Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

PHIM HÈ 2011: "BƯỚC QUA LỜI NGUYỀN"


Khi điện ảnh Việt Nam chỉ ra rạp hai phim ít ấn tượng là Sài Gòn Yo!Giữa hai thế giới, nên mùa hè 2011, mọi sự chú ý đều đổ dồn về các phim “bom tấn” Hollywood. Gần như tất cả bộ phim hè 2011 đình đám nhất đều được các công ty nhập khẩu phim rước về Việt Nam đủ khiến người xem băn khoăn: Tối nay xem gì?

Siêu anh hùng “đổ bộ”

Để dọn đường cho siêu phẩm “móc túi” khán giả suốt gần 3 tháng hè, công việc quảng bá cho các “bom tấn” đặc biệt được coi trọng, ngay cả một thị trường điện ảnh không phải là lớn như Việt Nam cũng áp dụng những chiêu thức PR mới mẻ. Đặc biệt như trường hợp phim Transformers 3: Dark of the moon (Transformers 3: Phần khuất của mặt trăng) ra mắt công chúng Việt Nam vào tối 28-6 trước cả thị trường Mỹ. Hơn 200 khán giả TP HCMinh đã thức thâu đêm để thưởng thức cả 3 phần của loạt phim Transformers và phần 3 siêu phẩm này đã ra mắt vào nửa đêm lần đầu tiên ở Việt Nam. Hai bộ phim dành cho trẻ em là RioThe Smurfs (Xì Trum) được các diễn viên nổi tiếng như: Minh Hằng, Đại Nghĩa, Minh Tiệp, Thành Lộc, Mỹ Duyên lồng tiếng theo tiêu chuẩn Hollywood tạo được sự gần gũi nhất định với người xem Việt Nam

Hiệu quả kinh doanh từ các phim “bom tấn” mùa hè 2011 tại Việt Nam cũng tạo lập một kỉ lục mới với việc phim hoạt hình Kungfu Panda 2 thu về 2 triệu USD chỉ sau 3 tuần công chiếu. Nếu tình theo doanh thu toàn cầu, 3 bộ phim hè 2011 gồm: Harry Potter và bảo bối tử thần 2 (không chiếu ở Việt Nam), Pirates of the caribbean: On stranger tides (Cướp biển Caribbean: Suối nguồn tuổi trẻ) và Transformers 3 nằm trong danh sách 10 bộ phim đoạt doanh thu cao nhất mọi thời đại với lợi nhuận đều trên 1 tỷ USD; cho nên người đi xem mới đùa nhau: “Một mùa hè cháy túi!”  

Về nội dung các bộ phim, mùa hè 2011 có thể xem là cuộc “đổ bộ” của các siêu anh hùng (superhero) vốn đã nổi tiếng từ các ấn phẩm truyện tranh. Matthew Vaughn-đạo diễn X-Men: First Class (Dị nhân: Lớp học đầu tiên) đã phải thốt lên: “Quá đông siêu anh hùng. Thể loại này rồi sẽ chết vì khán giả sẽ ngán đến tận cổ”. Chưa biết thể loại phim siêu anh hùng có thật sự đi xuống ngya trong năm tới hay không, nhưng hiện tại “cơn sốt” siêu anh hùng đã lên tới đỉnh điểm và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Đi đầu là Marvel Studios với phim Thần sầm Thor có lai lịch từ thần thoại Bắc Âu, Captain America: The First Avenger (Đội trưởng Mỹ; Kẻ báo thù đầu tiên)-anh hùng cản bước Đầu lâu đỏ thời Đệ nhị thế chiến, X-Men: First Class là câu chuyện về thế hệ dị nhân đầu tiên dưới trướng của thủ lĩnh tinh thần là Giáo sư X… Ngoài ra, siêu nhân xanh lá cây với sức mạnh từ hành tinh Sector 2814 trong phim Green Lantern (Đèn lồng xanh) của DC Comics.

Làm tiếp vẫn hay!

Thông thường, các bộ phim làm tiếp đều dở hơn phần đầu nên có người coi đó như một “lời nguyền” dành cho phim làm tiếp (sequel). Nguyên do nằm ở việc do sa đà tìm một câu chuyện khác cho nhân vật cũ vốn đã kết thúc có hậu ở phần đầu. Mùa phim hè 2011 nổi bật với kỉ lục là mùa phim hè có số lượng phim làm tiếp nhiều nhất từ trước đến nay: 27 phim. Nhờ sự cố công cách tân của các nhà sản xuất nên chất lượng các bộ phim làm tiếp đều bước qua lời nguyền dở hơn phần trước.

Điển hình như sê-ri Transformers. Phần 2 Transformers ra rạp cách đây 2 năm bị chính… đạo diễn là Michael Bay chê! Nguyên nhân chính nằm ở kịch bản phim dở, do Michael Bay rơi vào thế bị động khi phải viết kịch bản trong vòng có 3 tuần với 14 trang ý tưởng. Phần 3 Transformers được đầu tư kịch bản kỹ lưỡng trong 8 tháng và chất lượng hơn hẳn, không còn là những pha hành động thuần túy mà khai thác khía cạnh tâm lý nhân vật (kể cả các robot biến hình). Tương tự các bộ phim làm tiếp khác như Kungfu Panda 2, Cars 2… đều tìm kiếm một kịch bản mới mẻ hơn và tạo ra cho các nhân vật nhiều thử thách qua đó hoàn thiện bản thân; quá trình các nhân vật “vượt khó” đã gián tiếp đưa đến những bài học đậm tính nhân văn cho người xem. Chẳng hạn, Kungfu Panda 2 là một hành trình ngộ về tĩnh tâm để đạt đến tuyệt đỉnh kungfu. Trên đường cứu nguy cho Trung Hoa khỏi bàn tay Thái tử Shen; gấu Po cũng khám phá ra được quá khứ, qua đó Po ngộ được chân lý của tĩnh tâm... Thông điệp bộ phim thì đến người lớn cũng phải thừa nhận sâu sắc đó là: Nguồn gốc của bạn không phải là vấn đề, mà quan trọng là bạn muốn trở thành người như thế nào! Dĩ nhiên, cũng có những bộ phim dở như Green Lantern với cốt truyện sơ lược thuần túy hành động như bao bộ phim diêu anh hùng khác, trong khi không có một thông điệp nhân văn nào kèm theo.

Một bộ phim hay không chỉ dựa vào mỗi kịch bản tốt mà các kĩ xảo điện ảnh đi kèm đòi hỏi sự cải tiến tối đa. Kỹ thuật 3-D vẫn đang là thời thượng nổi bật với bom tấn là Transformers 3 với máy quay IMAX, ngoài ra, Michael Bay đã thuê lại nguyên đội hình từng làm Avatar của James Cameron. James Cameron sau khi xem Transformers 3 đã cho rằng: “Đây là phim 3-D hay nhất từ thời Avatar”. Hai hãng phim hoạt hình là Pixar với Cars 2 và Dream Works với Kungfu Panda 2 cũng trình làng hai bộ phim hoạt hình 3-D với những pha hành động tuyện vời dựa trên sức mạnh của chiều không gian thứ ba.

Các bộ phim hè 2011 còn mang lại một điều tích cực khác là trình làng của hàng loạt những diễn viên mới đầy triển vọng. Nữ diễn viên 17 tuổi Saoirse Ronan trong phim Hanna vào vai một cô gái sống tách biệt không biết giao tiếp với con người và có nhiệm vụ ám sát một phụ nữ. Thiên thần nội y của Victoria's Secret là Rosie Huntington-Whiteley có vai diễn đầu tiên vô cùng ăn ý với Shia LaBeouf trong Transformers 3,  dàn diễn viên nhí trong Super 8 diễn xuất như đã vào nghề từ lâu…

Mùa hè 2011 còn là sự trình chiếu rộng rãi của các phim nghệ thuật đã từng giành giải cao ở Oscar 2011 là The king’s speech (Diễn văn của nhà vua) và Cannes 2011 là phim The tree of life (Cây đời). The king’s speech là phim độc lập với 8 triệu USD kinh phí nhờ giành 4 tượng vàng Oscar đã có doanh thu hơn 400 triệu USD ngang ngửa với siêu phẩm Cars 2 được đầu tư gần 200 triệu USD. Thế mới biết, hãy cứ là phim hay thì dù ra rạp ở thời điểm nào cũng sẽ thắng lớn mà chẳng cần gắn mác “bom tấn”.

HÀM ĐAN


Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

GS ĐINH XUÂN LÂM: THAY ĐỔI CÁCH DẠY, CÁCH RA ĐỀ THI MÔN SỬ


                                                                                                                                                                   
         Là một nhà sử học Việt Nam hiện đại, Nhà giáo nhân dân-Giáo sư Đinh Xuân Lâm rất buồn với việc hàng ngàn điểm không (0) môn sử trong kỳ thi đại học vừa qua. Dẫu vậy, ông vẫn tin rằng, học sinh Việt Nam sẽ lại yêu thích lịch sử nước nhà nếu các giải pháp được thực hiện đồng bộ.

Phóng viên (PV): Thưa Giáo sư (GS), trong nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan cùng hội tụ vào thời điểm hiện nay khiến hàng nghìn học sinh được điểm không (0) môn lịch sử trong kỳ thi đại học vừa qua, theo GS đâu là nguyên nhân chính?

GS Đinh Xuân Lâm: Theo cá nhân tôi, nguyên nhân lớn nhất nằm ở việc giảng dạy môn sử học còn quá nhiều bất cập. Lâu nay, chúng ta vẫn sử dụng phương pháp giảng dạy theo lối áp đặt. Sử học không phải là một môn giáo dục, tuyên truyền chính trị thông qua các sự kiện và con số, mà là một môn khoa học với tất cả sự hấp dẫn và khó khăn của nó. Lịch sử cần được nghiên cứu và trình bày một cách khách quan, không thiên kiến thì mới tạo ra sức hấp dẫn được. Tôi dạy sử hơn nửa thế kỷ, tôi biết trẻ em đều yêu thích môn lịch sử.

PV: Như vậy, đầu tiên là phải cải cách về phương pháp dạy lịch sử trong nhà trường?

GS Đinh Xuân Lâm: Chính xác! Giáo viên quá nệ vào sách giáo khoa khiến giờ học sử trở nên khô khan. Những số liệu sử học về cơ bản chỉ mang tính chất minh họa cho một bài học lịch sử được rút ra từ một sự kiện lịch sử. Vấn đề số liệu lịch sử thì học sinh phải tự tìm hiểu lấy trước khi học chính thức giống như tìm hiểu tiểu sử nhà văn và xuất xứ tác phẩm trước lúc vào học văn vậy. Hôm vừa rồi, tôi nghe người ta truyền nhau câu nói đùa mà rất đúng: “Cái gì không biết thì tra Google!”. Ở thời đại công nghệ thông tin, số liệu lịch sử, thậm chí là những câu chuyện bền lề chính sử nhiều vô kể, học sinh cập nhật đôi khi còn nhanh hơn giáo viên; vậy nên, chỉ cần học sinh nắm được tinh thần lịch sử của các sự kiện từ việc nghe giảng trên lớp đã là thành công lắm rồi.

PV: Sự học lại gắn với sự thi. Theo GS, có gì cần thay đổi trong việc thi môn sử không?

GS Đinh Xuân Lâm: Theo tôi, cách ra đề thi môn sử còn có nhiều điều cần thay đổi. Một đề thi đại học bây giờ nhiều câu hỏi quá, đã vậy, ngay trong một câu hỏi có những hai vế không liên hệ trực tiếp sẽ khiến học sinh dễ bị rối trí trong việc lập luận để trả lời. Tôi nhớ, trước những năm 70 của thế kỷ trước, đề thi đại học môn sử cùng lắm chỉ hai câu hỏi và nội dung câu hỏi rất đơn giản như: Bình luận câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một vấn đề trong lịch sử. Cách ra đề này cũng vừa giúp phân loại học lực học sinh vì vừa đòi hỏi học sinh có hiểu biết kiến thức lịch sử vừa đòi hỏi khả năng suy luận với nhiều ý trả lời xoay quanh một câu hỏi. Một khi đã ra đề như trên, giáo viên chấm thi cũng không thể chăm chăm vào mỗi việc xem học sinh có viết đúng các số liệu lịch sử hay không, mà còn phải xem cách lập luận và triển khai bài viết có đầy đủ và chặt chẽ mới là điểm chính. Tôi xin lấy thêm một ví dụ ngoài lề, đề thi môn văn tú tài phần thứ nhất hồi Pháp thuộc mà tôi phải làm bài rất thú vị: Giả sử, hai nhà soạn kịch Pháp là Pierre Corneille và Jean Racine sắp chết đuối khi tàu chở hai ông bị chìm, nếu phải chọn giữa một trong hai ông thì em sẽ chọn cứu ai? Mấy năm qua, tôi thấy đề thi đại học môn văn đã có những câu hỏi rất đơn giản mà buộc học sinh phải có kiến thức về văn chương và khả năng tư duy mới có thể làm được. Theo tôi, cách ra đề thi lịch sử hiện nay tốt nhất nên trở lại theo cách trên.

PV: Phương pháp giảng dạy và cách ra đề thi là một chuyện, nhưng sự thật có nhiều em học sinh, nhiều bậc cha mẹ không coi trọng môn lịch sử, hoặc chỉ học để thi chứ không có ý định gắn bó cuộc đời với khoa học lịch sử, vì sao vậy thưa Giáo sư?

GS Đinh Xuân Lâm: Đúng là để đọc sử như một niềm say mê thì cần phải có cơ duyên. Bản thân tôi yêu lịch sử từ bé là do ảnh hưởng thói quen từ ông cụ thân sinh cũng rất yêu lịch sử. Ngày nay, khó mà trông chờ các bậc phụ huynh khuyến khích con họ theo lịch sử rất khó có tương lai tương sáng, thậm chí có người nói: “Tôi rất xấu hổ khi con tôi đỗ chuyên sử!”. Tôi nghĩ trong khi chờ vào các phương tiện hiện đại và tốn kém như phim ảnh để tuyên truyền kiến thức lịch sử, có nhiều điều đơn giản mà cực kỳ hiệu quả khác có thể thực hiện ngay; chẳng hạn, những câu chuyện ngoài sách giáo khoa lịch sử mà có thể nói công khai thì giáo viên nên kể cho học sinh nghe để học sinh có hứng thú hơn trong việc tự tìm hiểu lịch sử, giúp học sử không còn là sự áp đặt. Và việc đi ngoại khóa nữa, nhiều trường học dù có điều kiện cũng không tổ chức cho học sinh đi các di tích lịch sử ngay trong địa phương.

PV: Trước thực trạng dạy và học sử như hiện nay, theo GS tình hình sẽ chuyển biến như thế nào?

GS Đinh Xuân Lâm: Tôi tin lớp trẻ sẽ lại yêu thích lịch sử chỉ trong thời gian ngắn nếu các giải pháp đổi mới dạy, học được thực thi khẩn trương. Không phải tôi là người lạc quan mới nói vậy, mà qua tiếp xúc thực tế, tôi thấy không chỉ những người trong ngành sử như tôi mới đau đáu với chuyện sử học bị rẻ rúng, mà gần như động đến vấn đề này ai cũng sôi nổi, tôi tin nhận thức xã hội về môn lịch sử sẽ thay đổi tích cực trong thời gian tới. Hơn nữa, như tôi đã nói, học sinh Việt Nam không chán sử học, chẳng qua là các em chưa được hưởng một phương pháp dạy và học sử ưu việt mà thôi.

PV - Xin cảm ơn GS!

HÀM ĐAN (thực hiện)

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

MY GREATEST XI

Nhân trang web Manchester United bình chọn 11 cầu thủ vĩ đại nhất nhất mâng tên Your Greatest XI , bổn blog cũng tự chọn ra 11 cầu thủ vĩ đại nhất của Quỷ đỏ theo đội hình 4-4-2:

1. Thủ môn: Peter Schmeichel

2. Hậu vệ phải: Gary Neville
3. Hậu vệ trái: Dennis Irwin
4. Trung vệ: Jaap Stam
5. Trung vệ: Rio Ferdinan

6. Tiền vệ cánh phải: Cristiano Ronaldo
7. Tiền vệ cánh trái: Ryan Giggs
8. Tiền vệ phòng ngự: Duncan Edwards
9. Tiền vệ công: Paul Scholes

10. Tiền đạo: Sir Bobby Charlton
11. Tiền đạo: Eric Cantona

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

THỜI ĐÀM (XII): BÌNH DỊ MÀ DŨNG KHÍ

Nhiều khi thấy tôi sắm quần áo mới, bà cô làm nghề giáo viên lại chép miệng: “Lớp trẻ bây giờ sướng thật, chả bù cho cô ngày xưa có mỗi bộ quần áo tử tế để đứng lớp”. Nhân tiện, bà lại kể cái chuyện đói ăn thời bao cấp, rồi kể chuyện tranh thủ đi bỏ mối hàng tạp hóa, làm thêm xong lại tất tưởi đến trường “gõ đầu trẻ”, ai hỏi thì trả lời bông đùa: “Tranh thủ đi dạy!”. Tôi nghe nhưng chẳng mấy để tâm đến câu chuyện ngỡ như hoang đường thời quá khứ!

Nhưng tôi đâu biết, những chuyện đói khổ tưởng như đã lui vào dĩ vãng của người làm công ăn lương ở nước mình vẫn còn đâu đó, nhất là với công chức ở cơ sở, vùng cao khó khăn. Vừa rồi, trong chuyến đi miền núi, tôi đã vỡ ra nhiều điều về đời sống của những con người bám trụ ở vùng cao. Trên quãng đường hơn 15 cây số, trò chuyện rủ rỉ mới biết anh xe ôm chở tôi là Hiệu phó một trường tiểu học. Hè đến, học sinh của anh không ngồi trên lớp mà ngồi trên… lưng trâu. Anh đành làm… xe ôm kiếm tiền phụ giúp gia đình. Anh thật thà kể:

- Mình làm giáo viên vùng cao đến nay tròn 13 năm. Học sinh trường mình toàn con em đồng bào dân tộc ít người, không có chuyện dạy học hè như ở thành phố để có thu nhập thêm. Mình chẳng biết làm gì khác, thôi thì đành đi làm xe ôm để cải thiện. Vợ mình trước cũng là giáo viên nhưng giờ ở nhà trông hai cháu vì từ nhà đến các phân hiệu trong huyện có khi hàng chục cây số đường rừng nên chỉ một người đi làm được thôi. Kể cũng ngại khi đi làm thêm như thế này nhưng thời buổi khó khăn đành phải tự khắc phục.

Lên đến một chợ phiên, tôi thấy một chị bán hàng thổ cẩm nói tiếng Anh khá chuẩn, nhấn nhá trọng âm rõ ràng không phải tiếng Anh “bồi”. Tôi đoán chị phải là người được học hành bài bản, hỏi dò thì đúng vậy. Chị kể:

- Em là giáo viên tiếng Anh, tranh thủ thứ bảy và chủ nhật có chợ phiên là đi bán hàng. Gian hàng này em thuê 400 ngàn một tháng, nhờ có vốn tiếng Anh để giao tiếp với khách Tây nên em bán được nhiều hàng hơn người khác, nhưng trừ mọi chi phí cũng chỉ có lời chút đỉnh, gọi là có thêm tí thức ăn cho các cháu. Chuyện cán bộ viên chức ở đây đi làm thêm vào ngày nghỉ nhiều lắm anh ơi! Giá cả có như xưa nữa đâu nên ai cũng phải cố gắng.

Tôi dự hai phiên chợ vùng cao vào hai ngày nghỉ gặp vô số các cán bộ nhà nước đang đứng bán hàng: Anh bán tạp hóa là kế toán, chị buôn vải thiều là nhân viên văn phòng xã… Trò chuyện với từng người thì được biết, ngay cả hai vợ chồng đều có công ăn việc làm nhưng với giá cả leo thang như hiện nay trông chờ vào đồng lương thì không đủ sống. Đi quanh chợ hỏi giá cả các loại hàng hóa mới hay đầu óc mù tịt về kinh tế của tôi đã “bé cái lầm”, hóa ra giá cả lương thực thực phẩm ở trên miền núi chẳng rẻ chút nào; một số mặt hàng tiêu dùng lại đắt hơn dưới xuôi vì phí vận chuyển lên vùng cao đã đội giá lên.

Những bất ổn kinh tế hiện nay ảnh hưởng đến mọi nhà, ngay cả một vị bộ trưởng cũng bảo vợ ông đi chợ về kêu lắm. Nhưng có lẽ không ở đâu như ở vùng cao tác động của giá cả lại mạnh đến vậy. Khó khăn gian khổ trong công tác họ đã quen nhưng nay với sự vất vả trong đời sống thường ngày liệu họ có nản chí? Liệu họ bỏ những bản làng xa xôi để chuyển về miền đất khác thuận lợi hơn? Hoặc chí ít cũng chuyển một nghề nào đó nhàn hơn là phải “cắm bản” để công tác? Đem những thắc mắc đó hỏi các cán bộ miền núi thì hầu hết không ai bày tỏ ý định rời bỏ công tác, họ đều bảo mảnh đất họ đang công tác là “mảnh đất giữ người”, ra đi không nỡ.

Tôi tin là họ nói thật. Chở tôi ra bến xe về Hà Nội, vị Hiệu phó đang hành nghề xe ôm bảo: "Mình làm nốt tháng này đến tháng sau lại quay về bản đi dạy". Trên khuôn mặt xạm đen nhễ nhại mồ hôi, đôi mắt sáng như vẫn ánh lên tin tưởng ở những điều tốt đẹp trong tương lai với nghề giáo cao quý mà anh đã nguyện gắn bó. Còn tôi trên đường về Hà Nội, những lời ca của một bài hát quen thuộc lại vang lên trong đầu: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai/ Ai cũng một thời trẻ trai, cũng từng nghĩ về đời mình”. Tôi chẳng biết làm gì hơn là cầu mong mọi điều tốt đẹp sẽ đến với những con người bình dị mà nhiều dũng khí ở miền núi rừng xa thẳm.

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

VẬT CHỨNG TRƯỚC THỜI GIAN


 
Trương Đăng Dung đã làm được hai điều khiến người ta kinh ngạc. Thứ nhất, ông được xem là một trong những nhà lí luận văn học hàng đầu của nước ta với những công trình quan trọng: Từ văn bản đến tác phẩm văn học (NXB Khoa học xã hội, 1998), Tác phẩm văn học như là quá trình (NXB Khoa học xã hội, 2004)… Trong ba bộ phận hợp thành Khoa nghiên cứu văn học, lịch sử văn học và phê bình văn học vẫn còn khá nhiều nhiều người dấn thân nghiên cứu, thì số người làm lí luận văn học luôn ở tình trạng “của hiếm”. Có đốt đuốc đi tìm đỏ mắt cũng chỉ đếm được trên đầu một bàn tay những người suốt đời nghiên cứu lí luận văn học và có tác phẩm tầm cỡ như Trương Đăng Dung.

Một điều kinh ngạc nữa, Trương Đăng Dung là một nhà thơ được văn giới thừa nhận dù ông làm thơ không nhiều và thơ ca không phải là mối bận tâm lớn nhất của ông. Người ta ngạc nhiên khi một Phó Giáo sư-Tiến sĩ đạo mạo, nguyên Phó viện trưởng Viện văn học lại có tài thơ. Thực ra, do người ta quá bám vào câu “Văn là người” của Buffon nên mới ngạc nhiên, chứ thực ra ai cũng có thể làm thơ nếu như thực sự có nhu cầu nội tại khám phá bản thể diễn đạt cách nhìn nhận con người và thế giới. Dĩ nhiên, nhà thơ tư duy và viết để thể hiện các trạng thái, các tình huống bằng hình ảnh chứ không làm việc bằng khái niệm như nhà lí luận văn học.

Đọc thơ Trương Đăng Dung dễ nhận ra ảnh hưởng từ một con người có óc tư biện nên thơ của ông diễn ý từ những khái niệm triết học và mỹ học. Vật chứng là bài thơ tiêu biểu của phong cách thơ Trương Đăng Dung.

Nội dung bài thơ đọc qua cũng đã có thể hiểu ngay tức thì. Bài thơ là chuỗi độc thoại của chàng trai nói với người yêu nỗi sợ của mình. Tài thơ của Trương Đăng Dung phát lộ ở khả năng sử dụng từ ngữ “phổ thông” để diễn đạt những điều vô hình phát sinh từ những nỗi sợ rất khó nắm bắt: “Sợ thời gian rình trong từng sợi tóc”, “Sợ tiếng bước chân em xa dần/ khi những viên sỏi trong vườn đang ngủ”...

Đọc những câu thơ trong “Vật chứng”, người đọc như gặp lại nỗi sợ tình yêu phai nhạt dần theo thời gian mà “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu đã từng diễn đạt một cách tinh vi: “Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt” (bài thơ Giục giã). Hóa ra, với những kẻ có “nòi tình” khi đã “vào cuộc”, sự si mê quá mức đã bộc lộ những nỗi sợ mơ hồ chưa hề hiện hữu. Nhưng Trương Đăng Dung không giống Xuân Diệu! Ông không kêu gọi người yêu sống gấp, yêu gấp hưởng thụ sự ngọt ngào của ái tình mà lẳng lặng chấp nhận bi kịch muôn đời: Tình yêu cũng như bất cứ điều gì tốt đẹp được tạo dựng trong cuộc sống nên đều biến mất trước dòng thời gian. Cho nên, một nhà thơ khác là W. Goethe (Đức) đã nói một câu bất hủ mà nhiều người thuộc: “Không có tình yêu vĩnh cửu mà chỉ có những giây phút vĩnh cửu của tình yêu”.

Hiểu được sự “tàn phá” của thời gian, Trương Đăng Dung đã có một phản ứng mơ mộng chỉ có ở nhà thơ với những đòi hỏi vô lí:

Em đừng xếp lại chăn
em đừng chải lại tóc
em đừng tô lại môi
cứ để nguyên áo quần trên ghế
cứ để nguyên hiện trạng căn phòng.

Tất cả những đòi hỏi đó chỉ để đáp ứng một mục đích: “Anh cần vật chứng/ trước thời gian”. Mục đích trên thực ngây thơ! Nhưng nhà thơ nào mà chẳng ngây thơ như đứa trẻ; và khi đã yêu si mê con người cũng trở nên ngây thơ hơn bao giờ hết.
 
Vượt qua khỏi ý nghĩa của bài thơ tình, “Vật chứng” còn là minh họa cho vấn đề thời gian trong siêu hình học. Thời gian được người Hi Lạp cổ đại ví như thần Cronus ăn thịt những đứa con của mình; thời gian hủy diệt những gì nó sáng tạo ra. Thời gian thực ra là một trong những yếu tố quyết định thân phận con người, nó tạo thành giới hạn không thể chịu đựng nổi. Trước một “kẻ thù hắc ám” (chữ của nhà thơ Pháp C. Baudelaire) là thời gian, con người có nhiều cách phản ứng khác nhau: cam chịu than vãn, hoài cổ, nổi loạn, sống gấp… Nhưng có một cách khác chiến thắng thời gian đó là nghệ thuật: Cái chết không thể bẻ cong các ý tưởng hay phủ nhận những sáng tạo. “Vật chứng” là bài thơ hay đủ khiến nhiều người nhớ và như thế, nhà thơ Trương Đăng Dung đã có một vật chứng trước thời gian.

Vật chứng

TRƯƠNG ĐĂNG DUNG  

Sợ bóng tối sẽ tràn vào
khi em mở tung cửa sổ
cơ thể chúng ta thôi rạng rỡ.

Sợ thời gian rình trong từng sợi tóc
khi môi ta rời nhau
hơi ấm đã thuộc về quá khứ.

Sợ căn phòng trở nên trống rỗng
khi em xếp lại chăn màn
kí ức không còn nơi ẩn náu.

Sợ tiếng bước chân em xa dần
khi những viên sỏi trong vườn đang ngủ
ta còn lại gì sau mỗi lần tình tự?

Em đừng xếp lại chăn
em đừng chải lại tóc
em đừng tô lại môi
cứ để nguyên áo quần trên ghế
cứ để nguyên hiện trạng căn phòng.

Anh cần vật chứng
trước thời gian. 

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

VỀ CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở HUYỆN BÁT XÁT (LÀO CAI): MỘT MŨI TÊN... TRÚNG NHIỀU ĐÍCH


Ảnh: Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt (thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung)-một trong năm điểm du lịch cộng đồng của huyện Bát Xát. 

Với dân “phượt”, những địa danh như Y Tý, Sàng Ma Sáo, A Mú Sung, Mường Hum… (huyện Bát Xát, Lào Cai) luôn là niềm mơ ước khi đã lấy xê dịch làm lạc thú ở đời. Giờ đây, tất cả mọi người đều có thể đặt chân đến những miền đất nguyên sơ kể trên để khám phá văn hóa của các tộc người bản địa thông qua hình thức du lịch cộng đồng.


1. Du lịch dựa vào cộng đồng (gọi tắt là Du lịch cộng đồng) đã có mặt ở Việt Nam cuối thập kỷ 1990 với các khu du lịch như Sa Pa (Lào Cai), Mai Châu (Hòa Bình)… Tháng 5 vừa qua, địa phương mới nhất phát triển du lịch cộng đồng ở nước ta là huyện Bát Xát (Lào Cai). Năm điểm du lịch cộng đồng được đưa vào khai thác thông qua bốn tuyến du lịch thử nghiệm trong ba năm gồm: Thứ nhất, điểm du lịch Lũng Pô (xã A Mú Sung)-nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, gắn với làng văn hóa du lịch H’Mông tại thôn Lũng Pô II. Thứ hai, điểm du lịch cộng đồng thôn Lao Chải (xã Y Tý) nơi cội nguồn của Hà Nhì đen tại Lào Cai. Thứ ba, điểm du lịch cộng đồng tại cụm thôn trung tâm xã Dền Sáng gắn với văn hóa người Dao đỏ. Thứ tư, điểm du lịch xã Mường Hum gắn với chợ văn hóa vùng cao. Cuối cùng là điểm du lịch tại xã Bản Xèo gắn với văn hóa tộc người Giáy.   

          Là địa phương đi sau, Bát Xát đã thu được nhiều kinh nghiệm từ trong lẫn ngoài nước để hình thành một đề án công phu, nổi bật ở việc lập các địa điểm du lịch gắn với từng cộng đồng tộc người thiểu số tạo ra tính địa-văn hóa độc đáo. Khách trong nước ai cũng muốn được một lần đến nơi sông Hồng chảy vào đất Việt-để từ đó hình thành nền văn minh “gốc” của dân tộc. Khách du lịch nước ngoài đều thích “ba cùng” với tộc người địa phương, đặc biệt là tộc người Hà Nhì đen tại xã Y Tý với số dân tập trung cao nhất ở tỉnh Lào Cai. Thêm vào đó, các địa điểm trên quanh năm mát mẻ, về mùa đông ở xã Y Tý thường có tuyết rơi.

Tiềm năng thì sẵn có như vậy, song theo ông Bùi Hữu Lợi (Bí thư huyện ủy kiêm Chủ tịch UBND huyện Bát Xát) cho hay: Khó khăn lớn nhất của Bát Xát trong việc phát triển cộng đồng ngay trước mắt là cơ sở hạ tầng để phục vụ du lịch còn chưa đầy đủ. Đặc biệt là đường giao thông, từ Thị trấn Bát Xát đến điểm du lịch xa nhất là xã Y Tý phải mất 90 km trên một con đường… xóc nổ đom đóm mắt! Việc làm mới và sửa chữa các con đường nối các điểm du lịch, ngân sách của huyện chỉ có thể gánh vác được một phần, rất cần sự hỗ trợ của Trung ương để giao thông được thông suốt. Một khi vấn đề giao thông được giải quyết, chắc chắn, du lịch cộng đồng ở Bát Xát sẽ thu hút lượng khách rất lớn.

          2. Du lịch cộng đồng khác hẳn các hình thức du lịch khác khi sử dụng cư dân bản địa cung cấp dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường; qua đó, chính cộng đồng được hưởng quyền lợi vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch.

          Dựa vào những chính sách và chương tình cụ thể phát triển du lịch cộng đồng mà các cơ quan chức năng huyện Bát Xát đang triển khai đều dựa vào cộng đồng và đem lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng làm du lịch. Lấy ví dụ ở thôn Lao Chải (xã Y Tý), cơ quan chức năng chỉ làm nhiệm vụ chọn ra vài chục hộ khá giả, nhà có đủ các trang thiết bị, công trình vệ sinh tối thiểu để khách du lịch có thể ăn nghỉ tại nhà người dân. Đồng thời, mở nhiều lớp tập huấn nghiệp vụ du lịch, đặc biệt là kĩ năng giao tiếp với khách cho các tất cả các hộ dân để làm “vừa lòng khách đến, vui lòng khách đi”. Sắp tới, huyện Bát Xát sẽ thành lập Đội quản lý liên ngành trong đó kết hợp hai chức năng quan trọng nhất bao gồm: bộ phận chuyên cung cấp thông tin cho khách du lịch và bộ phận chuyên kiển tra các hoạt động du lịch và sẵn sàng can thiệp những hành vi “chặt chém” vô tội vạ. Cũng giống như các địa phương khác, du lịch cộng động sẽ là cơ hội “vàng” để các cộng đồng dân cư Bát Xát có dịp thương mại hóa các đặc sản, đồ thủ công mỹ nghệ như: nghề đan lát của người Hà Nhì đen, nghề kéo bạc và tắm thuốc lá của người Dao đỏ…

Bên cạnh lợi ích làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, du lịch cộng đồng còn góp phần gìn giữ nét văn hóa đặc sắc của cư dân bản địa. Chỉ nói ngay du khách trong nước không phải ai cũng biết đến Lễ cấp sắc của người Dao đỏ hay Tết “khô già già” cùng đồng bào Hà Nhì đen… Và còn có gì tuyệt hơn khi du khách được trực tiếp tham gia các hoạt động văn hóa độc đáo nói trên? Không chỉ có các di sản phi vật thể, đến ngay cả di sản vật thể cũng được chính quyền huyện Bát Xát lưu ý giữ gìn. Ví dụ, nhà trình tường truyền thống của Hà Nhì đen lợp bằng cỏ, nhiều nhà dân vốn trước lợp bằng mái tôn nay quay về lợp cỏ như thời các cụ; hoặc lãnh đạo xã Mường Hum-nơi tổ chức chợ văn hóa vùng cao tỏ ý quyết tâm giữ nguyên trạng không gian chợ, họ hiểu rằng chẳng có du khách nào đi hàng trăm cây số đến dự phiên chợ vùng cao mà lại được xây kiên cố như ở dưới xuôi!

Một trong những mục tiêu lớn nhất của du lịch cộng đồng ở bất cứ đâu đó là phải bảo được môi trường thiên nhiên với tất cả sự đa dạng về sinh học. Riêng ở xã Y Tý vẫn còn khu rừng nguyên sinh với những cây cổ thụ vài trăm năm tuổi, dưới tán lá cao là “rừng” cây thảo quả được bà con địa phương chăm sóc, sẽ là địa điểm thú vị cho du khách dã ngoại, khám phá vẻ đẹp giàu có của rừng nhiệt đới.

Ông Bùi Xuân Tiến (Trường phòng Văn hóa-Thông tin huyện Bát Xát) còn cho chúng tôi hay, một trong những mục tiêu khác mà du lịch cộng đồng ở Bát Xát hướng đến đó chính cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường ở các điểm làm du lịch. Bên cạnh việc tuyên truyền để người dân thực hiện nếp sống văn minh, giữ gìn môi trường thông qua việc lồng ghép trong chương trình tập huấn du lịch, hy vọng đến khi triển khai các hoạt động du lịch người dân mới thực sự ý thức được việc cải tạo môi trường sống của để níu chân du khách.

          Với một chiến lược bài bản và với sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan, ban ngành, hy vọng trong tương lai gần Bát Xát sẽ là điểm sáng của du lịch cộng đồng ở nước ta; hoàn thành các mục tiêu đề ra với phương châm: “Một mũi tên… trúng nhiều đích”.

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2011

VỀ DỰ ÁN "LẦN ĐẦU LÀM PHIM VỚI DISCOVERY": HỌC TÍNH CHUYÊN NGHIỆP

 
Việc 4 bộ phim của Việt Nam vừa được trình chiếu trên kênh Discovery có thể xem là một sự kiện của điện ảnh Việt Nam trong năm 2011 vì lẽ Discovery là kênh truyền hình chuyên về phim tài liệu hàng đầu thế giới với 431 triệu thuê bao ở 170 quốc gia thông qua 33 ngôn ngữ khác nhau. Đằng sau niềm tự hào được giới thiệu cuộc sống và văn hóa Việt Nam đến với bạn bè năm châu, dự án còn giúp các nhà làm phim Việt Nam làm quen với quy trình làm phim tài liệu chuyên nghiệp.

1. Dự án làm phim tài liệu “Lần đầu tiên làm phim với Discovery” (FTFM) của kênh Discovery ra đời năm 1995 tại châu Âu. Đến tháng 9-2000, dự án FTFM lần đầu tiên thực hiện ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương với seri về 6 bộ phim của Ô-xtrây-li-a. Sau đó, dự án đến với các quốc gia châu Á khác như In-đô-nê-xi-a, Xin-ga-po, Thái Lan, Trung Quốc, Ma-lai-xi-a…  

Trong gần hai năm phát động, có 68 hồ sơ đăng ký tham gia tham dự cuộc thi FTFM dành riêng cho Việt Nam. Cuối cùng, ngoại trừ bộ phim “Thành phố đam mê” của đạo diễn Phan Ý Ly không được phát sóng vì không hoàn thành kịp, còn lại 4 bộ phim của Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Mạnh Hà, Đào Thanh Tùng và Phan Duy Linh đều sản xuất đúng tiến độ và lên sóng lần lượt trên kênh truyền hình Discovery.

Discovery đã đưa ra tiêu chí đồng thời cũng là “đề bài” thử thách cho các nhà làm phim tài liệu Việt Nam đó là khám phá những chuyển biến nhanh chóng của quá trình đô thị hoá ở Việt Nam. “Đề bài” này có tính khả thi cao bởi Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa, các ý tưởng cho kịch bản là nhiều vô kể. Tuy nhiên, do đặc thù của Discovery là một kênh truyền hình trả tiền nên đề tài phải thực sự có tính mới mẻ, gây được hứng thú cho người xem; vì vậy để tìm một đề tài đáp ứng cả hai đòi hỏi nói trên là thực chất không hề dễ dàng.

Song, cả bốn bộ phim đều tìm được những đề tài thích hợp nhằm thỏa mãn những yêu cầu khách quan để tiến hành sản xuất. Bộ phim “Jam Busters” (tựa Việt: Những chiến binh chống tắc đường) của đạo diễn Phan Duy Linh phản ánh vấn nạn ùn tắc giao thông ở Hà Nội vào thời kỳ kinh tế phát triển “nóng” khác rất xa một Hà Nội yên tĩnh, thanh bình 20 năm trước. Bộ phim “Mr Long’s travelling cinema” (tựa Việt: Rạp chiếu phim di động của ông Long) của đạo diễn Hoàng Mạnh Cường kể về chiếc máy chiếu phim tự tạo độc đáo và cổ lỗ của ông Long trong bối cảnh người người đến rạp xem phim 3D. Bộ phim “City of a thousand years” (tựa Việt: Thành phố một nghìn năm) của đạo diễn Nguyễn Mạnh Hà là câu chuyện của những thị dân Hà Nội vừa níu giữ nét văn hóa truyền thống như ca trù, vừa tìm cách truyền bá đặc sắc của văn hóa đương đại như nghệ thuật thị giác. Và cuối cùng là bộ phim “Digging up the death” (tựa Việt: Câu chuyện cải táng) của đạo diễn Đào Thanh Tùng giới thiệu một tập tục cải táng người chết vô cùng kì lạ của Việt Nam đang ngày càng ít phổ biến ở thành phố do quỹ đất hạn chế.

          Ông Vích-ram Chan-na, Phó Chủ tịch phụ trách sản xuất và phát triển của Discovery Networks khu vực châu Á-Thái Bình Dương đánh giá cao 4 bộ phim của Việt Nam: “Mỗi bộ phim tài liệu đều thể hiện được những ý tưởng độc đáo lồng vào những câu chuyện cụ thể về sự chuyển biến ở Việt Nam thời kỳ đô thị hóa dưới nhãn quan của chính người Việt”. Phản ứng của người xem đa phần là lời khen, song nhiều người vẫn còn băn khoăn ở nội dung của một số bộ phim, chẳng hạn trong phim “Những chiến binh chống tắc đường” nhiều khán giả dị ứng với cách dùng các sinh viên tình nguyện để chắn đường trong một phương án chống ùn tắc. Sự khen chê là điều dễ hiểu vì không tác phẩm nào có thể chiều lòng tất cả mọi người, điều quan trọng là 4 bộ phim đã gây được sự chú ý rộng rãi của người xem trên toàn cầu.

2. Phim tài liệu từ trước đến nay luôn là thế mạnh của điện ảnh Việt Nam do đặc trưng phản ánh khách quan hiện thực của phim tài liệu phù hợp với tinh thần tả thực của nghệ thuật Việt Nam. Phim tài liệu là thể loại phi hư cấu nên dễ “tha hóa” thành những thước phim nhàn nhạt, vô thưởng vô phạt. Một bộ phim tài liệu hay là phải phát hiện một mâu thuẫn hoặc một xung đột đằng sau câu chuyện đời sống bình dị đang tiếp diễn. Ví dụ, bộ phim “Câu chuyện cải táng” về bản chất là giới thiệu một phong tục cải táng quen thuộc với người Việt Nam nhưng lại vô cùng kì dị với những nước ngoài. Song, bộ phim còn phản ánh những quan niệm của những người khác thế hệ. Chị Mai-người con dâu kể lại mong ước của bố chồng lúc sinh thời muốn được cải táng vì hỏa táng sẽ khiến cụ “nóng trong người”; còn chị Mai lại tâm sự, bản thân chị sau này chỉ muốn hỏa táng để tránh sự đau buồn cho người còn sống và những điều phiền toái khác của lễ cải táng. Đồng thời, bộ phim còn được lồng vào sự vui buồn nghề nghiệp của những công nhân bốc mộ khi lễ cải táng ngày một ít đi. Như vậy, muốn tạo ra sự mâu thuẫn và xung đột, bộ phim cần phải tạo dựng ra nhiều tuyến nhân vật, nhiều cách kể chuyện… xoay quanh câu chuyện về lễ cải táng.

Đó mới chỉ là nội dung, để có thể được phát sóng trên kênh Discovery, về phần hình thức và kĩ thuật cũng phải đạt các tiêu chuẩn mà Discovery đề ra ví dụ như: quay phim chuẩn HD, âm thanh stereo, tách, thậm chí thu đồng bộ. Phỏng vấn một nhân vật 2-3 lần cùng một câu hỏi…

Discovery không áp đặt mà chỉ trao đổi với các nhà làm phim, nhất là trong cách tiếp nhận hiện thực để nhà làm phim thỏa sức sáng tạo. Đơn cử như phim “Những chiến binh chống tắc đường”, đạo diễn Phan Duy Linh đã chọn âm nhạc nhẹ nhàng và hơi nghịch nghịch tạo nên cảm xúc ngạc nhiên và hài hước trong cảnh những người khách du lịch nước ngoài tìm cách sang đường ở phố cổ Hà Nội; qua đó, giúp một đề tài chính luận trở nên gần gũi với người xem hơn.

Với một quy trình chuyên nghiệp như trên, dễ hiểu vì sao các bộ phim phát sóng trên kênh Discovery ít khi bị nhận lời chê trách. Từ kinh nghiệm làm phim với kênh Discovery có thể hy vọng chất lượng phim tài liệu Việt Nam trong thời gian tới cũng sẽ được nâng lên, chiếm lĩnh những đỉnh cao nghệ thuật mới.

HÀM ĐAN

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2011

WIMBLEDON 2011: KHỞI ĐẦU CỦA MỘT HUYỀN THOẠI?


  
Danh hiệu vô địch đơn nữ giải quần vợt Wimbledon 2011 đã có chủ, và đó là một cái tên mới: Pê-tra Vi-tô-va. Nói là mới bởi đây là lần đầu tiên tay vợt 21 tuổi người Cộng hòa Séc giành quyền lọt vào chung kết một giải Grand Slam; thứ nữa với vị trí hạt giống số 8 khi bước vào giải đấu, cô được xem là một “ngựa ô” chứ không phải là ứng cử viên vô địch.  

Sau một tiếng rưỡi thi đấu với hạt giống số 4 Ma-ri-a Sa-ra-pô-va, có thể nói, chiến thắng hoàn toàn xứng đáng dành cho Vi-tô-va. Nhìn lại trận đấu, rõ ràng, lối đánh thiên về thể lực, đầy mạnh mẽ của Sa-ra-pô-va đã không phát huy hiệu quả trước một tay vợt có phong cách thi đấu tương tự. Không những thế, bằng những cú dứt điểm chéo sân có độ chính xác cao, Vi-tô-va còn khiến “búp bê Nga” luôn bị đặt vào tình thế phải căng mình chống đỡ. Lối chơi mạnh mẽ với những cú đánh tay trái đầy uy lực cộng với những pha mắc lỗi của Sa-ra-pô-va trong những thời điểm quyết định nhất đã giúp Vi-tô-va dễ dàng giành chiến thắng 6-2 và 6-4.

Với chức vô địch Wimbledon 2011, Vi-tô-va đã bỏ túi số tiền thưởng 1,1 triệu bảng Anh và hứa hẹn sẽ tăng nhiều hạng trên bảng xếp hạng WTA sắp công bố. Nhưng quan trọng hơn, Vi-tô-va đã thực hiện đúng lời khuyên của thần tượng hồi bé là huyền thoại quần vợt người Mỹ gốc Séc Mắc-ti-na Na-ra-ti-lô-va: “Cô có thể trở thành bất kỳ ai nếu cô muốn”.

Pê-tra Vi-tô-va sinh ngày 8-3-1990 tại thị trấn Bilovec (Tiệp Khắc, ngày nay thuộc Cộng hòa Séc) trong một gia đình không có ai theo nghiệp thể thao. Người cha của Pê-tra Kvitova là người đầu tiên đưa cô đến với môn quần vợt. Ki-tô-va bắt đầu chơi quần vợt chuyên nghiệp vào năm 2006, song cái tên của cô bắt đầu được chú ý vào năm 2008 khi cô đánh bại tay vợt số 1 lúc đó là Vê-nớt Uy-li-am tại Cellular South Cup. Tuy nhiên, ở các giải đấu Grand Slam, cô vẫn chỉ đạt được những thành tích khiêm tốn: Roland Garros (lọt vào vòng 4 năm 2008, 2011), Mỹ mở rộng (lọt vào vòng 4 năm 2009), Ốt-xtrây-li-a mở rộng (tứ kết năm 2011). Wimbledon 2011 là lần đầu tiên Vi-tô-va tham dự giải Grand Slam tổ chức tại nước Anh và thật lạ lùng, cô đã giành chức vô địch.

Kì lạ hơn, Vi-tô-va một công dân Séc lại tiếp nối nhiệm vụ chấm dứt những triều đại nhàm chán tại Wimbledon đơn nữ. Năm 1998, đồng hương của Vi-tô-va là Gian-na Nô-vốt-na đăng quang, đặt dấu chấm hết cho chuỗi ngày thống trị của huyền thoại người Đức Xtê-phi Grát. Và vào 2011, Pê-tra Vi-tô-va chơi một trận chung kết thăng hoa trước đàn chị Sa-ra-pô-va đang có phong độ tốt, và rồi trở thành nhà vô địch Wimbledon sau quãng thời gian 2000-2010 chị em nhà Uy-li-am thay nhau thống trị với 9 chức vô địch.

Ngày Vi-tô-va đăng quang chức vô địch Grand Slam đầu tiên hai tay vợt nổi tiếng một thời của Séc là Mắc-ti-na Na-ra-ti-lô-va và Gian-na Nô-vốt-na đều đến dự. Người ta hy vọng, chức vô địch Wimbledon 2011 sẽ là bước khởi đầu để Vi-tô-va nối tiếp thần tượng Na-ra-ti-lô-va bước vào danh sách các huyền thoại quần vợt với vô số danh hiệu lớn chứ không phải là một đối thủ đáng gờm nhưng chỉ có một danh hiệu Grand Slam như Nô-vốt-na.

                                                                             HÀM ĐAN


Thứ Ba, 28 tháng 6, 2011

THỜI ĐÀM (XI): "THOÁT XÁC"!


 
- Tôi đã đọc nhiều sách, báo nói về “bếp núc” của nhà văn, và thấy rằng làm nhà văn thật khó, lắm gian nan. Chỉ sướng các ông phê bình như anh, chỉ đợi tác phẩm ra đời là phán!

- Sướng cái nỗi gì! Khổ lắm, vất vả lắm.

- Thế thì anh kể khổ đi.

- Nói cho rõ công việc mà tôi đang làm thì dài lắm!

- Nếu dài quá thì anh cứ nói về điểm khởi đầu xem nào?

- Đành mượn lời nhân vật Táo quân mà anh Hiệp “gà” thủ vai trong cuộc thi Táo Idol Tết vừa rồi để nói về việc đầu tiên của nhà phê bình vậy, đó là phải “thoát xác”!

- ?

- Người đọc ngây thơ thích theo dõi kết thúc câu chuyện. Họ bị cuốn vào câu chuyện nên ngộ nhận về giá trị của tác phẩm chỉ được gói gọn ở ý nghĩa câu chuyện được nhà văn “giăng” sẵn. Riêng với nhà phê bình, dù nội dung câu chuyện có xúc động đến mấy, họ cũng phải tỉnh táo, cần phải “thoát xác”, tạm quên đi nội dung câu chuyện, để “đọc sâu” tìm ra các nghĩa khác của tác phẩm.  

- Thật ấn tượng nhưng cũng thật... trừu tượng. Đề nghị anh cho ví dụ minh họa!

- Lấy tác phẩm nổi tiếng mà nhiều người đã đọc là truyện ngắn Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Có hai luồng ý kiến, kẻ khen hết mức, người chê cũng không tiếc lời. Tôi không ở bên nào trong cuộc tranh luận vô bổ đó. Cánh đồng bất tận là truyện ngắn có giá trị nhưng không phải là tuyệt tác như nhiều người tung hô vì kĩ thuật truyện ngắn đó đã rất cũ, ít nhất cách đây một thế kỷ và triết lý nhân-quả trong truyện không có gì đặc sắc. Về phía những người chê, một là họ cắt nghĩa nội dung thông qua lăng kính đạo đức (ở đây là đạo đức Nho giáo) và thích đối sánh hiện thực trong truyện ngắn với đời thực. Cho nên, họ mới phê phán yếu tố sex trong truyện và cho rằng tác giả đã cố tình bôi đen hiện thực. Riêng tôi, tôi phân tích nghĩa truyện ngắn theo phương pháp phân tâm học: Một khi con người thiếu các cơ chế kiểm soát cái vô thức thì những hành động bản năng thiếu nhân văn sẽ trỗi dậy hủy hoại chính cuộc sống con người. Tôi không nói cách phân tích của tôi là duy nhất đúng vì còn nhiều phương pháp khác và mỗi phương pháp phê bình có “đường đi” riêng; song chí ít hướng phê bình của tôi gợi ra một lớp nghĩa ngầm ẩn của tác phẩm mà nếu đọc theo cách “tiêu dùng” sẽ không phát hiện ra. Anh đã thấy chưa, nếu không tỉnh táo “thoát xác”, thể nào tôi cũng ngả về một trong hai phe nói trên. 

- Tôi theo dõi dư luận quanh Cánh đồng bất tận và nhận ra đâu chỉ có người đọc bình thường, ngay cả các nhà phê bình cũng chia là hai phe đó thôi?

- Không chỉ có mỗi vụ Cánh đồng bất tận, nhiều vụ tranh cãi trên văn đàn cũng có hiện tượng như anh đề cập. Nhiều người mang tiếng là nhà phê bình văn học nhưng thực ra chẳng thể “thoát xác”, họ vẫn say sưa bình tán về cái nghĩa bề mặt của tác phẩm, cái nghĩa chìm để nhà phê bình diễn giải thì các ông ấy lại bỏ qua. Đấy là những thầy bói phán bừa. Nhưng có nhóm khác kinh hơn, họ thừa biết giá trị thực của tác phẩm, nhưng vì một động cơ nào đó khiến nó nghĩ một đằng nhưng viết ra lại một nẻo.

- Tức là các nhà phê bình nọ không trung thực, thiếu đạo đức nghề nghiệp?

- Chứ còn gì nữa! Tôi thấy thật lạ, cái lĩnh vực phê bình văn học nó chỉ quan tâm đến tác phẩm, chứ nó có “nhạy cảm” như các thể loại khác đâu mà người ta không dám viết như những gì mình nghĩ. Còn nhiều trò khác thiếu lương thiện khác như: xuất hiện thật nhiều trên các phương tiện truyền thông để nổi tiếng, viết một đống sách về các đề tài cũ với phương pháp cũ để nhanh có công trình khoa học... Trong khi, công việc của nhà phê bình là ngồi làm việc, viết bài viết sáng tạo trên những cơ sở lý thuyết vững chắc. Tiếc là số người đó quá ít.

- Vậy, anh làm việc thế nào giữa cái đám phê bình bất tài và cơ hội như anh mới nêu ra, thỉnh thoảng họ có “chọc” anh không?

Việc của tôi, tôi cứ làm thôi. Thỉnh thoảng mấy nhà phê bình “đao búa” có gây sự thì giữ im lặng, coi như họ không tồn tại. Quan trọng nhất vẫn là ngồi làm việc, để đạt được sự tập trung và đỡ mất thời giờ thì không dây dưa gì với mấy vị đó, phải “thoát xác”!

HOÀNG BÌNH PHƯƠNG

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2011

CÙNG BÀN LUẬN (II): BẢO VỆ LÀNG CỔ

Làng Cự Đà (xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội) được các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước đánh giá là ngôi làng cổ có giá trị kiến trúc hàng đầu ở Bắc bộ, đại diện cho vẻ đẹp từ sự giao thoa văn hóa Việt-Pháp đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, trong mấy tháng đầu năm 2011, ngôi làng cổ này gần như đã bị xóa sổ. Theo ông Vũ Văn Bằng, cán bộ phụ trách văn xã của xã Cự Khê, thì trong khoảng thời gian chưa đầy 4 tháng, 80/100 ngôi nhà cổ có “tuổi thọ” trên dưới một thế kỷ đã bị phá hủy để nhường chỗ cho các ngôi nhà hiện đại.

Trong xu thế đô thị hoá, 80% diện tích đất canh tác của xã Cự Khê được thu hồi cho dự án khu đô thị mới, biến những người dân quê quanh năm lam lũ trở thành các tỷ phú. Do chỗ ở chật chội cộng với sự thiếu hiểu biết về giá trị di tích và sẵn tiền trong tay, nên người dân nhanh chóng phá các ngôi nhà cổ để xây nhà cao tầng khang trang. Chính quyền xã không thể ngăn cản vì làng Cự Đà chưa được công nhận Di tích lịch sử-văn hóa nên không thể cấm người dân “đổi cũ lấy mới”.

Sự biến mất của nhiều ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi ở làng Cự Đà là lời cảnh báo cấp thiết cho việc bảo tồn các di sản văn hóa vật thể ở nước ta vốn tồn tại nhiều bất cập. Riêng Hà Nội vẫn còn một vài làng cổ như làng Cựu (huyện Phú Xuyên), làng Cốc Thôn (huyện Ba Vì)… nhưng cũng đang đứng trước nguy cơ "đô thị hóa". Để tránh lặp lại những gì xảy ra với Cự Đà, các cơ quan quản lý di sản cần nhanh chóng rà soát hiện trạng từng làng cổ và tiến tới công nhận những ngôi làng có giá trị lịch sử-văn hóa theo đúng các tiêu chí mà Luật Di sản Văn hóa đã quy định. Bên cạnh đó, cần khẩn trương lập các phương án trùng tu để các ngôi nhà tiếp tục trụ vững trước sự tàn phá của thời gian, giữ gìn tối đa những yếu tố nguyên gốc của di tích.

Ngoài ra, không thể xem nhẹ công tác vận động, tuyên truyền cho người dân biết rõ giá trị lịch sử-văn hóa của ngôi nhà cổ mà họ đang sở hữu, từ đó có trách nhiệm với di tích. Dĩ nhiên, cần có chính sách hỗ trợ thiết thực. Chẳng hạn, với những làng cổ có mật độ dân số cao, chính quyền địa phương cần sử dụng quỹ đất nhằm giãn dân theo phương châm “lấy đất đổi đất” để người dân giải quyết nhu cầu chỗ ở, yên tâm giữ nhà cổ cho thế hệ mai sau.

Giữ gìn nguyên vẹn các làng cổ, giá trị lịch sử-văn hóa sẽ được phát huy. Thông qua việc phát triển dịch vụ du lịch có thể góp phần tích cực thay đổi cơ cấu kinh tế địa phương.

HÀM ĐAN

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

LỐI SỐNG Ở CHUNG CƯ MỚI: ĐAN XEN NẾP CŨ

Khi những tòa nhà chung cư mọc lên như nấm, dư luận thường chú ý đến những vấn đề về chất lượng xây dựng, phòng chống cháy nổ, phí dịch vụ… mà dường như ít quan tâm đến những biến chuyển nếp sống một cách căn bản bên trong loại hình kiến trúc này.

Riêng một “góc trời”…

Chẳng cần sống ở nông thôn cũng dễ dàng nhận ra “tình làng nghĩa xóm” (nói theo khoa văn hóa học là tính cộng đồng) của người Việt quá bền chặt. Có được tính cộng đồng cao như vậy là nhờ tổ chức nông thôn theo hai hình thức chính là địa bàn cư trú (xóm và làng) và theo nghề nghiệp (gọi là phường). Đô thị ở Việt Nam luôn bị “nông thôn hóa” cho nên tính cộng đồng ít bị mai một. Đến ngay những khu tập thể kiểu cũ vẫn còn tồn tại đến ngày nay thì y như một làng: Bếp ăn tập thể, bể nước công cộng, thùng rác chung… Mọi nhà, chí ít trong cùng một hành lang hay một tầng đều quen biết nhau, sống cộng đồng (trông nhà, cho quà…).

Nhưng tính cộng đồng gần như biến mất ở chung cư mới nằm trong các khu đô thị mới đang xuất hiện ngày càng nhiều. Nguyên nhân trước tiên là do đặc trưng về thiết kế của các nhà chung cư mới. Trong một căn hộ có đầy đủ tiện nghi khép kín khiến người ta không có việc gì phải ra ngoài, thậm chí những thứ như sách báo và thức ăn vặt… nếu cần chỉ gọi điện là có người mang đến. Những công việc điều hành, quản lý chung cư như sửa chữa thiết bị hư hỏng, an ninh đến việc chứng thực chất lượng nước đã có tổ hoặc xí nghiệp quản lý (thường là nhân viên của các chủ đầu tư) đứng ra nhận trách nhiệm nên người dân không phải nhờ vả lẫn nhau.

Song, quan trọng hơn, tính cộng đồng phai dần trong các chung cư mới là do không còn được tổ chức theo hai hình thức của tổ chức nông thôn truyền thống. Những người sống trong chung cư nhiều khi có thể hợp lại thành một “Liên hiệp quốc” thu nhỏ. Người mua nhà chung cư mà toàn là dân nhập cư đến nên giữa những người dân không có mối liên hệ nào như ở làng. Đồng thời, mỗi người có nghề nghiệp khác nhau phi nông nghiệp, lịch sinh hoạt đa dạng khiến họ không mấy có sự giao tiếp. Vậy nên mới có chuyện một ông ở nhà 702 thấy một gia đình đang chuyển đồ đạc xuống sân chung cư để đi ở nơi khác thì hỏi bảo vệ: “Nhà nào đang chuyển đi?” Bảo vệ trả lời: “Nhà 704”. Ông ở nhà 702 mới biết rõ mặt mũi hàng xóm sát vách mấy năm qua và biết sắp sửa có hàng xóm mới!    

Phải chờ đến những sự kiện liên quan đến cộng đồng như Ngày Quốc tế Thiếu nhi… mới quy tụ được đông dân cư vào cùng một địa điểm. Nhưng nếu hoạt động của các tổ chức đoàn thể và các câu lạc bộ trong chung cư ít duy trì, cộng với việc thiếu các không gian công cộng như sân chơi, nhà văn hóa... thì cơ hội kết nối các cư dân gần như bằng không.

Vậy là, trong các chung cư mới lối sống bám chặt vào tính cộng đồng truyền thống đã nhạt đi thay cho tính cá nhân của thời hiện đại. Khó có thể đánh giá lối sống thiên về cá nhân trong chung cư mới là tốt hay xấu, vì lẽ nó hợp với từng người. Người quen sống bao bọc trong tình cảm bà con hàng xóm, không chịu được cô đơn thì sẽ không thích hợp. Nhưng, lối sống thiên về cá nhân lại hợp với người có nhịp sống công nghiệp, thích tự do trong “góc trời” của mình.

Chưa hình thành lối sống mới

Về bề sâu, lối sống và cách nghĩ của mẫu hình con người làng xã tồn tại ngàn năm ngấm sâu trong tiềm thức vẫn chưa mất hẳn ở cách sống cư dân chung cư hiện đại.

Lối sống chung cư mới là lối sống chuộng tự do cá nhân. Nhưng không mấy người hiểu sự tự do của mình chỉ có được khi biết tôn trọng tự do của người khác. Những thói quen tùy tiện, nhiều khi ích kỷ không theo những cách ứng xử văn minh vẫn đầy rẫy ở ngay những chung cư được công nhận là “kiểu mẫu”. Có nhiều chị em sống trong chung cư mà đi guốc bằng… gỗ, những âm thanh chát chúa vào giữa đêm khuya khiến không chỉ người sống ở nhà dưới lỡ làm việc khuya đành nhét tai nghe vào tai. Văn hóa sống tập thể quá kém của con người làng xã vẫn là phổ biến khi rác, nước thải… vẫn cứ “phi” xuống những tầng dưới. Để hình thành lối sống văn minh, nhiều chung cư đã ban hành quy chế quản lý, song sống theo quy chế hay không lại là chuyện khác.

Bản thân bên trong mỗi căn hộ, những nếp nghĩ truyền thống vẫn còn hiện hữu, như cách bài trí. Nhà ở truyền thống trong nếp nghĩ của người Việt phải là “nhà cao cửa rộng”, cùng với đó là các đồ nội thất càng to (và càng đắt tiền) mới chứng tỏ đẳng cấp của chủ nhân. Sống trong chung cư với diện tích hạn hẹp nhưng cách bài trí vẫn theo lối kiến trúc nhà biệt thự hoặc nhà liền kề với “sập gụ, tủ chè” hoành tráng chiếm hết diện tích nên nhiều căn hộ không khác gì… nhà kho. Ở nước ngoài, chủ nhân thường phải thuê những người chuyên thiết kế nội thất bài trí đồ đạc trong căn hộ. Lối thiết kế thịnh hành nhất của các căn hộ chung cư vẫn theo phong cách tối giản với những đồ nội thất sản xuất theo lối công nghiệp khá rẻ. Ví dụ, giường ngủ không mua sẵn mà phải đóng bằng các loại gỗ tổng hợp và gầm giường biến thành các ngăn kéo đựng quần áo, chăn màn; cho nên, một căn hộ chung cư đôi khi sẽ không cần đến tủ quần áo kềnh càng. Ngay cả việc đơn giản như đèn trang trí cũng thường chọn loại đèn áp trần bởi trần căn hộ chung cư không cao. Các đồ đạc khác cần nhẹ và dễ tháo lắp để dễ di chuyển trong một không gian chật hẹp.

Những ví dụ trên cho thấy các cư dân sống ở chung cư hiện đại cần phải thay đổi tư duy, hình thành nếp sống văn minh hơn để thích nghi với không gian sống hiện đại như chung cư mới.

HÀM ĐAN

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

"NGUYỄN TRÃI ĐÁNG ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ LÀ ĐẠI THI HÀO"

Năm 2010, nhà thơ Nguyễn Đỗ (hiện định cư tại Mĩ) và nhà thơ Paul Hoover (Giáo sư sáng tác văn học, Đại học California, Mỹ) đã chung tay dịch tuyển thơ Nguyễn Trãi (1380-1422) sang tiếng Anh với nhan đề Beyond the Court Gate (Rời xa triều đình) do Counterpath Press (Mỹ) ấn hành. Cuối tháng 5 vừa qua, bộ đôi này đã đi xuyên Việt 10 ngày để giới thiệu tập thơ đến bạn đọc Việt Nam tại Hà Nội, Nghệ An, Quảng Ngãi và TP Hồ Chí Minh.

1. Trước khi trình làng tập thơ Beyond the Court Gate, Nguyễn Đỗ-Paul Hoover (Pôn Hu-vơ) đã cùng nhau thực hiện tuyển thơ tiếng Anh của các nhà thơ Việt Nam đương đại mang tên Black dog, Black night (Chó mực, đêm đen) do Milkweed Editions (Mỹ) xuất bản năm 2008. Tập thơ Black dog, Black night là bước đột phá trong việc đưa văn học Việt Nam ra thế giới vì lẽ đây là tập thơ đầu tiên được chuyển ngữ nhằm mục đích thương mại hóa (18 USD/cuốn) và đã thành công với lượng tiêu thụ khả quan; đồng thời được đánh giá cao khi tạp chí thơ Coldfront (Mỹ) uy tín bình chọn là tuyển thơ xuất sắc nhất năm 2008 của nước Mỹ

Theo cách suy nghĩ logic, sau Black dog, Black night thì việc thực hiện Beyond the Court Gate là một sự nối tiếp “thừa thắng xông lên”; song, nhà thơ Nguyễn Đỗ đã phủ nhận điều này. Ông cho biết: Khi còn ở Việt Nam, ông đã thích thơ Nguyễn Trãi. Năm 2003, ông gặp lại một người bạn thân là nhà thơ Hoàng Hưng lúc đó đang ở Mỹ dự một hội thảo về thơ. Cả hai đã cùng nhau đọc lại thơ Nguyễn Trãi: “Trưa Cali thơ Nguyễn Trãi lặng người” (tập thơ Hành trình của Hoàng Hưng-Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội 2006). Nguyễn Đỗ đã quyết chí dịch thơ Nguyễn Trãi dù lúc đó trình độ tiếng Anh của Nguyễn Đỗ chưa thật tốt, vì ông tin ở một quan niệm khá cực đoan: Chỉ có nhà thơ mới có thể dịch được thơ! Qua Hoàng Hưng, Nguyễn Đỗ gặp Paul Hoover-nhà thơ hậu hiện đại hàng đầu của Mỹ. Cả hai nhanh chóng đạt được đồng thuận để giới thiệu thơ Việt Nam ra thế giới.

2. Việc dịch thơ đã khó, dịch thơ trung đại như thơ Nguyễn Trãi càng khó gấp đôi. Ngoài chuyện khác biệt về ngôn ngữ, còn là sự khác biệt về văn hóa. Nhiều trường hợp dịch thơ trung đại Việt Nam đã không thoát được sự rườm rà của chú thích nên chưa làm rung động bạn đọc nước ngoài. Chỉ đến khi bác sĩ-dịch giả lỗi lạc Nguyễn Khắc Viện dịch Truyện Kiều (NXB Thế giới, 1965) sang tiếng Pháp mới thoát khỏi “rừng” điển tích để có một văn bản dịch Truyện Kiều thanh thoát, được công nhận là một bản dịch xuất chúng. Có thể xem Nguyễn Đỗ như là người nối tiếp cách chuyển ngữ trên. Dù tác phẩm nào, Nguyễn Đỗ đều truyền đạt được “linh hồn” tác phẩm, ông từ bỏ việc chuyển ngữ y sì như nguyên tác vì điều đó chỉ là ảo tưởng!

Sự khó khăn ở dịch thơ Nguyễn Trãi còn vấp phải “chướng ngại vật” về khác biệt về hình thức thể thơ. Tiếng Việt gồm những từ một âm tiết, cùng với việc sử dụng thanh điệu đa dạng tạo ra một tiết tấu hoàn toàn khác với những từ đa âm tiết của tiếng Anh. Vì thế, dịch giả không thể tái lập nhịp của một bài thơ có niêm luật như thơ Nguyễn Trãi (một số âm tiết nhất định cho mỗi dòng, thường là bốn hay năm) mà phải dựa vào nhịp của tư duy và giọng điệu.

Nhiệm vụ của của Paul Hoover là từ văn bản của Nguyễn Đỗ, ông sẽ “sáng tác” lại thành những bài thơ tiếng Anh hay nhất có thể. Một số bài đạt được ngay từ vài phác thảo đầu tiên, những bài khác pahỉ nhiều lần thay đổi. Điều Paul Hoover nhấn mạnh là tìm kiếm mục tiêu của bài thơ, đặc biệt là logic trí tuệ và cảm xúc.

3. Việc hai nhà thơ bắt tay dịch thơ Nguyễn Trãi là sự tự nguyện, chẳng có tổ chức hay cá nhân nào đứng ra bảo trợ công việc trên. Lợi nhuận thu được chỉ trông chờ vào việc bán sách và thù lao thuyết trình (500 đến 2.000 USD). Thật may, việc thuyết trình thơ Nguyễn Trãi rất được chờ đón ở Mỹ như lời Paul Hoover chia sẻ: “Ở Mỹ, chúng tôi đã có nhiều cuộc thuyết trình về thơ Nguyễn Trãi, và công chúng rất thích thông qua các bản dịch tiếng Anh”. Cũng cần nói thêm, chẳng có bất cứ lời mời nào để bộ đôi đến Việt Nam giới thiệu tập thơ, mà việc sang Việt Nam xuất phát từ ý tưởng khá “dị” của Paul Hoover: “Tôi muốn biết đất nước đã sinh ra ông ngày nay có còn biết đến con người của ông, nhất là những bài thơ của ông nữa hay không? Vậy nên, tôi và Nguyễn Đỗ đã đến đây như một cuộc khảo sát từ đó tìm cách truyền bá thơ Nguyễn Trãi một cách hiệu quả hơn”.

Nói ra những điều trên chỉ để phản ánh một thực trạng, việc quảng bá văn học Việt Nam vẫn chỉ là công việc của một số người tâm huyết, trong khi những chuyển động của các cơ quan chức năng vẫn chưa rõ rệt sau cái mốc Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam đầu năm 2010. Dù nền văn học Việt Nam không phải là nền văn học lớn trên thế giới, nhưng các tác phẩm có giá trị vẫn chưa được giới thiệu rộng rãi, và vì thế, vị thế văn học Việt Nam vẫn chưa được nhìn nhận đúng đắn. Lấy ngay ví dụ từ Nguyễn Trãi, Paul Hoover cho rằng, Nguyễn Trãi đáng được công nhận là một đại thi hào ngang tầm với William Shakespeare (Anh) và Đỗ Phủ (Trung Quốc) với một tầm tư tưởng trong thơ mang tính nhân loại, bao trùm mọi thời đại, nhất là tư tưởng nhân dân qua hai câu bất hủ trong bài Quan hải-Ngắm biển (Nguyễn Trãi toàn tập, 1969, Đào Duy Anh dịch): Phúc chu thủy tín dân do thủy/ Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên (Lật thuyền, thấm thía: dân như nước/ Cậy hiểm mong manh: mệnh ở trời). Đáng tiếc, tầm vóc của Nguyễn Trãi chưa được hiểu hết do chưa được dịch sang một ngôn ngữ quốc tế.

Sau tuyển tập Beyond the Court Gate, Nguyễn Đỗ và Paul Hoover sẽ thực hiện dự án “Tổng tập tinh hoa thơ Việt Nam xưa-nay” bao gồm thơ dân gian, thơ cổ điển, thơ hiện đại và đương đại góp phần quảng bá văn học Việt Nam đến với thế giới, đặc biệt là người đọc Mỹ. Dĩ nhiên ai cũng mừng và hoan nghênh việc làm nói trên của hai nhà thơ-dịch giả, nhưng chẳng lẽ chúng ta chỉ hoan nghênh suông thôi sao?

HÀM ĐAN