF chỉ có nước ê mặt vì bất cứ hành động không tốt đẹp từ đội tuyển quốc gia sẽ là ảnh hưởng xấu đến hình ảnh đất nước Việt Nam.

Lần làm “lính cứu hỏa” này, ông Chung sẽ không chịu nhiều áp lực như lần trước. Dẫu sao hai trận đấu đầu tiên với đối thủ Macau (Trung Quốc) vào ngày 29-6 và 3-7 sẽ không phải là bài kiểm tra khó vì trình độ đội bóng này còn dưới tầm đội tuyển Việt Nam. Và, thời gian VFF tìm được ông thầy ngoại sẽ không kéo dài, vì thế nhiệm kỳ “lính cứu hỏa” của ông Chung sẽ không quá lâu.

Ông Chung là một huấn luyện viên chuyên nghiệp nên ông ý thức được dù chỉ là người “đóng thế” song ông tuyên bố sẽ làm hết sức mình. Lời đảm bảo “vàng” bằng lương tâm nghề nghiệp của ông Chung khiến bất cứ ai quan tâm đến đội tuyển quốc gia cũng có thể yên tâm đôi chút. Và biết đâu, người “lính cứu hỏa” Mai Đức Chung lại hoàn thành nhiệm vụ trên mức yêu cầu như ông đã từng làm được ở những đội tuyển khác. Hẳn là khi đó, một câu hỏi mới lại nảy sinh cho VFF: Có nhất thiết phải tìm bằng được một ông thầy ngoại nhiều rủi ro hay là nên trao cơ hội để những huấn luyện viên nội khẳng định mình?

MỘC LAN

CÂU CHUYỆN THỂ THAO: "LÍNH CỨU HỎA"

Báo chí phương Tây hay dùng chữ “Fireman” (lính cứu hỏa) với nghĩa bóng chỉ những người phải thực hiện một nhiệm vụ khó khăn trong hoàn cảnh cấp bách. Nếu cần phải tìm ra “lính cứu hỏa” trong lĩnh vực thể thao thời gian qua, không nhân vật nào thích hợp hơn ông Mai Đức Chung-Huấn luyện viên tạm quyền của đội tuyển quốc gia Việt Nam.

Hoàn cảnh xô đẩy ông Chung đến vị thế “tạm quyền” lại đến câu chuyện dài khác. Do thời hạn nộp danh sách cầu thủ và ban huấn luyện các đội tuyển quốc gia lên FIFA chuẩn bị cho vòng sơ loại World Cup 2014 đã cận kề mà VFF vẫn chưa kí kết hợp đồng được với huấn luyện viên ngoại nên ông Chung được chỉ định làm người “đóng thế”. Khổ cho ông Chung, cái ghế ông ngồi oách nhất trong làng huấn luyện viên Việt Nam nhưng cũng nóng nhất. Từ ngày “ông Tô” ra đi, đội tuyển Việt Nam nảy sinh vô số vấn đề cần giải quyết, nào là tìm một lối chơi mới, lắp ghép một đội hình mới trong hoàn cảnh nhiều cầu thủ trụ cột sa sút phong độ vì chấn thương và tuổi tác…

VFF đã chứng tỏ sự khôn ngoan khi chọn một người thích hợp như ông Chung để ngồi lên “ghế nóng” ở đội tuyển. Thứ nhất, câu lạc bộ ông Chung đang dẫn dắt là Navibank Sài Gòn đang xếp thứ 7/14 tại V-League, một vị trí an toàn khiến ông không quá tải khi cầm quân ở hai mặt trận. Thêm vào đó, bảng thành tích của ông Chung cũng khá ấn tượng với hai lần đưa các cầu thủ nữ lên ngôi hậu tại Seagames và vô địch cúp Merdeka với đội tuyển U22 ngay tại sân Malaysia. Quan trọng hơn, ông Chung đã từng “đóng thế” thành công. Năm 2007, khi còn làm trợ lý cho “chuyên gia về nhì” A. Riedl, ông từng dẫn dắt Olympic Việt Nam vượt qua các đối thủ Tây Á là Liban và Oman để lọt tới vòng loại cuối cùng của Olympic Bác Kinh 2008 trong tình thế bất đắc dĩ khi “Mr Bạc” bận… ghép thận. Mặt khác, ông Chung là người có tính cách hiền lành, hy vọng sẽ khiến “ba quân” dễ chịu. Trong bối cảnh nhạy cảm này, chẳn ai dại mời những huấn luyện viên có trình độ nhưng quá cá tính kiểu như huấn luyện viên Lê Thụy Hải. Ông Hải “lơ” được cho là huấn luyện viên kì tài vì ở câu lạc bộ nào ông cầm quân đều lột xác, đá lên chân. Lẽ thường, ông Hải có thể được chọn để làm mới một đội bóng cần nhiều thay đổi. Song, có lẽ, ông Hải không được chọn chỉ vì những chuyên hậu trường không mấy tốt đẹp. Ông từng quát “quân” như tát nước (thầy mà, dĩ nhiên!), hơn nữa, ông chỉ trích trọng tài kịch liệt và bực lên thì những người vô can như người hâm mộ và báo chí, ông Hải cũng không “tha”. Giả dụ, vào một ngày xấu trời nào đó, ông Hải lại có hành động thái quá thì VFF chỉ có nước ê mặt vì bất cứ hành động không tốt đẹp từ đội tuyển quốc gia sẽ là ảnh hưởng xấu đến hình ảnh đất nước Việt Nam.

Lần làm “lính cứu hỏa” này, ông Chung sẽ không chịu nhiều áp lực như lần trước. Dẫu sao hai trận đấu đầu tiên với đối thủ Macau (Trung Quốc) vào ngày 29-6 và 3-7 sẽ không phải là bài kiểm tra khó vì trình độ đội bóng này còn dưới tầm đội tuyển Việt Nam. Và, thời gian VFF tìm được ông thầy ngoại sẽ không kéo dài, vì thế nhiệm kỳ “lính cứu hỏa” của ông Chung sẽ không quá lâu.

Ông Chung là một huấn luyện viên chuyên nghiệp nên ông ý thức được dù chỉ là người “đóng thế” song ông tuyên bố sẽ làm hết sức mình. Lời đảm bảo “vàng” bằng lương tâm nghề nghiệp của ông Chung khiến bất cứ ai quan tâm đến đội tuyển quốc gia cũng có thể yên tâm đôi chút. Và biết đâu, người “lính cứu hỏa” Mai Đức Chung lại hoàn thành nhiệm vụ trên mức yêu cầu như ông đã từng làm được ở những đội tuyển khác. Hẳn là khi đó, một câu hỏi mới lại nảy sinh cho VFF: Có nhất thiết phải tìm bằng được một ông thầy ngoại nhiều rủi ro hay là nên trao cơ hội để những huấn luyện viên nội khẳng định mình?

MỘC LAN